Hiệu quả các chiến dịch truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình

Hiệu quả các chiến dịch truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình
Tại Hội thảo, các chuyên gia thông qua tham luận, phát biểu đã cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn quan trọng, góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách về gia đình Việt Nam gắn với mục tiêu phát triển con người toàn diện trong thời kỳ mới. (Ảnh: PV)

(PLVN) - Mặc dù khuôn khổ pháp lý ngày càng được hoàn thiện, thực tiễn cho thấy bạo lực gia đình (BLGĐ) tại Việt Nam vẫn diễn ra với mức độ đáng lo ngại. Trong bối cảnh đó, truyền thông chính sách là một công cụ quan trọng, không chỉ ở chức năng phổ biến pháp luật mà còn góp phần định hình nhận thức, thay đổi chuẩn mực xã hội và thúc đẩy hành vi phòng, chống BLGĐ.

Đẩy mạnh công tác truyền thông để giá trị gia đình không bị mai một

Tham luận tại Hội thảo “Xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam qua các thời kỳ - Thực trạng và giải pháp” do Bộ VH,TT&DL phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức ngày 24/6 nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026), Thạc sĩ Bùi Thị Hồng và Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cho biết, nguyên nhân của BLGĐ được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu dưới nhiều chiều cạnh khác nhau như do nhận thức, áp lực kinh tế, mâu thuẫn trong ứng xử giữa các thành viên, quản lý lỏng lẻo về mặt luật pháp, chính quyền... Nhưng nổi lên là 3 nhóm nguyên nhân chính: nguyên nhân về nhận thức, định kiến giới, nguyên nhân về mặt xã hội, nguyên nhân về mặt quản lý nhà nước.

Trong đó, về mặt quản lý nhà nước có thể thấy, ở nhiều nơi chưa xây dựng được kế hoạch và biện pháp giải quyết BLGĐ triệt để. Tại các cơ sở địa phương nơi xảy ra các hành vi BLGĐ, việc thiết lập và vận hành cơ chế phòng, chống BLGĐ chưa thực sự hiệu quả, vẫn còn để xảy ra những vụ BLGĐ chưa được phát hiện và xử lý, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

“Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, những biến đổi trong lối sống, trong cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình đã làm cho các giá trị gia đình truyền thống ngày càng mai một. Do vậy, việc đẩy mạnh công tác giáo dục, truyền thông, cung cấp kiến thức cho các thành viên trong gia đình về chủ trương, chính sách và luật pháp nhà nước liên quan đến gia đình, công tác phòng, chống BLGĐ là một giải pháp quan trọng, hữu ích góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân, đẩy lùi tình trạng BLGĐ”, Thạc sĩ Bùi Thị Hồng nhấn mạnh.

Trước hết, cần đẩy mạnh giáo dục về bình đẳng giới ngay từ sớm trong nhà trường. Việc lồng ghép kiến thức về quyền con người, vai trò bình đẳng giữa nam và nữ vào chương trình học sẽ giúp học sinh hình thành tư duy đúng đắn, tránh tiếp thu những quan điểm lỗi thời, định hình suy nghĩ tích cực lúc trưởng thành.

Thứ hai, xây dựng nội dung tuyên truyền, truyền thông phong phú, đa dạng tác động trực tiếp đến nhận thức và thay đổi hành vi, chú trọng đến các nhóm đối tượng trọng tâm. Cuối cùng, vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc lên án các hành vi bạo lực cũng rất quan trọng. Mỗi cá nhân cần thay đổi từ chính suy nghĩ và hành vi hằng ngày như không áp đặt vai trò giới cứng nhắc, nên tôn trọng quyền và tiếng nói của các thành viên trong gia đình.

Hình thức “thực thi mềm” trong quản lý nhà nước về gia đình

Bàn về vấn đề “Truyền thông trong phòng, chống BLGĐ, từ thực tiễn đến quản lý nhà nước”, TS Nguyễn Thị Thanh Thủy và Thạc sĩ Đinh Thị Nguyệt, Học viện Phụ nữ Việt Nam nêu quan điểm, thực tế đã và đang cho thấy, truyền thông là công cụ hữu hiệu để hỗ trợ cơ chế bảo vệ người bị BLGĐ.

Truyền thông chính sách là hình thức “thực thi mềm” trong quản lý nhà nước để ngăn chặn BLGĐ. (Nguồn: ST)
Truyền thông chính sách là hình thức “thực thi mềm” trong quản lý nhà nước để ngăn chặn BLGĐ. (Nguồn: ST)

Theo TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, trong cấu trúc chính sách công về phòng, chống BLGĐ, truyền thông không còn dừng lại ở vai trò hỗ trợ mà đã trở thành một công cụ thực thi mang tính nền tảng, trực tiếp tác động đến nhận thức, hành vi và mức độ tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong xã hội. Điều này được thể hiện rõ trong Luật Phòng, chống BLGĐ 2022, tại khoản 3 Điều 4 xác định “Chú trọng hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, hòa giải trong phòng, chống BLGĐ” là một nguyên tắc cơ bản. Đồng thời đặt ra trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức hoạt động thông tin, truyền thông.

Kết quả thực tiễn cũng cho thấy tác động trực tiếp của truyền thông đến hiệu quả chính sách. Theo báo cáo của Bộ VH,TT&DL, công tác truyền thông, giáo dục và phòng ngừa BLGĐ đã có sự lan tỏa mạnh mẽ, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cộng đồng. Cụ thể, có 90% trở lên hộ gia đình được tiếp cận thông tin, kiến thức về phòng, chống BLGĐ; 100% đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác phòng, chống BLGĐ các cấp được tập huấn nâng cao năng lực; tỷ lệ các vụ BLGĐ được xử lý theo quy định đạt 95% trở lên và có trên 85% người BLGĐ được tiếp cận các dịch vụ tư vấn tâm lý, pháp luật và các dịch vụ xã hội cơ bản.

Từ đó có thể khẳng định, truyền thông không đơn thuần là “kênh phổ biến pháp luật”, mà thực chất là điều kiện để pháp luật đi vào đời sống, hay nói cách khác, là một hình thức “thực thi mềm” trong quản lý nhà nước.

“Tại Việt Nam, các chiến dịch truyền thông như “Ngôi nhà bình yên” hay các chương trình tuyên truyền pháp luật về phòng, chống BLGĐ đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Truyền thông về phòng, chống BLGĐ không chỉ dừng lại ở việc nâng cao hiểu biết pháp luật, mà còn góp phần tái cấu trúc các chuẩn mực xã hội, chuyển dịch từ trạng thái “chấp nhận” sang “không dung thứ” đối với BLGĐ”, TS Nguyễn Thị Thanh Thủy nhấn mạnh.

Ở khía cạnh khác, theo TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, một trong những rào cản lớn nhất trong phòng, chống BLGĐ tại Việt Nam là sự “im lặng của nạn nhân”. Trên thực tế, nếu người bị BLGĐ không nhận thức được quyền của mình hoặc không biết cách tiếp cận các cơ chế hỗ trợ thì sẽ không tìm kiếm sự hỗ trợ.

“Trong bối cảnh đó, truyền thông đóng vai trò cầu nối các thông tin quan trọng giữa người bị BLGĐ và hệ thống bảo vệ chính thức. Thông qua việc phổ biến thông tin về đường dây nóng, nhà tạm lánh, cơ chế tố giác và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý..., truyền thông không chỉ góp phần nâng cao nhận thức mà còn thúc đẩy hành vi tìm kiếm sự trợ giúp từ phía người bị BLGĐ, góp phần phá vỡ vòng lặp bạo lực”, theo TS Nguyễn Thị Thanh Thủy.

Hồng Minh