Hình phạt cảnh cáo trong Bộ luật hình sự

Tôi nghe nói người vi phạm pháp luật ngoài việc bị phạt tù còn có thể bị phạt cảnh cáo. Vậy những tội nào được áp dụng hình phạt cảnh cáo; điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý của loại hình phạt này đối với người vi phạm như thế nào?

Ông Trần Văn Thức ở Bạc Liêu hỏi: Tôi nghe nói người vi phạm pháp luật ngoài việc bị phạt tù còn có thể bị phạt cảnh cáo. Vậy những tội nào được áp dụng hình phạt cảnh cáo; điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý của loại hình phạt này đối với người vi phạm như thế nào?

- Điều 29 Bộ luật Hình sự (BLHS) có quy định hình phạt cảnh cáo đối với người vi phạm pháp luật hình sự: Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. 

Như vậy, phạm vi và điều kiện áp dụng loại hình phạt này là: Tội phạm mà người đó đã thực hiện là tội ít nghiêm trọng. Đó là các tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là đến ba năm tù, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS. Tội phạm mà người đó đã thực hiện phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. Tội mà người đó đã thực hiện chưa đến mức được miễn hình phạt theo quy định tại Điều 54 BLHS.

Hậu quả pháp lý duy nhất của người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo là họ phải mang án tích trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hình phạt cảnh cáo mà Toà án tuyên đối với người bị kết án đó là sự khiển trách công khai của Nhà nước tại phiên toà đó. Để phát huy vai trò của loại hình phạt này trong việc giáo dục người phạm tội thì cần được thông báo với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc chình quyền địa phương nơi người đó công tác, học tập hay cư trú về việc người đó bị Toà án áp dụng hình phạt cảnh cáo.

PLVN