Hỗ trợ hàng thủ công mỹ nghệ tận dụng ưu đãi từ các FTA
Có lợi thế về nguồn nguyên liệu trong nước, kỹ thuật chế tác và giá trị văn hóa, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam thuộc nhóm ngành có tỷ lệ tận dụng giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi cao. Trong đó, phải kể đến hệ thống làng nghề ở Hà Nội với hàng loạt các chương trình hỗ trợ, nâng cao năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ giúp khai thác tốt hơn cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Lợi thế nguyên liệu nội địa tạo thuận lợi về xuất xứ
Các sản phẩm mây tre đan, gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ, thêu ren và hàng dệt thủ công có lợi thế nhờ sử dụng nhiều nguyên liệu sẵn có trong nước như tre, mây, gỗ, đất sét. Kết hợp với kỹ thuật chế tác và hàm lượng lao động cao, nguồn nguyên liệu nội địa tạo điều kiện để nhiều sản phẩm đáp ứng quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: EVFTA, CPTPP, UKVFTA và RCEP.
So với những ngành sản xuất phụ thuộc lớn vào linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu, một số nhóm hàng thủ công mỹ nghệ có khả năng chủ động tốt hơn về đầu vào. Giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở nguyên liệu mà còn được tạo ra qua các công đoạn thiết kế, tạo hình, chạm khắc, đan lát và hoàn thiện thủ công. Đây là lợi thế để doanh nghiệp xây dựng chuỗi sản xuất trong nước, đáp ứng tiêu chí xuất xứ phù hợp và nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường quốc tế.
Theo số liệu tổng hợp về tình hình tận dụng ưu đãi xuất xứ, trong khi tỷ lệ tận dụng C/O ưu đãi trung bình toàn quốc qua các FTA dao động khoảng 33 - 36%, các nhóm hàng thủ công mỹ nghệ như mây tre đan, gốm sứ và đồ gỗ thủ công thuộc nhóm có tỷ lệ cấp C/O ưu đãi cao, thường đạt từ 60% đến trên 80%. Riêng nhóm mây, tre, cói, thảm, tỷ lệ đề nghị cấp C/O mẫu EUR.1 để hưởng ưu đãi theo EVFTA, UKVFTA và C/O mẫu CPTPP được ghi nhận đạt khoảng 75 - 80% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các khu vực thị trường tương ứng.
Những tỷ lệ này cho thấy lợi thế về nguyên liệu và tổ chức sản xuất có thể hỗ trợ doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ khai thác ưu đãi thuế quan. Khi đáp ứng quy tắc xuất xứ, sản phẩm có cơ hội được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi theo từng FTA, qua đó cải thiện sức cạnh tranh về giá và gia tăng khả năng tiếp cận nhà nhập khẩu.
Về quy mô, nhóm mây, tre, cói, thảm đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 800 - 850 triệu USD mỗi năm. Riêng 8 tháng năm 2026, kim ngạch nhóm hàng này đạt khoảng 574 triệu USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Các thị trường đáng chú ý gồm: EU, Nhật Bản, Australia, Canada và Vương quốc Anh, trong đó những ưu đãi từ EVFTA, CPTPP và UKVFTA mở ra thêm cơ hội cho sản phẩm đáp ứng các điều kiện xuất xứ.
Nhóm gốm sứ mỹ nghệ và đồ trang trí duy trì kim ngạch xuất khẩu khoảng 600 - 700 triệu USD mỗi năm, với các thị trường trọng điểm như: Đức, Đan Mạch, Hà Lan, Nhật Bản và Anh. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành gỗ và sản phẩm gỗ đạt mức kỷ lục 16,3 tỷ USD, với các thị trường quan trọng gồm: EU, Anh, Nhật Bản, Canada và Australia.
Hà Nội hỗ trợ chuẩn hóa hồ sơ, mở rộng thị trường
Tại Hà Nội, nơi có nhiều làng nghề và cơ sở sản xuất mây tre đan, gốm sứ, đồ gỗ, thêu ren và hàng dệt thủ công, việc hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA luôn gắn với năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ và khả năng tiếp cận thị trường. Thời gian qua, Thành phố đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các FTA nhằm gia tăng xuất khẩu. Các hoạt động chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp hướng đến đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn bền vững, truy xuất nguồn gốc, thúc đẩy chuyển đổi số và theo dõi tình hình hoạt động để kịp thời tháo gỡ khó khăn trong phạm vi thẩm quyền.
Cùng với đó, Hà Nội triển khai các hoạt động thiết kế, sáng tạo mẫu sản phẩm, công nhận sản phẩm tiêu biểu và hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đồng thời bảo vệ môi trường. Thành phố cũng chú trọng xúc tiến thương mại, đăng ký thương hiệu, hỗ trợ truyền thông, tham gia hội chợ, triển lãm và phát triển sàn giao dịch điện tử cho hàng thủ công mỹ nghệ.
Đối với quy tắc xuất xứ, theo lãnh đạo Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại Hà Nội (TTKC&XTTM), việc hỗ trợ các cơ sở sản xuất quản lý nguồn nguyên liệu, hoàn thiện hồ sơ và nhận diện đúng tiêu chí xuất xứ của từng mặt hàng là yếu tố cần thiết. Các chương trình tập huấn, phổ biến kiến thức về FTA sẽ giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ thể làng nghề hiểu rõ hơn yêu cầu về chứng từ đầu vào, công đoạn sản xuất, cách xác định xuất xứ và quy trình đề nghị cấp C/O.
Theo lãnh đạo TTKC&XTTM, việc tận dụng tốt lợi thế từ các FTA thế hệ mới có thể tạo thêm động lực cho sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Thủ đô. Tuy nhiên, doanh nghiệp và làng nghề cần chủ động tìm hiểu hàng rào kỹ thuật, không ngừng đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực công nghệ nội tại để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường.