“Hòn vọng phu” giữa đời thường
Suốt 41 năm nay, có một người phụ nữ sống “một mình đơn bóng” đợi chờ người mình yêu với niềm tin mãnh liệt. Ngày nào cũng vậy, dù nắng hay mưa, ngày tết hay ngày thường, trên mâm cơm đạm bạc của bà bao giờ cũng có 2 chiếc bát và 2 đôi đũa, một dành cho bà và một dành cho “người ấy”. Bà là Hà Thị Hưởng, 71 tuổi đời, 45 tuổi Đảng, ở khu dân cư Vườn Quốc gia Cát Bà, huyện Cát Hải.
Giỏi việc nước
Những câu chuyện về bà qua lời kể của ông Hoàng Văn Hùng, Bí thư chi bộ khu dân cư Vườn Quốc gia Cát Bà, thôi thúc tôi tìm đến bà. Và cuộc gặp mặt diễn ra trong một hoàn cảnh buồn, khi bà đang nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa Cát Bà. Có lẽ cuộc sống của bà chỉ còn đếm từng ngày bởi căn bệnh ung thư giai đoạn cuối quái ác đang thường xuyên rình rập và có thể đưa bà đi bất cứ lúc nào…Câu chuyện giữa chúng tôi thỉnh thoảng bị ngắt quãng do sự xúc động của bà, nhưng vượt qua cơn đau dày vò bà kể cho chúng tôi nghe về mối tình thiêng liêng và cảm động ấy.
Hưởng ứng phong trào đi khai phá, xây dựng Lâm trường Cát Bà (nay là Vườn Quốc gia Cát Bà), năm 1962 cô nữ thanh niên Hà Thị Hưởng (lúc đó 25 tuổi) ở xã Trân Châu, tình nguyện đăng ký đi theo tiếng gọi xây dựng quê hương. Cô được bổ sung vào đội thanh niên tự vệ của lâm trường. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc, công việc của cô và của bao thanh niên tình nguyện khác đi xây dựng lâm trường lúc bấy giờ là bảo vệ đảo, bảo vệ cơ sở chính quyền của huyện Cát Bà (cũ) sơ tán về đó. Bên cạnh đó là nhiệm vụ chăn nuôi, sản xuất lương thực, thực phẩm. Công việc thật vất vả, bởi hầu hết công việc chỉ dùng sức người với dụng cụ thô sơ để chinh phục thiên nhiên, xây dựng nông lâm trường. Tuy vậy, cô và các đồng đội vẫn không quản ngại ngày đêm, vượt mọi khó khăn, thiếu thốn để hoàn thành nhiệm vụ. Với những thành tích đó, cô Hà Thị Hưởng đã được vinh dự kết nạp vào Đảng…
Mối tình cảm động
Cũng chính trong những ngày gian khó, vất vả nhưng tràn ngập tinh thần “cả nước vì tiến tuyến lớn” ấy, bà đã gặp một nửa của đời mình. Bà Hưởng nhớ lại: Đó là giữa năm 1967, trong một lần đi qua khu Trung Trang- nơi đóng quân và luyện tập của của bộ đội hải quân, tình cờ bà đã gặp ông. Qua câu chuyện vội vàng và hết sức tình cờ đã để lại sự cảm mến giữa hai người. Tuy nhiên, do điều kiện thời chiến phải giữ bí mật lúc bấy giờ, thời gian của họ dành cho nhau thật ít ỏi. Bà cũng chỉ được biết ông tên là Nguyễn Văn Chiến, quê ở Thái Bình. Thế rồi, ít tháng sau ngày quen nhau, mà số lần họ gặp nhau chưa quá số ngón tay trên một bàn tay, ông được lệnh lên đường vào chiến trường miền
Những ngày ông lên đường làm nhiệm vụ, lòng bà khắc khoải khôn nguôi. Bất ngờ, khoảng thời gian cuối năm 1967, bà nhận được tin ông hy sinh thông qua những người cùng làm việc trong lâm trường. Bà như phát điên, tuyệt vọng vì đau khổ. Đêm nào bà cũng khóc. Bà khóc đến mụ mị cả người, khiến bà phải vào bệnh viện để điều trị. Sau khi ra viện, để vơi đi sự khổ đau, nhớ thương, bà lao vào công việc để tìm niềm vui, nhưng cứ tối đến bà lại thổn thức một mình cầu nguyện lầm rầm: “Anh ở đâu thì hãy về với em. Dù chục năm, trăm năm, em vẫn nguyện chờ anh”.
Cảm thông và thương cảm một người phụ nữ đức độ, biết bao người khuyên nhủ bà: thôi hãy lo cuộc đời mới... là bấy nhiêu lần bà khóc vùi trong tủi hờn. Nhưng bà nhất quyết từ chối những lời mai mối bởi bà có niềm tin mãnh liệt rằng ông ấy vẫn còn sống và hy vọng một ngày nào đó sẽ trở về tìm bà. Bà cam tâm ở vậy dù có phải hy sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc lứa đôi và sự sinh nở - nhưng thứ mà người phụ nữ nào cũng có quyền được hưởng. Thế rồi, nhưng người ở lâm trường Cát Bà (nay là Vườn Quốc gia Cát Bà) quen thuộc với hình ảnh một người phụ nữ cứ bữa cơm nào cũng bày hai chiếc bát, hai đôi đũa trên mâm cơm đạm bạc, một dành cho bà và một dành cho ông. Một năm 365 ngày và hơn 40 năm qua, ngày nào cũng vậy trừ những lúc ốm đau, bà cũng bắt đầu bữa cơm bằng lời mời: “Mời ông về ăn cơm với tôi”. Bà Hưởng tâm niệm ở thế giới bên kia, nhất định ông ấy sẽ nghe được những lời nói đó.
Hải Nguyên