Hoàn thiện thể chế, tăng tốc thực thi công nghệ chiến lược

Hoàn thiện thể chế, tăng tốc thực thi công nghệ chiến lược
Ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trình bày tham luận tại Hội nghị (Ảnh: MST)

Hệ thống thể chế về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được hoàn thiện với nhiều cơ chế, chính sách đột phá, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

Nhiều ưu đãi vượt trội cho công nghệ chiến lược

Đây được xem là nền tảng quan trọng để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy doanh nghiệp và đội ngũ nhà khoa học tham gia phát triển công nghệ, qua đó hiện thực hóa mục tiêu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng của đất nước.

Thông tin trên được ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), chia sẻ tại Hội nghị “Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển” diễn ra ngay 15/7 vừa qua.

Theo ông Nguyễn Phú Hùng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, động lực chủ yếu để Việt Nam bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Mục tiêu xuyên suốt là từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, xây dựng nền công nghiệp tự lực, tự cường và giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, thời gian qua, hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đồng bộ. Trong đó, hai đạo luật quan trọng là Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo và Luật Công nghệ cao đã được ban hành, cùng với Nghị định số 260/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược; đồng thời ban hành Quyết định số 808/2026/QĐ-TTg giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho các bộ, ngành.

Theo đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, các văn bản này có ý nghĩa như một "tuyên ngôn hành động", tạo cơ sở pháp lý để huy động nguồn lực và triển khai các chương trình phát triển công nghệ chiến lược trên phạm vi cả nước.

Một trong những điểm nổi bật của hệ thống chính sách mới là các cơ chế ưu đãi ở mức cao nhằm khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và cá nhân đầu tư phát triển công nghệ chiến lược.

Theo đó, doanh nghiệp và trung tâm nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược được hưởng nhiều ưu đãi về thuế và đất đai, như áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 25 năm, miễn tiền thuê đất đối với các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Đối với doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược được xác nhận, Nhà nước còn ưu tiên trong đấu thầu, đặt hàng và mua sắm công sử dụng ngân sách, qua đó tạo thị trường ban đầu cho các sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp trong nước làm chủ.

Cơ chế đặc thù chưa từng có cho Chương trình quốc gia đặc biệt

Theo ông Nguyễn Phú Hùng, Nghị định số 60 cũng quy định cụ thể các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong Chương trình quốc gia đặc biệt, gồm ba nhóm. Thứ nhất là các nhiệm vụ do Thủ tướng Chính phủ giao đối với những công nghệ trọng điểm.Thứ hai là các nhiệm vụ do bộ, ngành và địa phương đề xuất từ yêu cầu thực tiễn. Thứ ba là các nhiệm vụ được tài trợ rộng rãi thông qua các quỹ phát triển khoa học và công nghệ nhằm tìm kiếm các giải pháp công nghệ đột phá.

Đáng chú ý, chương trình được thiết kế với nhiều cơ chế đặc thù chưa từng có trong hoạt động khoa học và công nghệ. Theo đó, các nhiệm vụ sẽ được đánh giá, nghiệm thu và quyết toán theo từng mốc kết quả thay vì chỉ thực hiện khi kết thúc toàn bộ nhiệm vụ. Tổ chức chủ trì được trao quyền tự chủ cao trong lựa chọn nhà thầu và quyết định phương thức triển khai, góp phần rút ngắn thời gian thực hiện và giảm thủ tục hành chính.

Đặc biệt, lần đầu tiên áp dụng cơ chế nghiên cứu độc lập đa phương đối với các bài toán công nghệ lớn. Nhiều tổ chức có thể đồng thời thực hiện cùng một nhiệm vụ bằng các phương án công nghệ khác nhau, sau đó đánh giá để lựa chọn giải pháp tối ưu.

Song song với đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đang hoàn thiện các quy định về cơ chế tài chính nhằm thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trình độ cao thông qua chính sách tiền lương, tiền thưởng và chế độ đãi ngộ phù hợp.

Thách thức lớn nhất là tổ chức thực thi

Theo đại diện Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, đến nay, khung thể chế cho phát triển công nghệ chiến lược cơ bản đã được hoàn thiện. Trọng tâm của giai đoạn hiện nay không còn là xây dựng chính sách mà là tổ chức thực thi hiệu quả, đưa các cơ chế ưu đãi vào cuộc sống.

Bộ Khoa học và Công nghệ kỳ vọng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương cùng sự đồng hành của doanh nghiệp và đội ngũ nhà khoa học, Việt Nam sẽ từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bộ cũng mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp từ các nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để kịp thời hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhất cho phát triển công nghệ chiến lược trong thời gian tới.

Nguyệt Thương