Hội tụ và tỏa sáng giá trị đạo lý dân tộc
Thời đại Hùng Vương là thời đại mở đầu rực rỡ của lịch sử dân tộc Việt
Thời đại Hùng Vương là thời đại mở đầu rực rỡ của lịch sử dân tộc Việt
“Trong truyền thống tốt đẹp, dân tộc Việt Nam luôn giữ một truyền thống hay và đẹp vô cùng, tưởng nhớ tổ tiên, tưởng nhớ những người đã có công lớn trong việc dựng nước và giữ nước. Trong phạm vi của một tập thể nhỏ là làng xóm, gồm nhiều họ, nhiều gia đình, cũng như trong cả nước, dân tộc Việt Nam ta trong đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng và tình cảm của mình đều gắn liền hiện tại với quá khứ, quê hương như với Tổ quốc và dân tộc, từ đó mà giữ vững phát huy những đức tính cổ truyền tốt đẹp: lòng yêu nước, tình đoàn kết, chí kiên cường, bất khuất, niềm tin sâu xa và mạnh mẽ vào tài năng của mình. Nhân ngày giỗ Tổ Vua Hùng chúng ta hãy nhìn kỹ lại những điều đó trong tâm hồn của dân tộc Việt
Trẩy hội đền Hùng-Giỗ Tổ Hùng Vương ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm trở thành ý thức, tình cảm sâu nặng trong tâm khảm mỗi người dân đất Việt. Với ý thức tốt đẹp có tổ tiên, “Uống nước nhớ nguồn”, từ bao đời nay lớp lớp cháu con hân hoan trẩy hội. Ngày giỗ Tổ trở thành lời nhắc nhở, tiếng gọi thúc giục hàng triệu con tim khối óc từ già, trẻ, gái, trai, cả những người con xa quê hương đang sinh sống ở nước ngoài cũng về ngưỡng vọng thắp nén hương thơm tưởng nhớ công đức Tổ tiên.
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ
Văn minh đang buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ mồ ông
Chung quanh một quần thể di tích huyền thoại-ngọn Nghĩa Lĩnh nơi có đền thờ các Vua Hùng, có mộ Tổ thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì (Phú Thọ) đón không biết bao nhiêu bước chân của triệu triệu con Hồng cháu Lạc về viếng thăm.
![]() |
|
Múa lân mở đầu cho đám rước tại Lễ hội đường phố - Phú Thọ 2010 Ảnh: Đinh Vũ |
Tài liệu của Sở Văn hóa -Thông tin Vĩnh Phú trước đây cho biết, ở Vĩnh Phú và Phú Thọ) có 627 làng thuộc 387 xã thờ các Vua Hùng, vợ con và tướng lĩnh của các Vua Hùng. Bộ Lễ thời Lê đã thống kê trong cuốn sách thờ bách thần có tới 1026 đình, đền ở 944 xã thờ Hùng Vương, nhân thần và các tướng lĩnh của Vua Hùng, gồm Hưng Hóa: 58; Kinh Bắc 112; Hải Dương 112, Thanh Hóa 26, Sơn Nam 231, Nghệ An 70. Năm 2005, Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch) thống kê các tỉnh, thành phố trong cả nước có 1417 di tích thờ Vua Hùng và các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương ở Việt Nam.
Với quan niệm “dân đâu thần đấy”, “con cái ở đâu, tổ tiên về đấy” và tụng thờ vọng của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh có lập một đền thờ Hùng Vương trong Thảo Cầm Viên; ở Bà Rịa-Vũng Tàu có đền thờ Lạc Long Quân và bà Âu Cơ. Ở các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, Tiền Giang có đền thờ Hùng Vương. Người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài: Mỹ, Pháp, Xri-lan-ca, Ca-na-đa… khi về nước đã xin đất thiêng ở đền Hùng và xin chân hương về để thờ vọng. Hiện đền thờ Hùng Vương được bà con Việt Kiều xây dựng tại Niu Y-oóc (Mỹ), Pa-ri (Pháp). Những số liệu thống kê trên cho thấy trong đời sống tâm linh người Việt Nam, Vua Hùng có một vị trí quan trọng đặc biệt; việc thờ phụng Vua Hùng là một tín ngưỡng thiêng liêng, đặc sắc Việt Nam.
Điều này cũng cắt nghĩa lý do vì sao các triều đại phong kiến nối tiếp nhau tôn vinh khu di tích đền Hùng, đưa nghi lễ nhà nước vào các kỳ giỗ Tổ một cách trọng thể, trang nghiêm, thể hiện được tình cảm thành kính của con Lạc, cháu Hồng với Tổ tiên. Khi đất nước ta giành được độc lập thế kỷ thứ 10, vua Lê Đại Hành chính thức cho viết thần tích vào năm Thiên Phúc nguyên niên (980), việc xây dựng kiến trúc và tổ chức lễ hội được duy trì hoàn thiện hơn. Đến thời Lý Trần, khu di tích đền Hùng đã là một khu di tích khá hoành tráng. Thời Hậu Lê, sau khi giải phóng đất nước, triều đình cử lễ bộ Thượng thư lên thị sát việc xây dựng lại đền Hùng bị quân Minh tàn phá, phong cho dân làng Cổ tích là “dân Trưởng tạo lệ”, miễn phu phen, tạp dịch, thuế má để trông nom lăng miếu Vua Hùng; cho viết lại thần tích vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), sao lại vào năm Hoằng Định nguyên niên (1600) (bản sao thần tích này hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng Hùng Vương trong Khu di tích lịch sử đền Hùng). Triều Nguyễn cho trùng tu các đền trong khu di tích định ra chính lễ hội và hội thường: cứ 5 năm một lần chính hội do Thượng thư bộ lễ chủ tế, Tuần phủ Phú Thọ làm bồi tế, hội thường tuần phủ Phú Thọ chủ trì và đồng tế, tri huyện Lâm Thao, Phù Ninh làm bồi tế, quyết định chính thức lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (trước kia ngày 12-3 âm lịch là ngày giỗ Kinh Dương Vương).
Sau khi nước nhà vừa độc lập, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa cử cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước, lên dự Giỗ Tổ đầu tiên (năm Bính Tuất 1946). Năm 1954 trước khi về tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ về thăm đền Hùng. Tại đây Người nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong (sư đoàn 308) với câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ đã về thăm đền Hùng. Khu di tích lịch sử văn hóa đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể để đền Hùng xứng đáng với tầm vóc là một trong những khu di tích lịch sử quan trọng bậc nhất quốc gia. Năm 1990 và 1995, Bộ Văn hóa-Thông tin và UBND tỉnh tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương với nghi thức trọng thể. Đặc biệt năm Canh Thìn 2000, Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức quy mô cấp quốc gia. Tiếp đó, Chính phủ ra Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 6-11-2001 trong đó giỗ Tổ Hùng Vương được quy định là ngày lễ lớn của dân tộc.
Khi viết bài này, chúng tôi tìm đọc trong cuốn sổ vàng ghi những dòng lưu bút của đồng bào hành hương về Đền Hùng, thực sự xúc động trước tấm lòng, tình cảm đối với tổ tiên. Trong cuốn sổ lưu niệm của Khu di tích đền Hùng có những lời tâm nguyện của người dân ở mọi miền Đất nước “Chúng tôi đến đây với tất cả ước mơ của những người con của vùng đồng bằng sông Cửu Long, với tất cả tấm lòng của những người con ở miền đất cuối cùng của Tổ quốc, lòng chúng tôi xiết bao xúc động. Chúng tôi muốn thưa với Tổ tiên và Bác Hồ rằng: Vâng lời Người, miền Nam đã sắt son thủy chung trở về nguyên vẹn với cuộn nguồn…Chúng tôi mơ ước ngày nào đó được đến Đền Hùng để viếng mộ Tổ. Chính ước mơ đó đã góp phần thôi thúc chúng tôi chiến đấu để có ngày hôm nay”.
Người Việt
Trong tâm khảm của người dân đất Việt, lễ hội đền Hùng vượt ra ngoài lễ hội bình thường mà đây chính là ngày giỗ Tổ, hành hương về đền Hùng là hành hương về cội nguồn dân tộc. Đền Hùng không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa mà chính là biểu tượng thiêng liêng cho thuở lập nước mở nghiệp sơn hà của tổ tiên. Bởi đền Hùng là nơi hội tụ tâm linh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gỗ Tổ Hùng Vương là biểu tượng đỉnh cao cho tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, là nguồn động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Hành hương về đền Hùng trong ngày giỗ Tổ trong sâu thẳm cõi lòng mỗi người dân đất Việt, dù là hành hương thực hay hành hương trong tâm tưởng, luôn tràn đầy lòng biết ơn công lao dựng nước của các Vua Hùng, niềm tin vào sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.
Trần Văn Quang


