Hương hồn ngàn thuở rạng trời Nam...

Năm 1471, Phạm Nhữ Tăng là một trong những vị tướng theo vua Lê Thánh Tông trong cuộc Nam chinh bình Chiêm nổi tiếng trong lịch sử của dân tộc. Do trước đó đã lập được nhiều chiến công hiển hách nên Phạm Nhữ Tăng được phong làm Trung quân Đô thống, lãnh ấn tiên phong chỉ huy 10 vạn quân đi trong đợt này.

Năm 1471, Phạm Nhữ Tăng là một trong những vị tướng theo vua Lê Thánh Tông trong cuộc Nam chinh bình Chiêm nổi tiếng trong lịch sử của dân tộc. Do trước đó đã lập được nhiều chiến công hiển hách nên Phạm Nhữ Tăng được phong làm Trung quân Đô thống, lãnh ấn tiên phong chỉ huy 10 vạn quân đi trong đợt này. 

Mô tả ảnh.

Ba miếu thờ cùng với nhà thờ tộc Phạm đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. (Ảnh: M.H.L)

Bình Chiêm thành công, ngày mồng 1 tháng 3 năm Hồng Đức thứ hai (1471), biên giới Đại Việt kéo dài đến núi Thạch Bi (khu vực giáp ranh 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay). Ngày 1 tháng 5, võ tướng Phạm Nhữ Tăng dự lễ mừng chiến thắng tại kinh thành Thăng Long. Tháng 6, vua Lê Thánh Tông chính thức đặt tên cho vùng đất mới mở là phủ Hoài Nhơn, lệ vào Quảng Nam Thừa tuyên. Đất Bình Định chính thức được khai sinh từ đây và võ tướng Phạm Nhữ Tăng chính là một trong những bậc tiền hiền có công lập nên vùng đất Hoài Nhơn - Bình Định. Ngay sau khi Quảng Nam Thừa tuyên được thành lập, Phạm Nhữ Tăng được vua Lê Thánh Tông cử “lưu trấn”, cai quản vùng đất biên cương mới mở của Đại Việt, với chức Quảng Nam Đô thống phủ.

Trong thời gian cai quản vùng đất Quảng Nam, ông là người có công khai hoang, khẩn hóa, lập nên xã Hương Lư cùng 4 làng mang tên Hương An, Hương Quế, Hương Lộc, Hương Yên tại vùng đất Quế Sơn... Ông chăm lo đến việc sản xuất của nhân dân trong vùng với lòng khoan dung đại độ. Nhờ đó, những vùng đất đai hoang vu rộng lớn của xứ Quảng Nam lúc bấy giờ lần lượt được khai phá, dân cư dần dần đông đúc, nhiều làng xã mới được thành lập; nhân dân được sống trong yên ấm, hòa bình, yên ổn, chí thú làm ăn, an cư lạc nghiệp. Chính điều này đã đặt nền móng làm cho xứ Quảng Nam trở thành một phên dậu vững chắc, giúp các Chúa Nguyễn sau này làm bàn đạp mở mang bờ cõi về phương Nam...

Tháng 2 năm Hồng Đức thứ tám (năm 1477), ông chẳng may lâm bệnh và mất tại Đồ Bàn (Bình Định). Thi hài ông được vua cho cải táng đem về chôn cất trọng thể tại làng Hương Quế, cạnh Bàu Sanh và Núi Quế; đồng thời phong cho ông là Thượng đẳng Phúc thần. Bởi vậy, nhân dân địa phương mới có câu: Bao giờ Núi Quế hết cây /Bàu Sanh hết nước, mộ này hết quan.

Theo gia phả của tộc Phạm tại làng Hương Quế (xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) và tư liệu của Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Quế Sơn thì Phạm Nhữ Tăng là cháu 4 đời của Phạm Nhữ Dực. Phạm Nhữ Dực là vị tiền hiền có công vào khai canh, khai cơ vùng đất Quảng Nam nói chung và Quế Sơn nói riêng - con trai thứ 5 của Danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần. Từ năm 1402, Phạm Nhữ Dực đã đến vùng đất Quế Sơn với tư cách là Chánh Đô án Vũ sứ Thăng Hoa lộ, phụ trách vấn đề di dân ở khu vực Quảng Nam - Quảng Ngãi.

Trước ngôi mộ Phạm Nhữ Tăng hiện vẫn còn câu đối của vua Lê Thánh Tông ban tặng: Nghĩa sĩ uẩn cơ mưu, hiệp lực nhất tâm bình Chiêm quốc/ Miếu đài khai tráng lệ, hương hồn thiên cổ hiển Nam bang. Tạm dịch: Nghĩa sĩ lắm mưu cơ, góp sức một lòng bình Chiêm quốc/ Gương đài thêm rạng rỡ, hương hồn ngàn thuở rạng trời Nam.

Do thời gian và tác động của thiên nhiên, chiến tranh, ngôi mộ của ông dần dần hư hỏng, xuống cấp. Nhưng đối với một người có công với quê hương, với đất nước và xuất phát từ tấm lòng tri ân, tôn kính của gia tộc Phạm nên mộ ông đã được trùng tu và sửa chữa nhiều lần vào các năm 1957, 1969, 1996.

Đối diện với ngôi mộ của Phạm Nhữ Tăng là ngôi nhà thờ tộc Phạm do chính tay ông xây dựng dưới thời Hồng Đức. Ngôi nhà thờ được xem là một công trình kiến trúc cổ nhất trong vùng nói riêng và của Quảng Nam nói chung. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, của dòng chảy thời gian, cùng với tác động của thiên nhiên, ngôi nhà thờ đã qua vài lần trùng tu sửa chữa nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính. Ngôi nhà thờ được xây dựng theo bố cục một gian, hai chái; mái lợp ngói âm dương, bờ nóc trang trí “lưỡng long tranh châu”, các bờ mái trang trí chim phượng và hoa lá cuốn cách điệu...

Đây là nơi thờ cúng các bậc tiền nhân, lưu giữ gia phả của tộc họ và 6 tờ sắc phong từ các đời vua Lê và chúa Nguyễn; trong đó có đại ấn “Chế mạng chi bửu” của vua Lê Thánh Tông và “Chế mạng chi bửu” của vua Lê Thần Tông ban tặng cách đây gần 6 thế kỷ... Bên cạnh nhà thờ tộc Phạm về phía bên trái là ba miếu thờ nhỏ thờ các tượng thần Champa bằng đá sa thạch; cạnh đó là một tấm bi ký Chăm cao khoảng 1,7m và rộng khoảng 0,9m...

Hiện nay, Lăng mộ Phạm Nhữ Tăng đã được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh vào ngày 13-2-2006; Nhà thờ tộc Phạm và ba miếu thờ đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh vào ngày 8-2-2007.

MAI HỒNG LÂM