Hôn nhân thời hiện đại và những “khoảng trống” pháp lý mới
(PLVN) - Trong quan hệ hôn nhân, sự phát triển không ngừng của đời sống đã và đang cho thấy, có nhiều khía cạnh cho dù pháp luật về hôn nhân - gia đình đã có quy định nhưng chưa thể trở thành “nếp quen” cần thiết của các cặp vợ chồng. Không những thế, sự vận động và biến đổi không ngừng của các quan hệ kinh tế - xã hội đã đặt ra những vấn đề pháp lý mới, yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện pháp luật về hôn nhân - gia đình.
Hợp đồng tiền hôn nhân - không nên bị quy kết là “tình yêu sòng phẳng”
Tại Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính thức, nhưng các chuyên gia về hôn nhân - gia đình và luật sư nhận định ngày càng nhiều vợ chồng ký hợp đồng tiền hôn nhân. Tiến sĩ, Luật sư Ngô Văn Hiệp, Văn phòng Luật sư Hiệp và Liên danh trong bài viết “Hợp đồng tiền hôn nhân - Lý luận và thực tiễn” đã thẳng thắn đề cập: “Hợp đồng tiền hôn nhân là một khái niệm khá mới trong khoa học pháp lý và chưa được các nhà lập pháp Việt Nam đưa vào trong luật mặc dù đã có một số quy định điều chỉnh về vấn đề này. Trong khi đó, loại hợp đồng này đã được nhiều quốc gia quy định cụ thể, điển hình như Mỹ, Úc… Chính vì vậy, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hợp đồng tiền hôn nhân để từ đó đề xuất việc thiết kế các quy định pháp luật phù hợp điều chỉnh loại hợp đồng này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn”.
Cũng theo Luật sư Ngô Văn Hiệp, các quy định điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng tiền hôn nhân nằm rải rác trong nhiều văn bản luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự 2015; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 mà chưa được pháp điển hóa cao, một số quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tính khả thi hoặc khó áp dụng trên thực tế.
Ở góc độ Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng, tuy Luật không quy định về hợp đồng tiền hôn nhân nhưng lại quy định khá cụ thể, chi tiết về các vấn đề về nội dung của thỏa thuận liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Có thể coi đây là các quy định pháp luật đầu tiên ghi nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận tiền hôn nhân về tài sản, là tiền đề cho hợp đồng tiền hôn nhân hình thành và phát triển, theo Luật sư Ngô Văn Hiệp.
Trao đổi với truyền thông, Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Trọng Nghĩa và Tiến sĩ Rahul Sambaraju, giảng viên cấp cao ngành Tâm lý học, Đại học RMIT Việt Nam cũng nêu ra những quan điểm về hợp đồng tiền hôn nhân. Theo Luật sư Nguyễn Trọng Nghĩa, khoảng 5 năm qua, nhu cầu tư vấn hôn nhân - gia đình thay đổi rõ rệt. Trước đây, các cặp đôi thường tìm đến luật sư khi chuẩn bị ly hôn để giải quyết tranh chấp thì hiện nay nhiều người chủ động tư vấn trước cưới để phân định tài sản, con cái và trách nhiệm gia đình.
Tiến sĩ Rahul Sambaraju cho rằng, thỏa thuận tiền hôn nhân giúp các cặp đôi chủ động thống nhất cách giải quyết một số vấn đề thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào pháp luật. Nếu được lập trên tinh thần tự nguyện, tôn trọng, văn bản cũng giúp hai người hiểu rõ kỳ vọng của nhau. “Mục tiêu của hợp đồng tiền hôn nhân không phải để ngăn ly hôn hay duy trì hôn nhân bằng mọi giá, mà là xây dựng một cuộc sống lành mạnh, tích cực, góp phần tạo nên hạnh phúc của mỗi cá nhân và xã hội”, theo Tiến sĩ Rahul Sambaraju.
Khi tài sản vợ chồng là quyền tác giả
“Trong thời kỳ hôn nhân, người chồng sáng tác được 20 bài thơ và đi thi có giải thưởng lớn 200 triệu đồng. Một thời gian sau vợ chồng ly hôn, người vợ yêu cầu chia 50 bài thơ và 100 triệu đồng trị giá giải thưởng đó. Vậy tài sản này có được coi là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hay không?” - đây là ví dụ hay được các luật sư về hôn nhân - gia đình nhắc tới khi đề cập đến vấn đề bản quyền, tài sản số là tài sản chung vợ chồng.
Hiện nay, tài sản trong hôn nhân không còn giới hạn ở nhà đất hay tiền mặt mà còn bao gồm: bản quyền sở hữu trí tuệ, tiền ảo, ví điện tử, tài khoản trực tuyến và các quyền tài sản số… Khi ly hôn, việc xác định quyền sở hữu và phân chia các loại hình tài sản này trở nên phức tạp do đặc tính ẩn danh, dễ chuyển dịch và khó kiểm soát, dẫn đến các bên rất dễ gặp bất lợi hoặc phát sinh tranh chấp kéo dài.
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân dưới chế độ tài sản theo luật định hiện nay bao gồm hai loại, tài sản chung và tài sản riêng. Phân tích về vấn đề quyền tác giả là tài sản chung hay tài sản riêng vợ chồng, các tác giả Nguyễn Đào Gia Hùng, Hoàng Thị Hương Trà, Đào Việt Hà (Đại học Luật Hà Nội) trong bài viết “Xác định tài sản của vợ chồng là đối tượng của quyền tác giả: Thực trạng và kiến nghị” cho biết, tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, các nhà làm luật đã quy định: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm”. Đồng thời, các nhà làm luật nhấn mạnh: “Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không phải là tác giả, đồng tác giả”.
Tại Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định: “Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ” là tài sản riêng của vợ chồng. Tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Từ mâu thuẫn này, các tác giả cho rằng việc xác định quyền tác giả là đối tượng của quyền tài sản của vợ chồng trong thực tiễn đang tồn tại một số bất cập, hạn chế và đưa ra kiến nghị pháp luật cần quy định chi tiết hơn việc phân định tài sản chung và tài sản riêng đối với quyền tài sản và lợi tức phát sinh từ việc khai thác quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ.
“Dưới góc độ hôn nhân và gia đình, cuộc hôn nhân được hình thành cần phải có sự đồng ý của hai bên vợ chồng. Hai bên thường có mối quan hệ gần gũi, gắn bó, sẵn sàng tạo điều kiện tốt nhất để đối phương thực hiện công việc của mình. Vì vậy trong thời kỳ hôn nhân, một bên vợ/chồng tuy không trực tiếp đóng góp vào việc hình thành tác phẩm, cũng được xem là đã góp công trong việc tạo lập tác phẩm ấy. Họ tuy không thể có tư cách quyền nhân thân phát sinh từ tác phẩm, nhưng xứng đáng được hưởng chung quyền tài sản cùng với chủ thể trực tiếp sáng tạo tác phẩm nếu tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Điều này phù hợp với yêu cầu xem xét việc người vợ/chồng dù chỉ chăm sóc gia đình, con cái vẫn được xem là có đóng góp trong việc tạo lập tài sản tại khoản 4 Điều 7 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP…”, theo các tác giả.
Tại Hội thảo khoa học “Hoàn thiện Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014” do Phân hiệu Trường Đại học Luật TP HCM (tỉnh Quảng Trị) tổ chức tháng 7/2026, nhằm đánh giá toàn diện các thành tựu và hạn chế sau hơn 10 năm thi hành Luật, chia sẻ về quyền tác giả trong tài sản chung - riêng, NCS. ThS Nguyễn Phương Ân, giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP HCM cũng phân tích những bất cập trong việc định bản chất tài sản chung, riêng đối với quyền tác giả. NCS. ThS Nguyễn Phương Ân đưa ra kiến nghị pháp luật cần hướng tới việc bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất giữa Luật Hôn nhân và Gia đình và Luật Sở hữu trí tuệ, bảo vệ tối đa lợi ích hợp pháp của các chủ thể sáng tạo.