Hoàn thiện thể chế, tăng cường hợp tác quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn
(PLVN) - Từ thực tiễn triển khai Nghị định thư Montreal thiết lập khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm kiểm soát, tiến tới loại trừ sản xuất và tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, tại Việt Nam, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật mà còn bảo đảm các cơ chế quản lý, giám sát và hỗ trợ chuyển đổi công nghệ được thực hiện hiệu quả.
Thúc đẩy thực thi các cam kết quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn
Nghị định thư Montreal, được thông qua năm 1987, thiết lập khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm kiểm soát, tiến tới loại trừ sản xuất và tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn. Năm 2016, các quốc gia thành viên tiếp tục thông qua Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, mở rộng phạm vi kiểm soát đối với hydrofluorocarbon (HFC) - nhóm chất không làm suy giảm tầng ô-dôn nhưng có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao. Mới đây, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) tổ chức cuộc họp mạng lưới cán bộ ô-dôn các quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á và quốc đảo Thái Bình Dương. Cuộc họp tập trung trao đổi kinh nghiệm thực thi Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali; đánh giá tiến trình thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, đồng thời thảo luận những giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý, chuyển đổi công nghệ và thúc đẩy làm mát bền vững.
Thông tin tại cuộc họp cho thấy, đối với Việt Nam, việc thực thi các cam kết quốc tế đã từng bước được nội luật hóa. Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994, phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019. Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về bảo vệ tầng ô-dôn, trong đó xác lập các yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, tiêu thụ và loại trừ các chất được kiểm soát; thu gom, tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy các chất này theo quy định.
Khung pháp luật tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP. Trong đó, đáng chú ý, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP,sửa đổi quy định giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thành phần hồ sơ có thể khai thác từ cơ sở dữ liệu và rút ngắn thời gian xem xét phân bổ hạn ngạch sản xuất, nhập khẩu các chất được kiểm soát từ 30 xuống 22 ngày làm việc. Đây là bước điều chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong khi vẫn duy trì yêu cầu quản lý nhà nước.
Tăng cường hiệu lực pháp luật, thúc đẩy làm mát bền vững
Tại cuộc họp, ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu nhận định, nhu cầu làm mát gia tăng trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu tăng và đô thị hóa nhanh đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý môi trường. Việc giảm dần tiêu thụ HFC cần kết hợp với nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển công nghệ thay thế, tăng cường năng lực kỹ thuật và quản lý môi chất lạnh trong toàn bộ vòng đời sử dụng.
Đây cũng là định hướng được thể hiện trong các chính sách hiện hành của Việt Nam. Theo lộ trình quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung, tổng lượng tiêu thụ HCFC của quốc gia trong giai đoạn 2025 - 2029 không vượt 32,5% mức tiêu thụ cơ sở và tiến tới loại trừ hoàn toàn từ năm 2040. Đối với HFC, Việt Nam thực hiện kiểm soát mức tiêu thụ từ năm 2024, giảm 10% từ năm 2029, 30% từ năm 2035, 50% từ năm 2040 và 80% từ năm 2045 so với mức tiêu thụ cơ sở.
Để thực hiện các mục tiêu này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024 về Kế hoạch quốc gia quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát. Kế hoạch xác định những nhiệm vụ trọng tâm về quản lý các chất được kiểm soát, chuyển đổi công nghệ, nâng cao hiệu suất năng lượng, quản lý vòng đời môi chất lạnh và tăng cường hợp tác quốc tế. Một trong những yêu cầu đáng chú ý là tăng cường hiệu quả quản lý từ khâu nhập khẩu, sử dụng đến thu hồi, tái chế và xử lý môi chất lạnh. Việc kiểm soát không chỉ giới hạn ở lượng hóa chất đưa vào thị trường mà còn liên quan đến trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, đơn vị nhập khẩu, chủ sở hữu thiết bị và tổ chức cung cấp dịch vụ kỹ thuật.
Đáng chú ý, Thông tư số 08/2025/TT-BNNMT đã sửa đổi, bổ sung các quy định hướng dẫn về quản lý, báo cáo và thu gom, xử lý chất được kiểm soát. Cùng với đó, các yêu cầu kỹ thuật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ, tái chế, tái sử dụng và xử lý được điều chỉnh bằng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia có liên quan.
Theo ông Bùi Đức Hiếu, những vấn đề cần được quan tâm hiện nay bao gồm nâng cao tính minh bạch, độ tin cậy của dữ liệu, hiệu quả hệ thống cấp phép và hạn ngạch; phòng ngừa thương mại bất hợp pháp các chất được kiểm soát và thúc đẩy chuyển đổi sang công nghệ có tác động thấp đến khí hậu. Trong quá trình này, hợp tác quốc tế tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Việc phát huy nguồn lực từ Quỹ Đa phương thực hiện Nghị định thư Montreal, các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển có thể hỗ trợ các quốc gia tăng cường năng lực quản lý, đào tạo nhân lực và tiếp cận công nghệ thay thế phù hợp.