Hoan hỉ tiếu tượng Chùa Ông
Trải qua hơn ba thế kỷ hiện diện trên đất Cù Lao Phố, Thất Phủ Cổ Miếu - Chùa Ông không chỉ là di tích tín ngưỡng đặc sắc, mà còn là không gian văn hóa, tâm linh, gắn bó mật thiết với đời sống người dân mỗi độ Tết đến, Xuân về.
Màu thời gian trên nóc miếu cổ
Tọa lạc tại Cù Lao Phố, nay thuộc phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai, Thất Phủ Cổ Miếu – còn được người dân quen gọi là Chùa Ông – là một trong những di tích tín ngưỡng lâu đời, tiêu biểu cho quá trình giao thoa văn hóa Việt – Hoa ở vùng đất Nam Bộ.
Theo sử liệu, ngôi miếu ban đầu mang tên Vọng Hải Quan Đế miếu, được khởi dựng vào năm 1684, chỉ năm năm sau khi tướng quân Trần Thượng Xuyên dẫn hơn 3.000 người Hoa trên 50 thuyền đến Đàng Trong xin thần phục và được Chúa Nguyễn Phước Tần cho phép định cư tại vùng đất này.
Theo ông Trần Quang Toại, thành viên Ban cố vấn Thất Phủ Cổ Miếu, trải qua thời gian, ngôi miếu hiện vẫn giữ nguyên lối kiến trúc truyền thống từ hàng trăm năm nay. Vật liệu xây dựng chủ yếu là đá xanh Bửu Long, gạch, gốm và hệ mái lợp ngói âm dương. Bố cục tổng thể theo kiểu “nội công – ngoại quốc”, gồm tiền điện, trung điện, hậu điện nối tiếp nhau; hai bên là dãy nhà tả ban, hữu ban bố trí cân xứng, thể hiện kiến trúc chặt chẽ, hài hòa.
Điểm nhấn đặc biệt ở tiền điện chính là hệ thống tượng trang trí cầu kỳ với cả trăm nhân vật trên nóc mái bằng gốm men xanh do Bửu Nguyên – một lò gốm nổi tiếng ở Sài Gòn (Chợ Lớn) sản xuất vào năm Giáp Ngọ (1894). Kiểu thức này được gọi là “tiểu tượng” (tượng nhỏ) còn gọi là con giống. Các mảng tượng mô tả, phỏng lại các hoạt cảnh từ các tích truyện và đời sống thường nhật sống động “y như thật” chỉ có điều kích thước nhỏ (khoảng 20cm) mà thôi.
Nhưng cũng lại có người cho rằng, tên gọi của loại hình trang trí này là “tiếu tượng” hay “hý tượng” nghĩa là tượng vui. Bởi các pho tượng đều được tạo tác với nét cười và thần thái vui tươi, sinh động. Chữ “tiếu” mang nghĩa là cười, nhằm nhấn mạnh biểu cảm gần gũi, đời thường của nhân vật. Cách gọi “tiểu tượng” mới chỉ nói đến kích thước nhỏ mà chưa phản ánh hết giá trị nghệ thuật và tinh thần biểu cảm của những pho tượng nhỏ ngộ nghĩnh, độc đáo này.
Bên cạnh các mảng phù điêu tạo hình người sinh hoạt, hệ tượng trang trí ở nóc mái Chùa Ông còn có những hình tượng mang tính tượng trưng với ý nghĩa sâu sắc. Ở chính giữa nóc điện là hình tượng long ngư hý châu, con cá chép như đang lao mình phóng lên khỏi trùng điệp sóng nước – năm ngọn sóng dâng cao nâng đỡ trái ngọc châu. Đăng đối hai bên là hai “cá chép hóa rồng” (đuôi cá, đầu rồng), nối ra xa hơn về hai đầu nóc mái là cặp “phượng hoàng hàm thư”, quay đầu lại nhìn trái châu.
Đặc biệt ở hai đầu chóp của mái là tượng hai vị thần: ông Nhật, bà Nguyệt. Ông Nhật tạo hình là ông lão râu dài bạc phơ, một chân đá lên cao, tay vuốt râu, tay giơ lên tấm kiếng hình tròn có nhữ Nhật (mặt trời). Bà Nguyệt tạo hình là người phụ nữ, tay trái chống nạnh, tay phải giơ vầng trăng vàng có chữ Nguyệt (mặt trăng). Hình tượng Nhật – Nguyệt phản ánh triết lý về sự vận hành của vũ trụ âm dương, ngày đêm tuần hoàn nói lên ước muốn về sự hài hòa, bảo hộ cho dân gian có cuộc sống ổn định, thái bình.
Không chỉ mang giá trị trang trí, những mảng tượng trên nóc mái Chùa Ông còn phản ánh trình độ thẩm mỹ, kỹ thuật thủ công tinh xảo và dấu ấn giao thoa văn hóa bản địa trong nghệ thuật kiến trúc tín ngưỡng Nam Bộ. Qua thời gian hàng trăm năm dãi dầu mưa nắng và những biến thiên của thời cuộc, những mảng gốm này đã trở thành “tư liệu sống”, “báu vật thời gian”, góp phần khẳng định giá trị lịch sử – nghệ thuật độc đáo của Thất Phủ Cổ Miếu.
Điểm đến văn hóa mỗi độ xuân về
Mỗi dịp đầu năm, Thất Phủ Cổ Miếu – Chùa Ông trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa của cả cộng đồng người Hoa và người Việt. Người dân, du khách đến dâng hương, cầu an đầu năm, thực hiện các nghi lễ truyền thống với mong muốn một năm mới bình an, thuận lợi. Trong không khí xuân rộn ràng thường diễn ra các hoạt động như cho chữ thư pháp, thả đèn hoa đăng, biểu diễn múa lân - sư - rồng trong khuôn viên miếu và khu vực lân cận, tạo không khí rộn ràng, mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, đón may mắn đầu năm.
Ngoài ra mỗi năm, lễ vía Quan Thánh Đế Quân được tổ chức long trọng với đầy đủ nghi thức truyền thống như tế lễ, múa lân – rồng, rước kiệu Quan Công. Các hoạt động lễ hội không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết giữa cộng đồng người Hoa và người Việt, đồng thời trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của vùng Trấn Biên – Đồng Nai.

Nhiều du khách cho biết, việc đến Chùa Ông đầu năm đã trở thành “nếp” văn hóa. “Mỗi dịp Tết, tôi đều cùng gia đình đến chùa dâng hương, cầu mong một năm mới bình an, làm ăn thuận lợi. Không gian nơi đây mang lại cảm giác trang nghiêm nhưng rất gần gũi”, ông Phạm Khánh Nguyên (ngụ tại xã Long Thành, tỉnh Đồng Nai) chia sẻ.
Theo ông Thái Hữu Nghĩa, Trưởng Ban trị sự Thất Phủ Cổ Miếu, trong bối cảnh đô thị hóa nhanh của tỉnh Đồng Nai, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích đang đặt ra nhiều thách thức. Dù đã trải qua nhiều đợt trùng tu, một số hạng mục như chi tiết gỗ, tượng thờ, hoành phi, liễn đối cổ vẫn đối mặt nguy cơ xuống cấp theo thời gian.
Để bảo tồn lâu dài, các chuyên gia và Ban trị sự đề xuất triển khai bảo tồn tổng thể gắn với ứng dụng công nghệ số, như số hóa tư liệu Hán Nôm, lập hồ sơ 3D kiến trúc, phục dựng nghi thức lễ hội bằng công nghệ thực tế ảo. Song song đó, việc tôn tạo cảnh quan và phát triển du lịch văn hóa – tâm linh cần được thực hiện bài bản, có định hướng. Thất Phủ Cổ Miếu được kỳ vọng trở thành điểm nhấn trong tuyến du lịch “Cù Lao Phố – Thất Phủ Cổ Miếu – Đình Bình Trước – Chùa Long Sơn Thạch Động”, góp phần hình thành sản phẩm du lịch đặc thù, giàu bản sắc của Đồng Nai mỗi dịp xuân về.
Năm 2001, Thất Phủ Cổ Miếu (Chùa Ông) được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia. Đến năm 2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Lễ hội truyền thống Chùa Ông là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

