Hướng giải tỏa nỗi bức xúc ở ngoại thành: Cơ chế hoạt động rõ trách nhiệm (Tiếp theo và hết)
3 yếu tố “cần” cho vấn đề xử lý rác thải nông thôn được nhấn mạnh trong Đề án “Chủ trương, giải pháp thu gom xử lý chất thải rắn ở nông thôn trên địa bàn thành phố đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” là: quy hoạch quy mô và địa điểm xử lý tập trung; mô hình, cơ chế tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý; áp dụng công nghệ xử lý phù hợp
3 yếu tố “cần” cho vấn đề xử lý rác thải nông thôn được nhấn mạnh trong Đề án “Chủ trương, giải pháp thu gom xử lý chất thải rắn ở nông thôn trên địa bàn thành phố đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” là: quy hoạch quy mô và địa điểm xử lý tập trung; mô hình, cơ chế tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý; áp dụng công nghệ xử lý phù hợp. Nhưng trong điều kiện thực tế của các địa phương, làm thế nào để có thể “áp dụng” những giải pháp này nhanh, hiệu quả?
Bản đồ quy hoạch bãi rác nông thôn
Cần quy hoạch hệ thống bãi rác nông thôn tương xứng với dự báo, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các huyện - đây là ý kiến của Phó chủ tịch UBND huyện An Lão Nguyễn Văn Thông. Theo ông Thông, việc thu gom, xử lý rác rải thải nông thôn cần chú trọng thực hiện song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, việc thu gom, xử lý rác thải nông thôn hiện chưa theo kịp sự phát triển địa phương, không được quy hoạch, xử lý. Các cụm công nghiệp được xây dựng, đi vào hoạt động nhưng việc quy hoạch, xử lý rác thải không được đề cập.
Các bãi rác xây dựng tự phát không đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng và điều kiện vệ sinh môi trường. Đáng lo “mặt độ” bãi rác thải không đủ điều kiện lại rất dày đặc. Huyện Kiến Thụy có 30 bãi rác với tổng diện tích tới 128.526m2; huyện Vĩnh Bảo, mỗi xã có bãi chôn lấp 500-1000m2; huyện An Lão có 7 điểm. Chỉ riêng xã An Tiến (An Lão) có tới 3 bãi chôn lấp rác thải. Bãi rác nhỏ lẻ, phân tán, không được xây dựng, xử lý đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, gây ô nhiễm tạo nên tâm lý “ác cảm” của người dân với dự án xây dựng bãi rác của người dân. Phó trưởng Phòng Tài nguyên-Môi trường huyện An Lão Nguyễn Thị Tuyết cho biết: Bãi rác của huyện xây dựng ở bến Nức (xã An Tiến) hiện quá tải, huyện phải tìm địa điểm tập kết, chôn lấp khác. Một số địa điểm được chọn như ở xã Trường Thành, Trường Thọ,…Tuy nhiên, khi tổ chức thảo luận, lấy ý kiến của người dân về dự án đều nhận được những ý kiến không đồng thuận.
Để làm công việc này, các ban, ngành chức năng quy hoạch xây dựng bãi rác tập trung quy mô lớn, loại bỏ dần những bãi rác nhỏ, lẻ ở các xã. Các xã chỉ nên bố trí các ga trung chuyển rác. Các khu xử lý chất thải rắn phải được xây dựng đúng quy định, theo quy hoạch được duyệt, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Tự chủ thu gom nhưng cần hỗ trợ

Hội viên tổ thu gom rác thôn Đốc Hàng, xã Toàn Thắng (Tiên Lãng) thu gom rác trên tuyến đường làng.
Tự chủ thu gom, xử lý rác là cách thức hoạt động phổ biến nhất hiện nay ở khu vực ngoài thành. Tại cuộc tham vấn về đề án thu gom, xử lý rác thải ở nông thôn ở huyện An Lão, Phó chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Thị Nghĩa nhận xét: các địa phương quan tâm vấn đề thu gom rác thải nông thôn, như dành đất làm bãi rác, tổ chức thu gom, hoạt động này đem lại kết quả bước đầu, ý thức vệ sinh môi trường của người dân được nâng lên. Kế thừa kết quả đạt được, thực hiện đề án, việc xã hội hóa thu gom rác thải ở khu vực nông thôn được khuyến khích thực hiện. Nhưng trước sự gia tăng lượng rác thải hiện nay, việc tự chủ thu gom rác thải nông thôn cần có cơ chế hoạt động mới. Chủ trương này nhận được sự đồng tình của người lao động và chính quyền địa phương.
Trưởng thôn Khúc Giản, xã An Tiến (An Lão) Nguyễn Văn Nhường cho biết: do đặc thù nông thôn đường làng ngõ xóm nhỏ hẹp 1,5-2m chỉ phương tiện xe cải tiến đi được; đồng thời nên sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ, bởi việc này liên quan ý thức trách nhiệm của người dân, qua đó tạo thuận hơn cho việc tuyên truyền, vận động, nhắc nhở người dân chấp hành các quy định về vệ sinh môi trường. Theo Hạt trưởng Hạt quản lý đường bộ huyện Kiến Thụy Vũ Văn Thiết, sử dụng nguồn lực tại chỗ là giải pháp phù hợp hoạt động thu gom rác thải khu vực nông thôn hiện nay. Cần có biện pháp khai thác triệt để nguồn nhân lực này. Các xã tổ chức thu gom và hạt quản lý đường bộ có nhiệm vụ vận chuyển, tập kết rác thải. Mỗi huyện cần có bãi rác riêng và tổ chức xử lý tại chỗ; các xã chỉ nên có ga rác. Hạt quản lý đường bộ cần được nâng cấp thành doanh nghiệp.
Để nâng cao hiệu quả mô hình tự chủ thu gom rác cần có cơ chế hỗ trợ kinh phí, phương tiện hoạt động phù hợp. Mỗi năm, cần quy định cụ thể mức chi ngân sách của các địa phương cho hoạt động này. Bên cạnh đó, có cơ chế đối với kinh phí tổ chức hoạt động và chế độ cho người lao động. Để nâng cao năng lực thu gom, xử lý rác thải khu vực nông thôn cần có cơ chế hỗ trợ đối với người lao động trực tiếp làm công việc thu gom rác. Bác Đồng Xuân Tươi, người thu gom ở thôn An Luận, xã An Tiến (An Lão) có ý kiến: Công việc của chúng tôi không rõ là làm dịch vụ hay công ích. Chúng tôi phải tự lo toàn bộ trang thiết bị, phương tiện, quần áo bảo hộ, xe cải tiến để chở rác. Mức lương trả người lao động trực tiếp rất thấp, 320-500 nghìn đồng/người/tháng. Ngoài lương người lao động không nhận được chế độ trợ cấp nào khác nên ít người gắn bó lâu dài công việc này. Cần có một đầu mối tổ chức thực hiện, quy định chế độ cụ thể về vấn đề này.
Hành lang pháp lý rõ ràng
Mục tiêu của đề án tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước đối với rác thải nông thôn. Để đạt mục tiêu này cần có sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng đối với hoạt động quản lý, xử lý rác thải; cần xác định rõ trách nhiệm cơ quan liên quan. Nhưng theo đề án, việc phân công trách nhiệm quản lý, xử lý rác thải vẫn còn những băn khoăn. Theo đề án, việc quản lý rác thải nông thôn hiện vẫn do chính quyền địa phương tự lo; các ngành tư vấn, hỗ trợ chuyên môn. Ví dụ, Sở Tài nguyên-Môi trường hướng dẫn kỹ thuật về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế rác thải; thu thập các số liệu liên quan đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp xử lý đối với khu, cụm công nghiệp, làng nghề và trang trại, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp ban quản lý các khu kinh tế, UBND các huyện và các ngành, đơn vị liên quan có trách nhiệm nghiên cứu hỗ trợ các doanh nghiệp và các chủ nguồn thải thực hiện kế hoạch ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải, thúc đẩy áp dụng sản xuất sạch hơn; Sở Y tế chịu trách nhiệm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế xã, huyện thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý và xử lý chất thải y tế,…Nhưng thời gian qua, dù có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, việc phối hợp liên ngành trong các công đoạn quản lý rác thải nông thôn còn kém hiệu quả. Đề án chưa đưa ra được hướng khắc phục hạn chế này. Việc quản lý rác giao cho huyện, xã thực hiện đạt kết quả trong công tác xã hội hóa, song mới ở khâu thu gom, tập kết rác còn việc xử lý rác phải tuân thủ những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường. Tuy nhiên, các huyện còn thiếu các biện pháp và hệ thống chế tài hiệu quả để có thể khuyến khích các tổ chức, cá nhân, đơn vị tham gia vào lĩnh vực này; nên khó tiếp cận các cơ sở cung cấp dịch vụ xử lý rác thải, nhất là đối với rác thải độc hại. Do đó, phải có sự định hướng của các ngành chức năng cũng như cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp vào cuộc. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc tổ chức quản lý, xử lý rác thải của các địa phương, doanh nghiệp khu vực ngoại thành. Nhưng với sự phân công hiện nay chưa thể xác định cơ quan nào làm nhiệm vụ này. Để tập hợp nguồn lực, đồng thời giám sát việc tổ chức thực hiện ở các địa phương và đơn vị, một số tỉnh, thành phố giao ngành chức năng quản lý và đạt kết quả bước đầu. Tại Hà Nội, Sở Tài nguyên-Môi trường là cơ quan đầu mối quản lý, tổ chức thực hiện. Tại Vĩnh Phúc là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,…
Nghị quyết HĐND thành phố xác định mục tiêu thu gom, xử lý rác thải khu vực nông thôn, đến năm 2015: thu gom xử lý 70% lượng chất thải sinh hoạt; 70% tại các làng nghề; 70% lượng chất thải rắn nguy hại công nghiệp, 80% chất thải rắn nguy hại y tế và 90% chất thải rắn công nghiệp không nguy hại. Đến năm 2020 sẽ là 90% lượng chất thải rắn; 90% chất thải các làng nghề và 100% chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn nguy hại y tế được thu gom và xử lý theo quy định. Cần có chính sách phù hợp cùng cách thức tổ chức hợp lý mới có thể sớm tháo gỡ những vướng mắc, khắc khó khăn trong quản lý, xử lý rác thải nông thôn hiện nay, sớm hoàn thành mục tiêu đề ra./.
Nhóm PV Môi trường