Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá - 'Bịt” khoảng trống', 'siết' quản lý
Sau hơn 13 năm triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, thực tiễn thi hành đang đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các quy định về môi trường không khói thuốc, cảnh báo sức khỏe, trách nhiệm quản lý và xử lý vi phạm. Đây cũng là những vấn đề trọng tâm được chuyên gia đối thoại tại Tọa đàm “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá – “Bịt” khoảng trống, “siết” quản lý” do Báo Pháp luật Việt Nam phối hợp với Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) tổ chức.
Chiều 3/11, tại Hà Nội, Báo Pháp luật Việt Nam phối hợp với Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) tổ chức Tọa đàm “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá – “Bịt” khoảng trống, “siết” quản lý”.
Chương trình có sự tham gia của TS. Nguyễn Huy Quang - nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Y tế), Trưởng ban Tư vấn, Phản biện và Giám định xã hội, Tổng hội Y học Việt Nam; PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh - Giảng viên cao cấp chuyên ngành Sức khỏe môi trường, Trường Đại học Y tế Công cộng.
Sau hơn 13 năm triển khai, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác kiểm soát thuốc lá, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng môi trường không khói thuốc. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục xem xét, hoàn thiện.
Trong quá trình góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, các đại biểu Quốc hội đã nêu nhiều kiến nghị liên quan đến việc mở rộng địa điểm cấm hút thuốc, xác định lộ trình chuyển đổi các khu vực được phép bố trí nơi hút thuốc riêng sang cấm hút thuốc hoàn toàn, làm rõ trách nhiệm của người quản lý, nâng diện tích cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá và bảo đảm điều kiện xử lý vi phạm. Các đề xuất đặt ra yêu cầu không chỉ hoàn thiện quy định pháp luật mà còn phải xem xét tính khả thi trong tổ chức thực hiện, từ việc xác định trách nhiệm, thẩm quyền đến cơ chế giám sát và nguồn lực triển khai.
Tại Tọa đàm, hai chuyên gia trao đổi những vấn đề này từ góc độ pháp lý, sức khỏe môi trường và thực tiễn thi hành, góp thêm cơ sở khoa học, thực tiễn cho quá trình nghiên cứu, hoàn thiện chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý để khắc phục những bất cập trong kiểm soát thuốc lá
Tại Tọa đàm, câu hỏi đầu tiên được đặt với TS. Nguyễn Huy Quang - nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Y tế), Trưởng ban Tư vấn, Phản biện và Giám định xã hội, Tổng hội Y học Việt Nam.
- Thưa TS. Nguyễn Huy Quang, nhìn từ quá trình xây dựng và thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, theo ông, những khoảng trống pháp lý hoặc vướng mắc trong tổ chức thực hiện nào cần ưu tiên tháo gỡ ở lần sửa đổi này? Điều gì khiến những vấn đề đó trở nên cấp thiết hiện nay?

TS. Nguyễn Huy Quang: Một câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta phải xây dựng Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và tại sao phải thực hiện nghiêm các quy định của Luật? Bởi thuốc lá là một trong những yếu tố nguy cơ gây ra các bệnh thuộc nhóm bệnh không lây nhiễm. Đây là nhóm bệnh rất điển hình trong mô hình bệnh tật của Việt Nam, chiếm tới 73%. Do đó, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý để kiểm soát, phòng, chống tác hại của thuốc lá; đồng thời phải có cơ chế bảo đảm các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá được thực thi nghiêm túc.
Sau 13 năm triển khai thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, thực tiễn đã cho thấy một số khoảng trống, khoảng xám về mặt pháp lý.
Thứ nhất, chúng ta có một quy định rất tiến bộ và được Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá cao. Việt Nam là một trong số ít quốc gia cấm sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, lưu trữ, vận chuyển, tạm nhập, tái xuất, sử dụng, chứa chấp, thông tin, quảng cáo, khuyến mại, tài trợ đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm mới. Nội dung này đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết. Trong lần sửa đổi Luật này, cần đưa quy định đó vào Luật để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Thứ hai, Việt Nam là thành viên Công ước khung về kiểm soát thuốc lá, trong đó có quy định về cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, có một nội dung mà cách đây 13 năm chúng ta chưa quy định, đó là việc trưng bày sản phẩm thuốc lá. Vì vậy, lần này Quốc hội cũng sẽ xem xét, thảo luận việc bổ sung quy định cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán, gồm cả điểm bán buôn và điểm bán lẻ, nhằm thực hiện nghiêm các quy định của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá.
Thứ ba, Luật hiện hành cũng giao Chính phủ mở rộng việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh. Tuy nhiên, trong 13 năm qua, diện tích cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh vẫn giữ nguyên ở mức 50% mặt trước và mặt sau của bao bì. Chúng ta cũng chỉ có 6 mẫu cảnh báo sức khỏe; sau 13 năm, các mẫu này đã trở nên cũ, trong khi việc xoay vòng các mẫu cảnh báo sức khỏe cũng chưa được thực hiện nghiêm túc. Vì vậy, trong lần sửa đổi này, có rất nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng cần bổ sung vào Luật các quy định liên quan đến cảnh báo sức khỏe.
Thứ tư là vấn đề mở rộng môi trường không khói thuốc. Hiện nay, một số địa điểm được quy định cấm hút thuốc nhưng vẫn cho phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc, như tàu thủy, tàu hỏa, sân bay và một số phương tiện giao thông công cộng khác; khách sạn, nhà nghỉ, quán karaoke, quán bar, sàn nhảy, vũ trường... Sau 13 năm, những quy định này về cơ bản vẫn được giữ nguyên, trong khi yêu cầu xây dựng môi trường không khói thuốc ngày càng được đặt ra mạnh mẽ, trong đó đã có những mô hình như phố không khói thuốc, thành phố không khói thuốc. Trong bối cảnh đó, nếu ngay cả khách sạn hạng cao vẫn cho phép bố trí nơi hút thuốc thì sẽ có những ảnh hưởng nhất định. Về vấn đề này, Giáo sư Tuyết Hạnh sẽ trao đổi thêm.
Thứ năm, Công ước khung về kiểm soát thuốc lá quy định các quốc gia thành viên phải nội luật hóa các quy định liên quan đến phòng ngừa sự can thiệp của ngành công nghiệp thuốc lá vào quá trình xây dựng chính sách cũng như quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá. Tuy nhiên, nội dung này ở nước ta cũng chưa được thực hiện đầy đủ.
Như vậy, về mặt pháp lý, có 5 nhóm nội dung cần được sửa đổi, bổ sung. Đúng như chủ đề của cuộc tọa đàm hôm nay, mục tiêu là bịt các khoảng trống và làm cho các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá chặt chẽ, kín kẽ hơn.
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, chúng ta còn cần có cơ chế giám sát để bảo đảm các quy định được thực thi đến nơi đến chốn. Chẳng hạn, chúng ta đã có các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính, nhưng thực tế vẫn còn tình trạng trưng bày, bán thuốc lá tại khu vực trường phổ thông; trên mạng xã hội vẫn có quảng cáo, mua bán thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng hoặc những sản phẩm thuốc lá độc, lạ nhằm tiếp cận giới trẻ. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm cũng còn những hạn chế nhất định. Vì vậy, cần thực hiện đồng thời hai vấn đề: một là tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; hai là phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm các quy định của pháp luật được thực thi nghiêm minh. Có như vậy, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá mới không chỉ nằm trên giấy mà thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống.
- Ở góc độ sức khỏe môi trường và thực tiễn xây dựng môi trường không khói thuốc, xin hỏi PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh, bà nhìn nhận thế nào về tình trạng phơi nhiễm khói thuốc tại các địa điểm công cộng hiện nay? Những khó khăn nào khiến quy định cấm hút thuốc chưa được tuân thủ đầy đủ, nhất là tại nhà hàng và các cơ sở dịch vụ?

PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Trong nhiều năm qua, chúng ta đã có nhiều nỗ lực tăng cường thực thi các quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá tại nhà hàng và cơ sở dịch vụ ăn uống. Tuy nhiên, các khảo sát trên phạm vi toàn quốc cho thấy tình trạng phơi nhiễm với khói thuốc thụ động tại những địa điểm này vẫn đáng chú ý. Năm 2015, ngay sau khi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá có hiệu lực, Việt Nam triển khai Khảo sát toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (GATS). Kết quả cho thấy, khoảng 91% người được khảo sát cho biết họ phơi nhiễm với khói thuốc thụ động khi đến nhà hàng, quán ăn; tỷ lệ này tại quán cà phê là 89%.
Sau nhiều nỗ lực can thiệp, tỷ lệ phơi nhiễm đã giảm. Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2024 tại 34 tỉnh, thành phố do Trường Đại học Y tế công cộng phối hợp với CDC các tỉnh thực hiện, với sự hỗ trợ tài chính của Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá, cho thấy vẫn có 67% người được khảo sát phơi nhiễm với khói thuốc thụ động tại nhà hàng, quán ăn và 59,2% tại quán cà phê. Như vậy, dù đã có nhiều nỗ lực, cứ ba người đến ăn uống tại những địa điểm công cộng này thì có khoảng hai người phải hít khói thuốc do người khác hút.
Việt Nam có hơn 100.000 người tử vong mỗi năm do thuốc lá. Trong đó, khoảng 18.800 người tử vong do phơi nhiễm với khói thuốc thụ động. Tình trạng này không chỉ gây nguy cơ cho cộng đồng khi đến các địa điểm công cộng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nhân viên nhà hàng, quán ăn, quán cà phê. Họ phải làm việc tại những nơi này trong thời gian dài, nên nguy cơ phơi nhiễm cũng đáng lo ngại.
Trong nhiều năm qua, việc thực hiện môi trường không khói thuốc tại cơ sở y tế, trường học và nơi làm việc đã đạt kết quả khá tốt. Theo khảo sát năm 2024 của chúng tôi, tỷ lệ phơi nhiễm tại những địa điểm này chỉ xấp xỉ 20%. Trong khi đó, nhà hàng, quán cà phê và khách sạn vẫn là những điểm nóng.
Tôi rất mừng khi thấy các ý kiến của đại biểu Quốc hội lần này đề nghị mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn, góp phần xây dựng môi trường không khói thuốc. Tôi cho rằng đây thực sự là một tiến bộ.
Trong nghiên cứu được triển khai tại phường Cầu Giấy, Hà Nội và phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều thách thức, dù Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá có hiệu lực từ ngày 1/5/2013. Thách thức đầu tiên là quan niệm hút thuốc như một nét văn hóa phổ biến. Khi đi ăn, đến nhà hàng hay quán cà phê, nhiều người có thói quen mời nhau hút thuốc và xem đó là chuyện bình thường. Để thay đổi chuẩn mực xã hội này cần có thời gian.
Thứ hai, chủ cơ sở và nhân viên chưa có đủ kỹ năng; thậm chí, một số người chưa biết cơ sở của mình thuộc địa điểm không được hút thuốc trong nhà theo quy định của pháp luật. Họ cũng chưa nắm rõ mức phạt, chưa được tập huấn kỹ năng nhắc nhở khách khi có người hút thuốc và chưa biết cách xử lý tình huống.
Một số cửa hàng đã treo biển cấm hút thuốc nhưng đặt biển ở vị trí phục vụ mục đích phòng, chống cháy nổ, chứ không phải để thông báo khu vực không hút thuốc theo quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Ở cấp chính quyền địa phương, một số nơi chưa xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu hoặc quy trình cụ thể về trách nhiệm thực hiện, giám sát và xử phạt. Đây là những khó khăn còn tồn tại trong thực tế.

Mở rộng địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn: Cần quy định như thế nào?
- Trong quá trình góp ý dự thảo Luật, có ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị mở rộng địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn, trong đó có việc chuyển dần một số địa điểm đang được phép bố trí nơi hút thuốc riêng sang cấm hoàn toàn trong nhà. Đồng thời có đề xuất bổ sung tàu thủy, tàu hỏa vào nhóm phương tiện giao thông công cộng cấm hút thuốc hoàn toàn. Thưa TS. Nguyễn Huy Quang, khi xem xét sửa đổi Điều 11 và Điều 12, cần xác định phạm vi áp dụng và các trường hợp ngoại lệ như thế nào để quy định rõ ràng, thống nhất và khả thi?
TS. Nguyễn Huy Quang: Như PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh đã đề cập, đối với các khách sạn, quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn, cơ sở lưu trú, quy định pháp luật hiện hành chưa cấm hút thuốc lá hoàn toàn mà chỉ cấm hút thuốc trong nhà, đồng thời vẫn cho phép bố trí địa điểm dành riêng cho người hút thuốc. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn, cơ sở lưu trú không bố trí khu vực dành riêng cho người hút thuốc. Vì vậy, những người có ý thức thì ra ngoài để hút, còn một bộ phận vẫn giữ thói quen vừa uống rượu, vừa hút thuốc ngay trong quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn, cơ sở lưu trú..., khiến cả không gian mịt mù khói thuốc.
Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan nhưng hết sức nghiêm túc. Bởi hút thuốc lá thụ động ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của những người xung quanh, đặc biệt là phụ nữ, các bà mẹ và trẻ em. Đây là những nhóm đối tượng mà ngành Y tế đặc biệt quan tâm và có trách nhiệm bảo vệ.
Trong lần sửa đổi Luật này, nhiều đại biểu Quốc hội đã bày tỏ sự bức xúc và đề nghị sửa đổi Điều 11, Điều 12 liên quan đến các địa điểm cấm hút thuốc lá. Hiện nay, các cơ quan nhà nước, bệnh viện, cơ sở giáo dục thuộc nhóm địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà, không có nơi dành riêng cho người hút thuốc. Tuy nhiên, chúng ta cần tiếp tục bổ sung, mở rộng các địa điểm thuộc diện cấm hút thuốc hoàn toàn, bởi sau 13 năm triển khai Luật, các quy định này về cơ bản vẫn được giữ nguyên, chưa được Chính phủ bổ sung.
Khói thuốc lá gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh và sức khỏe của những người bị phơi nhiễm. Khi ra nước ngoài, chúng ta còn có biên giới, cửa khẩu, thị thực, nhưng khói thuốc lá thì không có bất kỳ ranh giới nào. Khói thuốc có thể lan tỏa và ảnh hưởng đến tất cả những người xung quanh, chứ không chỉ riêng người hút.
Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn, không bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc. Chẳng hạn, đối với sân bay, qua thực tế đi lại, tôi nhận thấy đa số sân bay quốc tế hiện nay đều cấm hút thuốc. Người muốn hút thuốc phải ra ngoài khu vực sân bay, sau đó thực hiện lại các thủ tục để vào bên trong, thậm chí có nguy cơ lỡ chuyến bay. Quy định như vậy rất nghiêm khắc và được thực hiện nghiêm túc. Theo tôi, sân bay là một trong những địa điểm khả thi nhất để áp dụng quy định cấm hút thuốc lá hoàn toàn.
Nhóm thứ hai cũng có tính khả thi cao là các phương tiện giao thông như tàu thủy, tàu hỏa. Tuy nhiên, cần có quy định phù hợp với từng loại hình và thời gian hành trình. Đối với những tuyến đường ngắn, có thể thực hiện cấm hút thuốc hoàn toàn. Nhưng với các hành trình kéo dài, chẳng hạn những chuyến tàu đi cả tháng, vẫn cần xem xét bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc. Nếu có quy định phù hợp với từng trường hợp thì việc triển khai sẽ thuận lợi hơn.
Đối với những nhóm địa điểm khác, cần có lộ trình, kết hợp vận động, thuyết phục để thực hiện. Như PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh đã đề cập, các quán bar, karaoke, vũ trường, quán ăn, quán karaoke cần tiến tới cấm hút thuốc hoàn toàn theo lộ trình. Tiếp đó là các khách sạn, nhà nghỉ và những cơ sở lưu trú khác.
Vừa qua, tôi có tham dự một tọa đàm của Báo Văn hóa, tại đó có hoạt động hướng dẫn thực hiện mô hình khách sạn không khói thuốc và trao cho 44 khách sạn. Qua sự kiện, tôi nhận thấy các khách sạn rất phấn khởi khi tham gia thực hiện mô hình này. Bởi thực tế, người dân và khách lưu trú cũng không muốn sử dụng dịch vụ tại những khách sạn có mùi khói thuốc lá. Khói thuốc không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng không khí, không gian chung của khách sạn mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe của những người lưu trú và sử dụng dịch vụ.
- Thưa PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh, có ý kiến đề nghị ấn định thời hạn chuyển các địa điểm có nơi hút thuốc riêng sang cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà, nhưng cũng có ý kiến muốn tiếp tục bố trí nơi hút thuốc riêng. Xét về khả năng khói thuốc lan sang khu vực không hút thuốc và nguy cơ phơi nhiễm, hai phương án này khác nhau như thế nào? Các căn cứ khoa học nào cần được cân nhắc khi xác định lộ trình?
PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Khi bàn về vấn đề này, có hai phương án khác nhau. Một là cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà tại các địa điểm này, qua đó loại bỏ nguy cơ phơi nhiễm cho người dân. Hai là tiếp tục cho phép bố trí khu vực hút thuốc riêng tại một số nơi như khách sạn, quán bar, vũ trường, karaoke. Với phương án thứ hai, nguy cơ phơi nhiễm vẫn còn, chỉ được hạn chế một phần.
Các nghiên cứu trên thế giới và ý kiến chuyên gia đều cho thấy phòng hút thuốc riêng không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ. Chẳng hạn, tại phòng karaoke, cửa không thể đóng kín tuyệt đối vì khách và nhân viên vẫn phải ra vào để phục vụ. Mỗi lần cửa mở, không khí trong phòng hút thuốc và các chất ô nhiễm từ khói thuốc có thể phát tán ra bên ngoài.
Nghiên cứu cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm bên ngoài phòng hút thuốc riêng có thể thấp hơn bên trong, nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với môi trường không có khói thuốc. Trong nghiên cứu về môi trường không khói thuốc tại Cầu Giấy và Vĩnh Phúc, ngoài việc quan sát có người hút thuốc hay không, chúng tôi còn lấy mẫu không khí để đo nồng độ nicotine. Kết quả cho thấy khoảng 49% cơ sở có phát hiện nicotine trong không khí. Điều đó cho thấy việc bố trí phòng hút thuốc riêng, chẳng hạn tại khách sạn, hầu như không giúp loại bỏ nguy cơ phơi nhiễm cho người dân.
Tôi rất mừng khi đại biểu Quốc hội có ý kiến đề nghị mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn. Theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá có hiệu lực từ năm 2013, quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú vẫn được phép bố trí phòng hút thuốc riêng. Nếu lần này các đại biểu ủng hộ đưa những địa điểm này vào diện cấm hút thuốc hoàn toàn thì đó là một bước tiến đáng kể, phù hợp với điều kiện thực tế sau 13 năm thực hiện luật.
Tôi ủng hộ ý kiến của đại biểu Quốc hội về việc mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn, bởi quy định cho phép bố trí khu vực hút thuốc riêng gây khó khăn và không hiệu quả trong thực thi.
TS Nguyễn Huy Quang: Tôi xin bổ sung. Như PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh đã phân tích, luật hiện hành quy định một số địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn nhưng vẫn cho phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc. Tại những khu vực này, pháp luật đã có quy định về gạt tàn, thiết bị hút khói và các yêu cầu phòng, chống cháy nổ. Tuy nhiên, kể cả khi các yêu cầu đó được thực hiện nghiêm túc, khói thuốc vẫn có thể thoát ra ngoài khi cửa mở. Chỉ cần có khe hở, khói thuốc cũng có thể phát tán và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo rằng khi đã cấm hút thuốc thì cần cấm hoàn toàn, không nên vừa cấm trong một khu vực vừa bố trí nơi riêng để hút thuốc.
Đây không phải là vấn đề quyền của một cá nhân, mà cần cân nhắc sức khỏe chung của cộng đồng. Hút thuốc trong khu vực riêng vẫn có thể ảnh hưởng đến những người xung quanh, đồng thời gây hệ lụy đối với sức khỏe và tính mạng con người.
- Thưa hai vị khách mời, trước những ý kiến khác nhau về việc cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà hay tiếp tục cho phép nơi hút thuốc riêng tại một số địa điểm, theo hai vị, cần căn cứ vào tiêu chí pháp lý, bằng chứng khoa học và điều kiện thực thi nào để đánh giá ưu điểm, hạn chế của từng phương án? Những trường hợp “ngoại lệ”, nếu có, nên được lý giải và giới hạn ra sao?

TS. Nguyễn Huy Quang: Trong nghị định hiện hành đã có quy định về việc này, căn cứ vào tính chất, mức độ và điều kiện của từng địa phương. Chẳng hạn, với khách sạn, nhà hàng, Chính phủ có quy định cụ thể. Tuy nhiên, chúng ta chưa có tiêu chí định lượng rõ ràng để đánh giá. Vì thế, có thể nảy sinh tranh luận, chẳng hạn có người cho rằng mức độ chưa đến mức phải cấm.
Tôi mong các đại biểu Quốc hội đề nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét đưa ngay quy định cấm các địa điểm này vào luật, thay vì tiếp tục bàn về việc bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc. Tuy nhiên, việc thực hiện cũng cần có lộ trình, không nên triển khai quá đột ngột. Có thể bắt đầu từ sân bay, tàu thủy, tàu hỏa; sau đó đến quán bar, karaoke, vũ trường, rồi khách sạn và các cơ sở lưu trú.
PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Khi đến Tokyo, tôi thấy có khu vực cấm hút thuốc cả trong nhà và ngoài trời, không chỉ trong trường học mà cả khu dân cư xung quanh. Người hút thuốc phải vào các buồng riêng; cách làm này vừa bảo vệ người xung quanh, nhất là trẻ em, vừa bảo đảm quyền được hít thở không khí sạch. Tôi ủng hộ mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn. Nhà hàng đã thuộc diện cấm theo luật trước, còn khách sạn, quán bar, karaoke, vũ trường vẫn được bố trí khu vực hút thuốc riêng. Mong rằng lần sửa đổi này sẽ đưa các địa điểm đó vào diện cấm hoàn toàn.
Làm rõ trách nhiệm người quản lý và thẩm quyền xử lý vi phạm
Bên cạnh việc mở rộng phạm vi cấm hút thuốc, vấn đề bảo đảm thực thi các quy định cũng là nội dung được Tọa đàm tập trung thảo luận.
- Thưa TS. Nguyễn Huy Quang, Điều 14 đang được góp ý theo hướng làm rõ quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc. Theo ông, nên phân định nghĩa vụ yêu cầu chấm dứt vi phạm, ghi nhận sự việc, chuyển thông tin và thẩm quyền xử lý như thế nào?

TS. Nguyễn Huy Quang: Trong luật hiện hành đã quy định trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của các cơ sở công cộng. Cần hiểu rằng hành vi hút thuốc diễn ra rất nhanh. Người hút chỉ cần hút vài hơi, trong khoảng 20 giây, là cơn thèm thuốc đã dịu đi. Nếu không có camera thì cơ sở khó phát hiện; kể cả có camera cũng chưa chắc biết người hút thuốc là người ở đâu.
Vì vậy, quy định cấm hút thuốc chủ yếu nhằm định hướng hành vi. Khi mọi người biết nơi công cộng có quy định cấm, họ sẽ nhắc nhở nhau và tự giác thực hiện. Tuy nhiên, việc này không thể triệt tiêu hoàn toàn các hành vi vi phạm.
Luật hiện hành và dự thảo sửa đổi đều nhấn mạnh vai trò của chủ cơ sở. Chẳng hạn, nếu khách hút thuốc trong quán bar thì có thể xử phạt người hút thuốc và cả chủ cơ sở. Mức phạt đối với chủ cơ sở không tính theo cá nhân mà theo tổ chức. Theo quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, nếu cá nhân bị phạt 10 triệu đồng thì tổ chức bị phạt 20 triệu đồng. Tôi cho rằng cần quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ sở thì việc thực hiện mới có hiệu quả.
Vấn đề thứ hai là cần có cơ chế kiểm soát phù hợp. Không phải lúc nào công an, chủ tịch xã hay chủ tịch phường cũng có thể có mặt tại nơi xảy ra vi phạm. Vì vậy, người đứng đầu cơ sở cần xây dựng quy chế nội bộ, phổ biến cho nhân viên những hành vi nào không được phép và cách nhắc nhở khách khi họ hút thuốc. Việc nhắc nhở cũng cần có kỹ năng, tránh khiến khách bức xúc, dẫn đến va chạm.
Vai trò của người đứng đầu cơ sở rất quan trọng. Cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan y tế, cần hướng dẫn các cơ sở cách phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật về hút thuốc nơi công cộng và các quy định liên quan. Khi được hướng dẫn, nhân viên có thể nhắc nhở khách và lập biên bản vi phạm. Cơ sở không có thẩm quyền xử phạt nhưng có thể chuyển biên bản đến cơ quan chức năng để xử lý.
Theo tôi, cần kết hợp cơ chế nội bộ tại cơ sở với cơ chế kiểm tra, xử lý của cơ quan chức năng để việc thực thi pháp luật đạt hiệu quả hơn.
- Thưa bà Hạnh, trong phần ý kiến về xử lý vi phạm, có ý kiến cho rằng mục tiêu giảm tiếp xúc thụ động với khói thuốc tại nhà hàng của Chiến lược quốc gia chưa đạt; một ý kiến khác nhận xét số trường hợp bị xử lý vi phạm hành chính về hút thuốc tại nơi công cộng còn rất hạn chế. Từ thực tế xây dựng môi trường không khói thuốc, bà thấy những khó khăn chủ yếu nằm ở khâu phát hiện hành vi, giám sát hay duy trì việc tuân thủ tại cơ sở? Những biện pháp nào có thể cải thiện tình hình?
PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Từ kinh nghiệm triển khai nghiên cứu về môi trường không khói thuốc tại Cầu Giấy và Vĩnh Phúc, tôi thấy khó khăn tồn tại ở cả ba khâu.
Trước hết là phát hiện vi phạm. Hành vi hút thuốc thường diễn ra nhanh, nên rất khó phát hiện và xử lý kịp thời. Chủ nhà hàng không có thẩm quyền xử phạt; ngay cả hiệu trưởng cũng không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ có thể lập biên bản. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý hành vi vi phạm trên thực tế còn nhiều khó khăn.
Thứ hai là công tác giám sát. Thời gian qua, việc giám sát tình hình thực hiện môi trường không khói thuốc chủ yếu dựa vào các cuộc điều tra quy mô quốc gia, thường được thực hiện hai năm một lần. Chúng tôi đã triển khai các đợt điều tra vào năm 2020, 2022, 2024 và đang thực hiện trên toàn quốc. Những cuộc điều tra này cung cấp số liệu phục vụ hoạch định chính sách, nhưng ở cấp xã, phường lại thiếu dữ liệu để biết cơ sở nào trên địa bàn đang vi phạm.
Chẳng hạn, một phường có hơn 100 nhà hàng, khách sạn, quán cà phê nhưng địa phương không có số liệu cụ thể về cơ sở nào đang vi phạm để kiểm tra, xử lý. Vì thế, công tác giám sát tại cơ sở còn hạn chế.
Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là việc thực thi tại các cơ sở. Người đứng đầu, chủ cơ sở, người quản lý và nhân viên chưa nhận thức đầy đủ về quy định pháp luật. Dù luật đã được ban hành từ năm 2013, nhiều người vẫn chưa biết cơ sở của mình có thuộc diện cấm hút thuốc hoàn toàn hay không, mức phạt thế nào, cũng như cách trao đổi, nhắc nhở khách khi phát hiện hành vi hút thuốc.
Kiến thức, nhận thức và kỹ năng của những người làm việc tại các địa điểm này còn hạn chế nên việc thực thi chưa nghiêm. Theo quy định, cơ sở phải lắp biển cấm hút thuốc và có nội quy, nhưng trên thực tế, rất ít nơi thực hiện đầy đủ. Một số cơ sở có lắp biển nhưng chỉ làm cho có; biển nhỏ, đặt ở vị trí quá cao nên khách khó quan sát. Những vấn đề này cho thấy việc thực thi tại cơ sở còn nhiều thách thức. Trong nghiên cứu, chúng tôi cũng tìm hiểu khó khăn của địa phương, đồng thời phối hợp xây dựng mô hình môi trường không khói thuốc để rút kinh nghiệm, hướng tới khả năng nhân rộng tại các địa phương khác trong năm tới.

- Có ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị xem xét quy định cấm hút thuốc tại nơi có nguy cơ cháy, nổ cao; đồng thời làm rõ quy định về hút thuốc trên một số phương tiện giao thông công cộng. Dự thảo cũng đề cập đến cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Theo PGS.TS. Trần Thị Tuyết Hạnh, cần dựa trên những tiêu chí nào về mức độ phơi nhiễm khói thuốc, nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và điều kiện không gian để xác định địa điểm cấm hút thuốc?
PGS.TS. Trần Thị Tuyết Hạnh: Theo tôi, có một số yếu tố cần cân nhắc. Thứ nhất là mức độ kín của không gian; thứ hai là thời gian mọi người ở đó. Thời gian lưu lại càng lâu thì mức độ phơi nhiễm càng lớn; không gian càng kín thì các chất ô nhiễm càng có khả năng lưu lại lâu. Bên cạnh đó, cũng cần xem xét địa điểm đó có đông người lui tới hay không.
Tôi rất ủng hộ đề xuất đưa cơ sở chăm sóc người cao tuổi vào danh sách địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà và trong khuôn viên. Trước đây, luật quy định cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà và trong khuôn viên tại những nơi dành cho trẻ em, nhưng chưa có quy định tương tự đối với cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Trong khi đó, người cao tuổi là nhóm có nguy cơ cao do thường có bệnh nền; phơi nhiễm với khói thuốc có thể làm tăng nguy cơ nhập viện và tử vong. Vì vậy, tôi ủng hộ đề xuất cấm hút thuốc hoàn toàn tại các cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cả trong nhà và trong khuôn viên.
Đối với những nơi có nguy cơ cháy, nổ cao hoặc hành vi hút thuốc khi tham gia giao thông, việc quy định và thực thi có thể khó khăn. Chẳng hạn, người đi xe máy hút thuốc có thể chỉ phơi nhiễm với khói thuốc trong thời gian ngắn, nhưng tàn thuốc có thể bay vào mắt người đi bên cạnh. Nếu đưa hành vi này vào luật phòng, chống tác hại của thuốc lá thì việc thực thi sẽ khó. Có thể nghiên cứu xử lý hành vi gây mất an toàn cho người tham gia giao thông trong khuôn khổ pháp luật về giao thông đường bộ.
Đối với nơi có nguy cơ cháy, nổ, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy đã có quy định cấm hút thuốc. Vì vậy, nội dung này có thể đã được điều chỉnh trong các quy định hiện hành.
Theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá có hiệu lực từ năm 2013, những nơi có nguy cơ cháy, nổ cao đã thuộc diện cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà và trong khuôn viên. Tuy nhiên, luật chưa cụ thể hóa danh mục những địa điểm có nguy cơ cháy, nổ cao. Có thể cần phối hợp với cơ quan phòng cháy, chữa cháy để xác định danh mục này, giúp quy định được áp dụng rõ ràng hơn.
- Có kiến nghị bổ sung trách nhiệm kiểm tra định kỳ của UBND cấp xã, trách nhiệm tiếp nhận, xử lý của Công an cấp xã và sử dụng hình ảnh, dữ liệu hợp pháp để xác minh vi phạm. Thưa TS. Nguyễn Huy Quang, để những đề xuất này thực sự khả thi, cần quy định rõ đến mức nào về thẩm quyền, quy trình, chứng cứ và trách nhiệm phối hợp?
TS. Nguyễn Huy Quang: Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện hành đã quy định thẩm quyền của các chức danh trong hoạt động công vụ, dịch vụ công, trong đó có Chủ tịch UBND cấp xã.
Theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, cấp tỉnh và cấp xã, trách nhiệm của cấp xã rất lớn. Chủ tịch UBND cấp xã không chỉ giám sát việc thực hiện quy định về thuốc lá mà còn phải theo dõi nhiều lĩnh vực khác như an toàn thực phẩm, rượu, bia, đồ uống có đường và nhiều vấn đề khác.
Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền nhưng sẽ phân công các cơ quan chức năng thực hiện. Chẳng hạn, trạm y tế xã, phường hỗ trợ triển khai; đồng thời phối hợp với công an địa phương để kiểm tra, giám sát các cơ sở. Theo tôi, nội dung này không cần quy định thêm trong luật vì thẩm quyền đã có. Vấn đề hiện nay là tăng cường khả năng thực thi, chứ không phải luật còn khoảng trống.
Điều quan trọng là đưa công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương, trở thành một chỉ tiêu về phát triển bền vững và bảo đảm an toàn sức khỏe con người. Nếu không thực hiện được chỉ tiêu này, địa phương sẽ không đạt chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền, dù có tích cực ở các lĩnh vực khác.
Theo tôi, trách nhiệm đã rõ, nhưng cần được đưa vào chương trình phát triển kinh tế – xã hội và gắn với sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Trong đó, ngành y tế giữ vai trò nòng cốt, cơ quan công an giữ vai trò chủ đạo. Sự phối hợp của các cơ quan sẽ giúp việc thực hiện hiệu quả hơn.
Đề xuất nâng diện tích cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá lên tối thiểu 85%
- Thưa PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị quy định diện tích cảnh báo sức khỏe tối thiểu 85% trên mỗi mặt chính trước và sau của bao bì thuốc lá. Đồng thời, có ý kiến đề nghị quy định lộ trình hoặc thời gian chuyển tiếp hợp lý và đánh giá chi phí tuân thủ. Theo bà, bằng chứng về truyền thông nguy cơ và thay đổi hành vi cho thấy việc tăng diện tích cảnh báo có tác động như thế nào? Ngoài tỷ lệ diện tích, cần chú trọng những yếu tố nào về hình ảnh, thông điệp và cách thể hiện để cảnh báo đạt hiệu quả?
PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Bao thuốc lá là phương tiện để truyền tải thông điệp, hình ảnh đến người hút thuốc. Một người hút một bao mỗi ngày có thể nhìn thấy bao thuốc khoảng 20 lần. Vì vậy, tăng cường cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì được chứng minh là một trong những giải pháp quan trọng trong phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã dành 85% diện tích bao thuốc lá cho cảnh báo bằng hình ảnh. Trong khi đó, như Tiến sĩ Nguyễn Huy Quang đã đề cập, Việt Nam vẫn duy trì tỷ lệ 50% suốt 13 năm qua. Tôi cho rằng đây là thời điểm cần quy định cụ thể trong luật, nâng diện tích cảnh báo sức khỏe lên 85%, thay vì tiếp tục chờ lộ trình.
Cảnh báo sức khỏe không chỉ giúp người đang hút thuốc có thêm động lực bỏ thuốc mà còn có thể làm giảm ý định bắt đầu hút ở những người chưa hút. Trên thế giới, một số quốc gia còn áp dụng bao thuốc lá trơn, không in thông tin quảng bá về thuốc lá. Trong khu vực Đông Nam Á hiện có bốn quốc gia áp dụng bao trơn. Cùng với cảnh báo sức khỏe, biện pháp này nhằm hạn chế việc các công ty thuốc lá sử dụng bao bì để quảng bá sản phẩm.
TS. Nguyễn Huy Quang: Cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc khác với những hình thức truyền thông đại chúng khác. Đây là hình thức truyền thông trực tiếp, trực diện. Người hút thuốc nhìn vào bao bì có thể thấy ngay những nguy cơ như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ảnh hưởng đến con cái hoặc sức khỏe sinh sản.
Người hút thuốc lấy bao thuốc ra nhiều lần trong ngày nên liên tục nhìn thấy hình ảnh cảnh báo. Không chỉ người hút thuốc, những người xung quanh cũng có thể nhìn thấy bao bì và tiếp nhận thông điệp cảnh báo.
Hiện diện tích cảnh báo bằng hình ảnh là 50%. Khi tem được dán lên bao thuốc, một phần cảnh báo có thể bị che khuất. Vì vậy, cần tăng diện tích cảnh báo. Khi diện tích cảnh báo lớn hơn, phần diện tích dành cho doanh nghiệp quảng bá hình ảnh trên bao bì cũng sẽ thu hẹp.
Một ưu điểm khác là truyền thông đại chúng cần kinh phí, trong khi với cảnh báo trên bao thuốc, Nhà nước quy định mẫu hình và doanh nghiệp thuốc lá phải in trên sản phẩm. Chi phí này có thể được tính vào giá bán, do người hút thuốc chi trả, nhưng cảnh báo có thể được truyền tải trực tiếp và lặp lại thường xuyên.
Cách đây 13 năm, Việt Nam quy định diện tích cảnh báo là 50% và hiện vẫn giữ nguyên tỷ lệ này. Trong khi đó, Brunei và Timor-Leste áp dụng mức 92,5%; Thái Lan là 85%; một số quốc gia khác là 75%. Việt Nam hiện có tỷ lệ tương đương Philippines và Indonesia.
Theo thứ hạng được nêu trong phần trình bày, năm 2013 Việt Nam đứng khoảng thứ 29; sau 13 năm, thứ hạng hiện ở vị trí 95. Như vậy, thứ hạng của chúng ta đã lùi lại thay vì được cải thiện. Vì vậy, cần tăng diện tích cảnh báo bằng hình ảnh, đồng thời hướng tới lộ trình áp dụng mức 90% hoặc bao thuốc lá trơn. Tuy nhiên, trong số ý kiến của 19 đại biểu Quốc hội được thống kê, có đề nghị nâng diện tích cảnh báo sức khỏe lên 85%, nhưng nội dung này chưa được quy định cụ thể trong luật mà tiếp tục giao Chính phủ quy định. Nếu luật đưa được tỷ lệ này vào thì sẽ tốt hơn; nếu không, việc thực hiện vẫn phải chờ quy định của Chính phủ trên cơ sở đề xuất của Bộ Y tế.
Về hình ảnh cảnh báo, trước đây Việt Nam sử dụng sáu mẫu. Hiện nay, Bộ Y tế đang nghiên cứu để đề xuất bộ hình ảnh mới. Hội đồng đã thống nhất 12 mẫu và đang bàn về thời gian thay đổi, có thể một hoặc hai năm một lần, để tránh gây nhàm chán.
Bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá
Một nội dung khác được đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật là nguồn lực tài chính dành cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá, nhất là khi các quy định pháp luật liên quan đến Quỹ có sự thay đổi.
- Có ý kiến băn khoăn về nguồn lực tài chính cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá khi quy định pháp luật liên quan đến Quỹ có thay đổi. Thưa TS. Nguyễn Huy Quang, để tránh tình trạng tăng nhiệm vụ nhưng thiếu nguồn lực, việc bảo đảm kinh phí, trách nhiệm phân bổ và cơ chế giám sát sử dụng nguồn lực cần được đặt ra như thế nào trong quá trình hoàn thiện pháp luật?
TS. Nguyễn Huy Quang: Đây là câu hỏi rất khó, bởi để một văn bản quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, cần có nguồn lực tổ chức thực hiện.
Nguồn quỹ hiện nay chủ yếu đến từ khoản đóng góp bắt buộc của các doanh nghiệp thuốc lá, bên cạnh nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt. Chúng ta đã tăng thuế, nhưng nguồn quỹ hiện vẫn chủ yếu là khoản đóng góp bắt buộc 1,5% - 2%. Quỹ không chỉ chi cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá mà còn phục vụ công tác phòng bệnh nói chung, gồm phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm và các yếu tố nguy cơ như dinh dưỡng, môi trường, thể dục thể thao, hành vi, lối sống. Một trụ cột khác là phòng, chống tai nạn, thương tích. Trước đây, quỹ chỉ chi cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá; hiện nay, phạm vi chi đã mở rộng sang công tác phòng bệnh.
Theo tôi, việc mở rộng này cũng có mặt tích cực, bởi công tác tuyên truyền không nhất thiết chỉ tập trung vào thuốc lá mà có thể gắn với phòng bệnh nói chung. Tuy nhiên, vẫn cần ưu tiên một khoản ngân sách riêng cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá. Trong dự toán ngân sách năm 2026, chúng ta đã tính đến vấn đề này và chuẩn bị cho sự ổn định, tổ chức thực hiện trong năm 2027. Với nguồn ngân sách hiện nay, nếu được phân bổ ưu tiên cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá thì đó cũng là hướng tích cực.
Bên cạnh đó, chúng ta không nên chỉ trông chờ vào khoản đóng góp bắt buộc của doanh nghiệp thuốc lá. Tôi từng đề nghị rượu, bia cũng cần có khoản đóng góp bắt buộc; đồ uống có đường, vốn gây ra tình trạng béo phì, cũng nên có khoản đóng góp như vậy. Ngân sách không đủ chi thì cần có thêm nguồn lực. Khi đã bổ sung được các nguồn, cần phân bổ hợp lý. Dù được hình thành từ nguồn đóng góp trực tiếp, quỹ này vẫn là một phần của ngân sách nhà nước.
Một điểm tôi muốn lưu ý là nếu nguồn lực còn thiếu thì Nhà nước cần phát huy vai trò dẫn dắt, định hướng và bảo đảm kinh phí từ ngân sách. Chi cho dự phòng chủ động, tích cực là rất quan trọng. Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị về đột phá trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng đặt ra yêu cầu coi trọng phòng bệnh hơn chữa bệnh, do đó cần đầu tư cho công tác phòng bệnh.
Nếu chi 1 USD cho phòng bệnh, chúng ta có thể tránh được khoản chi từ 8 đến 12 USD để chữa bệnh. Nếu không phòng ngừa, để bệnh tật xảy ra, Nhà nước có thể phải chi gấp 8 đến 10 lần. Tổ chức Y tế thế giới cũng đã khuyến cáo các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam, về hiệu quả của đầu tư cho phòng bệnh.
- Thưa PGS. TS Trần Thị Tuyết Hạnh, bên cạnh việc sửa quy định, những giải pháp cụ thể nào giúp địa phương, nhà trường, cơ sở y tế và các cơ sở dịch vụ duy trì môi trường không khói thuốc? Theo bà, cần ưu tiên hoạt động truyền thông, hỗ trợ chuyên môn, theo dõi mức độ phơi nhiễm và giám sát tuân thủ ra sao để nguồn lực dành cho phòng, chống tác hại của thuốc lá được sử dụng hiệu quả?
PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Như Tiến sĩ Nguyễn Huy Quang đã chia sẻ, trước đây chúng ta có Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá, còn hiện nay là Quỹ Phòng bệnh. Trong hơn 10 năm qua, cứ 10 đồng chi cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá thì có 9,7 đồng đến từ Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Với nguồn kinh phí đó, nhiều hoạt động đã được triển khai, nhưng thực tế vẫn còn không ít khó khăn.
Để tăng cường thực hiện môi trường không khói thuốc tại các cơ sở, chính quyền địa phương và người đứng đầu cấp xã cần nhìn nhận đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe cộng đồng, xây dựng địa phương có lối sống văn minh, bắt kịp xu hướng thế giới. Môi trường trong lành, không khói thuốc cũng có thể góp phần thu hút khách du lịch. Gần 99% phụ nữ Việt Nam không hút thuốc; tỷ lệ hút thuốc ở phụ nữ chỉ khoảng 1,1–1,7%. Vì vậy, xây dựng môi trường không khói thuốc cũng có thể tạo động lực cho phát triển văn hóa, du lịch tại địa phương.
Nếu người đứng đầu xác định đây là nhiệm vụ quan trọng và đưa ra chỉ tiêu cụ thể thì sẽ có cơ sở để đánh giá kết quả. Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi làm việc với chính quyền địa phương, chúng tôi cùng xác định chỉ tiêu, chẳng hạn trên địa bàn có 50% cơ sở phát hiện nicotine trong không khí thì trong năm tới cần giảm tỷ lệ này xuống còn bao nhiêu.
Thứ hai, cần tập huấn nâng cao năng lực và cung cấp tài liệu hỗ trợ cho địa phương, cơ sở. Những tài liệu này cần hướng dẫn về kỹ năng thực hiện, kích thước và vị trí treo biển báo, quy định pháp luật cũng như cách ứng xử khi khách hút thuốc tại cơ sở.
Thứ ba, cần tăng cường giám sát. Trên thế giới không có đủ nguồn lực để kiểm tra, xử phạt tất cả các cơ sở. Tuy nhiên, việc kiểm tra, xử phạt một số cơ sở và truyền thông rộng rãi về các trường hợp vi phạm có thể tạo tác động lớn.
Tôi cho rằng sự phối hợp giữa cơ quan công an và ngành y tế rất quan trọng. Hai lực lượng có thể kiểm tra một số cơ sở, xử phạt đúng quy định và thông tin rộng rãi về các trường hợp vi phạm. Qua đó, người dân và các cơ sở hiểu rõ quy định, trách nhiệm của mình và thực hiện pháp luật tốt hơn, để luật không chỉ nằm trên giấy mà đi vào cuộc sống.
Những vấn đề cần ưu tiên khi hoàn thiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá
Khép lại phần trao đổi chuyên môn, từ các vấn đề đã đặt ra, việc hoàn thiện pháp luật không chỉ liên quan đến mở rộng địa điểm cấm hút thuốc hay điều chỉnh cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá mà còn gắn với trách nhiệm quản lý, thẩm quyền xử lý, cơ chế phối hợp, lộ trình thực hiện và nguồn lực bảo đảm.
- Hai chuyên gia có thể cho biết những kiến nghị ưu tiên nào cần được ưu tiên xem xét, hoàn thiện để khắc phục những bất cập hiện nay, đồng thời bảo đảm tính khả thi và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá?

TS. Nguyễn Huy Quang: Tôi xin phát biểu với tư cách một chuyên gia, nhưng cũng là một người dân. Tôi rất mong lần sửa đổi này sẽ giải quyết được những vấn đề cần thiết. Luật đã có hiệu lực 13 năm mới được sửa đổi. Nếu lần này chưa làm được thì có thể phải 13 năm nữa chúng ta mới sửa đổi. Khi ấy, một đứa trẻ sinh ra hôm nay đã bước vào tuổi thiếu niên. Việc chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Theo tôi, luật lần này cần có quy định chặt chẽ về việc cấm sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, khuyến mại, tài trợ, lưu trữ và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, các sản phẩm chứa nicotine và shisha.
Thứ hai, cần kiên trì quy định cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán. Thứ ba, cần đưa ngay vào luật quy định cảnh báo sức khỏe chiếm 85% diện tích bao thuốc lá, đồng thời xác định lộ trình tiến tới bao thuốc lá trơn.
Thứ tư, cần quy định về môi trường không khói thuốc. Càng mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn thì càng bảo đảm quyền được sống trong môi trường không khói thuốc của người dân.
PGS.TS Trần Thị Tuyết Hạnh: Tiến sĩ Nguyễn Huy Quang đã chia sẻ khá đầy đủ. Tôi xin bổ sung rằng mình cũng rất kỳ vọng và ủng hộ đề xuất của các đại biểu Quốc hội về việc mở rộng các địa điểm công cộng cấm hút thuốc hoàn toàn, không bố trí khu vực hút thuốc riêng. Những nơi như khách sạn, quán bar, vũ trường cần được đưa vào diện này.
Để thực hiện, luật cần quy định lộ trình ngắn, khoảng một đến hai năm, chứ không nên kéo dài. Tôi cũng mong muốn các cơ sở chăm sóc người cao tuổi được quy định là nơi cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà và trong khuôn viên, tương tự các địa điểm dành cho trẻ em.
Nếu thực hiện được, những quy định này sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, hạn chế tình trạng hàng triệu người Việt Nam phải phơi nhiễm với khói thuốc thụ động trong những năm tới. Đây không phải là hạn chế quyền của người hút thuốc mà là bảo vệ sức khỏe cộng đồng.