“Hoang đảo ba không” giữa thời hiện đại
Đó là cách nói vui của những người dân ở xóm bên kia ngã ba sông Lạch Tray và Văn Úc, thuộc thôn Quán Trang, xã Bát Trang (An Lão), nhưng đồng thời cũng là một thực tế ở xóm ngụ cư này.
Đó là cách nói vui của những người dân ở xóm bên kia ngã ba sông Lạch Tray và Văn Úc, thuộc thôn Quán Trang, xã Bát Trang (An Lão), nhưng đồng thời cũng là một thực tế ở xóm ngụ cư này. Ở đó có những cảnh đời đang sống nghèo túng, quanh năm không có điện, nước, đường đi lối lại… Gia tài quý giá nhất của họ vỏn vẹn là chiếc thuyền sắt làm phương tiện sang bên kia sông…
![]() |
| Những chiếc thuyền sắt chòng chành là phương tiện qua sông của người dân nơi đây |
Con thuyền chòng chành đưa chúng tôi từ bên này sông là làng mạc trù phú để sang “hoang đảo ba không” bên kia, theo cách gọi của người dân nơi đây. Từ giữa sông nhìn về phía “hoang đảo” mới thấy hết sự ví von của người dân địa phương có cơ sở. Giữa khu vực ngã ba sông thuộc địa bàn xã Bát Trang, nơi tiếp giáp giữa 2 con sông Văn Úc và Lạch Tray nổi lên 2 doi đất nhỏ do phù sa bồi đắp. Người dân nơi đây không nhớ nổi doi đất đó hình thành từ khi nào, chỉ biết khi sinh ra, lớn lên đã thấy hiển hiện ở ngã ba sông. Doi đất màu mỡ được phù sa bồi đắp đó đã mê hoặc nhiều người dân địa phương muốn ra đây lập nghiệp. Chủ tịch UBND xã Bát Trang cho biết, 20 năm trước, thực hiện kế hoạch di, dãn dân của thành phố, trên cơ sở tự nguyện của một số người dân, địa phương di chuyển gần 30 hộ dân ra lập nghiệp ở đây, hình thành 2 xóm mới. Kể từ đó, người dân trong làng, xã quen gọi là xóm bãi Soi Mờ và Đồng Hạ. Hai xóm này nằm ở 2 phía của ngã ba sông”.
Thuyền chẳng có bến để cập, chỉ có một lối mòn nhỏ phía bờ sông bên kia tiếp giáp với xóm bãi Đồng Hạ. Chúng tôi lội trên vùng bãi bùn, cát pha lẫn, đi qua những vườn cây um tùm lấn át cả con đường mòn do người dân ở đây tự tạo làm lối đi vào trong khu dân cư. Hầu hết những ngôi nhà thấp lè tè ẩn hiện trong các lùm cây ở đây đều vắng vẻ. Chỉ có một vài người trung tuổi làm việc ngoài vườn, trẻ em và thanh niên đi vắng cả. Dừng chân bên ngôi nhà cũ của ông Nguyễn Văn Thuê, chúng tôi được mời chào vui vẻ. Chén nước trà ông Thuê rót còn nóng hổi, nhưng vừa đưa lên miệng đã thấy vị nồng nồng, mằn mặn. Ông Thuê thanh minh: “Nước ở đây hầu hết là nước giếng lọc. Giếng đào ở gần sông nên mặn, có vị tanh nồng. Sống lâu ở đây nên chúng tôi cũng quen dần, nhà nào cũng ăn, uống, sinh hoạt bằng nước đó, chẳng nhà nào có điều kiện để xây bể nước mưa, vận chuyển nước từ trong làng vào thì quá lách cách”.
Dạo một vòng qua xóm Đồng Hạ, nhà nào cũng chỉ tuềnh toàng ngôi nhà cũ nát, bộ bàn ghế ọp ẹp, nhuốm màu thời gian. Bà Nguyễn Thị Thắm kể lại: “Ngày đầu hưởng ứng phong trào di, dãn dân, chúng tôi hăm hở ra vùng đất mới lập nghiệp. Ai ngờ đến nay đã gần 20 năm trôi qua mà cuộc sống chưa hết nghèo đói”. Bà Thắm vừa nói chuyện, vừa nhắc chúng tôi phải đề phòng muỗi dín cắn. Bà bảo lâu nay vùng đất này bị nạn muỗi dín, sâu đất hoành hành nên trồng cây gì cũng bị phá hoại, thu hoạch chẳng được là bao. Ngày đầu ra lập nghiệp còn trông cậy vào vườn cây ăn quả, nhưng bây giờ nhà nào cũng khó khăn hơn vì sản xuất hiệu quả thấp trong khi cơ sở vật chất ở “hoang đảo” quá nghèo nàn. Không có điện, chẳng nhà nào trong xóm có đủ điều kiện để sắm bình ắc-quy, máy phát điện. Tối đến, xóm Đồng Hạ tù mù trong ánh đèn dầu. Khổ nhất là trẻ em trong xóm không có điều kiện học hành lên, vì muốn đi học phải chèo thuyền qua sông. Chị Đoàn Thị Duyến than vãn: “Mấy ngày nay không phải mùa lũ nên xóm nghèo này còn nổi trên mặt nước đấy. Vào mùa lũ, nhà nào cũng ngập trong nước. Đi lại bằng con thuyền chòng chành, chẳng bao giờ hết lo. Thế nên xóm bãi này trẻ em sinh ra có ai được học cao đâu, chỉ học đủ biết chữ là đi làm giúp bố mẹ”. Chị Duyến cho biết, cách đây vài năm, khi nước lũ lên cao, 2 người phụ nữ ở xóm Đồng Hạ chèo thuyền về trong làng chẳng may bị lũ cuốn trôi.
![]() |
| Nước giếng đục ngầu, nhưng người dân phải sử dụng quanh năm |
Rời xóm bãi Đồng Hạ, chúng tôi tiếp tục chèo thuyền sang bãi Soi Mờ, câu chuyện của chị Duyến vừa kể khiến chúng trôi rờn rợn. Tuy nhiên, không phải mùa nước lũ nên thuyền đi êm ả. Từ trên sông nhìn về Soi Mờ là màu xanh của cây cối um tùm. Chúng tôi theo lối mòn của vườn cây để đi sâu vào trong khu dân cư. Gọi mãi, trong những ngôi nhà tuềnh toàng chẳng hề có tiếng người đáp lại. Đi vòng ra phía vườn cây cuối xóm mới thấy bóng dáng một lão nông đang làm vườn. Đáp lại sự ngạc nhiên của chúng tôi về cảnh vườn không nhà trống, lão nông dừng tay bộc bạch: “Vài năm trước xóm này còn đông người, nhưng 2 năm trở lại đây cuộc sống quá khó khăn, nhiều người đành phải bỏ vùng bãi về làng ở. Vùng bãi chỉ còn là nơi sản xuất. Ban ngày, một số người chèo thuyền sang làm vườn, tối lại chèo thuyền về”.
Một số hộ dân ở xóm bãi Soi Mờ có điều kiện để về làng sinh sống bởi họ còn có người thân có điều kiện trợ giúp, cho vay để mua đất làm nhà. Những hộ dân bên xóm bãi Đồng Hạ hầu hết là những hộ nghèo, không nhận được sự trợ giúp của người thân. Kết quả là họ vẫn phải bám trụ với xóm vắng và những điều kiện vật chất vô cùng khó khăn. Ông Nguyễn Văn Tòng, Trưởng thôn Quán Trang cho biết:“Mỗi lần đến mùa mưa, bão, cán bộ thôn phải mang loa ra tận bờ sông gọi thật to để báo tin cho các hộ dân đang sinh sống ở bên xóm bãi về làng trú ẩn đến khi hết bão mới về”. Chính quyền địa phương cũng thấy rõ hoàn cảnh khó khăn của người dân vùng bãi, nhiều lần đề nghị được hỗ trợ lập phà nối liền khu dân cư nhưng chưa được khi kinh phí để giải quyết vấn đề an sinh xã hội ở các vùng bãi còn rất hạn hẹp, khiến địa phương cũng đành bó tay.
Rời xóm bãi Đồng Hạ và Soi Mờ chúng tôi thấm thía những khó khăn của người dân nơi đây. Mong sao, các cấp, ngành sớm có giải pháp tháo gỡ, giúp bà con sớm ổn định điều kiện sinh hoạt, sản xuất, góp phần hiện thực hóa ước mơ xóa đói, giảm nghèo của họ khi tình nguyện ra vùng đất khó khăn này.
Bài và ảnh Hương An

