Hải Phòng ứng phó với nước biển dâng- Nâng cấp đê biển và trồng rừng ngập mặn
Theo Tổ chức liên quốc gia về biến đổi khí hậu toàn cầu, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh sẽ là 2 trong 10 thành phố chịu ngập lụt nhất thế giới khi nước biển dâng cao 1 m. Qua số liệu quan trắc tại các trạm hải văn Hòn Dáu, mực nước biển Hải Phòng dâng cao trung bình 2,5 đến 3cm trong 1 thập qua. Một số vùng ven biển Hải Phòng xuất hiện tình trạng nước biển xâm thực vào bờ, khu vực bãi bồi, nhất là khu vực xã Phù Long, đảo Cát Hải; vùng bãi bồi ven đê biển 1, đê biển 2.
Tạo "bức tường xanh"
Hải Phòng có 125 km bờ biển với hệ thống đê sông, đê biển khá lớn: 422 km, trong đó, đê biển 104 km. Hiện nay, phần lớn đê biển của Hải Phòng có chiều rộng mặt đê 4-5m, cao trình phía biển 3,5 - 5m, đê thiết kế tiêu chuẩn cấp 3 chống đỡ được bão cấp 9 có triều thấp. Theo Chi cục trưởng Chi cục quản lý đê điều, sức đê của Hải Phòng hiện nay chỉ bảo đảm chống đỡ với những cơn bão từ cấp 9 trở xuống, khi không có triều cường. Còn nếu có triều cường thì nước dâng cao gần mặt đê, sóng đánh sẽ rất khủng khiếp. Thêm vào đó, đê biển có nhiều vấn đề, nhiều đoạn phức tạp, nhưng kinh phí quá lớn, thành phố không thể tu bổ, nâng cấp kiên cố ngay cùng một lúc. Để làm 1 km đê kiên cố, có thể chống bão từ cấp 9, 10 trở lên, ít nhất phải tiêu tốn 50-70 tỷ, có khi cả 100 tỷ đồng. Do vậy, Hải Phòng lựa chọn phương án phù hợp là vừa nâng cấp, tôn cao đê biển vừa tạo vành đai rừng chắn sóng bảo vệ đê cả phía trong và phía ngoài. Đối với những đoạn đê cực kỳ xung yếu, đối mặt trực diện với biển, thành phố đầu tư kinh phí lớn để bê tông hóa vững chắc.
Từ năm 2008, Hải Phòng bắt tay vào thực hiện chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng
Huy động tại chỗ- giải pháp tối ưu
Hướng đến mục tiêu đầu tư ít hơn mà hiệu quả cao, trong việc nâng cấp đê sông, đê biển và trồng rừng chắn sóng bảo vệ đê, Hải Phòng thực hiện triệt để phương châm “4 tại chỗ”. Chủ tịch UBND xã Đại Hợp (Kiến Thụy) Đồng Xuân Điển cho biết: “Từ kinh nghiệm trồng rừng ngập mặn, kết hợp gia cố đê đất ở địa phương, tôi thấy chi phí đầu tư trồng rừng và gia cố đê đất rẻ hơn 25% làm đê bê tông. Để phù hợp với điều kiện địa phương, xã huy động sức dân gia cố hơn 3 km đê biển 2 chạy dọc hai thôn Đông Tác, Quần Mục. Việc tu bổ đê hằng năm được xã huy động lực lượng, vật tư, giải pháp kỹ thuật, hậu cần tại chỗ, giảm thiểu rất nhiều về chi phí. Ngoài ra, xã phối hợp với các đơn vị, tổ chức trong nước và quốc tế trồng 450 ha rừng ngập mặn như bức tường xanh bảo vệ đê. Việc trồng và bảo vệ rừng cũng được duy trì với việc triển khai mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng”.
Cũng với cách làm này, nhiều xã, phường trên địa bàn thành phố duy trì được việc tu bổ đê điều hằng năm, với mức chi phí hợp lý. Việc tu bổ đê điều khẩn cấp, trồng và bảo vệ rừng ngập mặn thường được triển khai dựa vào cộng đồng, huy động sức dân tham gia. Các xã ven sông, ven biển còn xây dựng những mô hình phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng như cụm tàu an toàn, đội thanh niên tình nguyện, lực lượng xung kích sẵn sàng cho việc di dời dân khỏi khu vực nguy hiểm, chủ động ứng cứu hộ đê khi có bão. Thực hiện huy động sức dân theo phương châm “4 tại chỗ”là kinh nghiệm thành công, giải pháp hữu hiệu mà Hải Phòng sẽ tiếp tục thực hiện để ứng phó với biến đổi khí hậu lâu dài.
Hoàng Yên