Hải Phòng- nơi Tản Đà khởi nghiệp văn

Nước ta vốn xưng văn hiến từ lâu, đặc biệt lĩnh vực thi ca lại càng phát triển.

Nhà thơ đời Trần, Băng Hồ Trần Nguyên Đán (1325-1390) đã nhận định:

Đấu tướng tùng thần giai thức tự
Lại viên, tượng thị diệc năng thi.|
        
(Đề Quan Lỗ Bạ thi tập hậu)

(Tướng võ quan hầu đều biết chữ
Thợ thuyền thư lại cũng hay thơ).

Quả vậy, nhiểu tác giả có thi văn tập với hàng trăm bài có giá trị. Nhưng viết văn đối với các vị chỉ là nghề tay trái, chưa thấy ai sống bằng nghề viết văn. Mãi đến Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) mới thấy ông sống được bằng nghề này, dù chỉ “kiếm ăn xoàng” (Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng) như ông tự bạch. Nguyễn Khắc Hiếu sinh năm Mậu Tý, do cách chuyển ngày âm lịch ra dương lịch khác nhau nên có tài liệu ghi năm 1888 hoặc 1889. Ông là con trai của cử nhân Án sát sứ Nguyễn Danh Kế và bà ba Nhữ Thị Nghiêm, (Từ điển nhân vật: Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế ghi là Nguyễn Thị Hiền), một danh ca có học vấn ở Nam Định. Dòng họ Nguyễn Khắc Hiếu ở Khê Thượng, Bất Bạt Sơn Tây vốn là một vọng tộc, nhiều đời học hành, đậu đạt.

Tản Đà từ nhỏ đã được gia đình đào tạo để nối nghiệp Nho gia. Nhưng do cá tính phóng khoáng, khí khái lại thêm gia cảnh không vui, mối tình đầu lỡ dở nên ông dự thi Hương vài ký đều trượt. Theo yêu cầu của người anh ruột, con bà cả là Phó bảng Nguyễn Tái Tích, cậu ấm Hiếu thi vào trường Hậu bổ, trường đào tạo quan lại. Cậu học giỏi nhiều môn, nhưng lại hòng kỷ thi vấn đáp Pháp ngũ. Vay-rắc (Vayrac), Giám đốc trường này, mến tài muốn xét đặc cách nhưng ông từ chối, xuống Hải Phòng soạn tuồng chèo và làm đạo diễn cho Rạp Nguyễn Đình Kao. Các vở Tây Thi, Người Cá, Thiên Thai, Dương Quý Phi ra đời vào thời gian này. Khi làm đạo diễn vở Tây Thi, Tản Đà đòi bằng được phải để người tình của mình là đào Liên, một ca nương ở phố Dinh- Hải Phòng, đóng vai chính. Chủ rạp phải chiều. Ca nương đã không phụ bạn tình sắm vai xuất sắc, sau đó trở thành nghệ sĩ khá nổi danh. Với ca nương này, Tản Đà đã sáng tác bài ca trù nổi tiếng Cánh bèo. Thực ra bài ca này còn chứa đựng tâm tư của tác giả về hoàn cảnh người mẹ và người em gái kế ông. Từ đây, Tản Đà chuyển hẳn sang nghề viết văn, viết báo chuyên nghiệp. Ông thuộc lớp nhà văn tiên phong xây dựng nền quốc văn hiện đại giữa lúc Hàn học suy tàn, Tây học mới phôi thai. Trên văn đàn công khai Việt Nam, hơn 30 năm đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một hiện tượng đột xuất vừa độc đáo vừa dồi dào năng lực sáng tạo trên rất nhiều lĩnh vực. Tản Đà sáng tác đủ thể loại tản văn, bút ký, tiểu thuyết, triết luận, biên khảo, nhưng thành công nhất là thơ ca, bất luận thơ cổ thể, Đường luật hay các thể dân tộc như ca lý, lục bát, song thất lục bát... và cả thơ dịch, văn dịch chữ Nho ra chữ Việt đều đạt đỉnh cao, ít người đường thời sánh được. Đặc biệt tuy Hán học uyên thâm nhưng thơ văn Tản Đà chủ yếu lại dùng quốc âm một cách nhuần nhuyễn, phóng túng, tài hoa, sinh động, mất hẳn tính gò bó, công thức. Trong nhiều bài thơ ca, ông mạnh dạn “phá cách vứt điệu luật” nên một số bài đã mang dáng dấp thơ mới.

Tản Đà là người đầu tiên ra tạp chí chuyên về văn chương- tờ An Nam tạp chí. Ông cũng từng phụ trách văn chương của một số tờ báo lớn lúc thơ ca ông được công chúng hâm mộ. Tản Đà để lại di sản tinh thần khá lớn: Khối tình con (1916); Khối tình bản chính, bản phụ (văn luận thuyết); thơ (đều in năm Lên tám (1920); Còn chơi (1921); Truyện thế gian I,II (1923); Trần ai tri kỷ; Quốc sử huấn mông; Kinh thi (dịch) (đều in năm 1924); Năm này còn san nhuận đề tựa bản dịch Tỳ Bà hành của Đoàn Tư Thuật; Thơ Tản Đà (1925); Nhàn tưởng; Tam tự kinh An Nam (1929); Giấc mộng con II; Thề non nước; Tản Đà văn tập; Khối tình con III (đều in năm 1932); Tản Đà xuân sắc (1934); Liêu Trai chí dị (dịch) 1937; biên thảo Vương thủy Kiều chú giải tân truyện (1940). Tản Đà còn giành nhiều công sức, tâm huyết xây dựng thuyết Thiên Lương gôm lương tri, lương tâm, lương năng để dựng lại cái hay, cái tốt “của giời cho trong tự nhiên, trong loài người” nhằm cải biến tình trạng “luân thường đảo ngược, phong hóa suy đồi”- Gạt ra tính ngông cuồng, nội dung thơ văn Tản Đà toát lên tinh thần yêu nước,tự hào dân tộc, lòng yêu dân, thương cảm người nghèo khổ, bất hạnh, khinh ghét bọn bán nước cầu vinh, bọn tham quan ô lại, lên án sự tha hóa của đồng tiền...

Thi hào Tản Đà có nhiều mối duyên nợ với Hải Phòng, nơi ông khởi nghiệp làm nghề viết văn. Ở thành phố này ông có nhiều tri kỷ tri âm như chủ rạp Nguyễn Đình Kao, chủ rạp Quảng Lạc, nhà đại tư sản Bạch Thái Bưởi, chủ nhiệm báo Khai Hóa, chủ nhà xuất bản Nguyễn Văn Kính, chủ nhà xuất bản Hương Hát, Mân châu Nguyễn Mạnh Bổng, cháu ruột vợ ông. Nhà xuất bản Hương Hát sau đổi là Hương Sơn đã sưu tầm xuất bản nhiều tác phẩm của Tản Đà. Nhiều lúc buồn túng nhà thơ đã nhận được “măng đa Móng Cái- Tin nhạn Kiến An”. Vào năm 1927, 1928 vị chủ bút An Nam tạp chí đến thăm chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu đang bị thực dân Pháp giam lỏng ở Huế, gặp lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Thái Học và lăn lội lên tận miền núi Bình Định dâng hương ở đền thờ các anh hùng áo vải Tây Sơn. Khi Công sứ và Tổng đốc Bình Định hỏi thì lại còn “nói bướng” cho việc mình là nhà báo hành nghề không phải trình báo. Vì thế “được mời” về Bắc. Với tâm trạng buồn bực nên ngày nguyên đán năm Mậu Thìn (1928) Tản Đà khai bút bằng bài thơ luật khá cảm khái nhưng chi viết được 6 câu thì mất hứng không thể viết tiếp. Ngay cả câu luận thứ nhất cũng chỉ hạ được 5 chữ. Sau ra Bắc, một bạn văn ở Hải Phòng hộ 2 chữ đầu câu luận là “Cám cảnh”.

Cám cảnh khói mây mờ mặt biển
Lo đời sương tuyết bạc đầu non.

Tháng 9 năm Kỷ Tỵ (1929), nhà cưa ruộng vườn ở Dốc Láp- Vĩnh Yên bị bão tàn phá sạch, lại không chịu lụy. Tuần phủ sở tại Đào Trọng Vận, người bị nhà thơ đả kích về tội tham nhũng nên bị trục xuất. Lúc vận bĩ này, Tản Đà lại đem gia đình về với Hải Phòng, nơi khởi nghiệp nghề văn và có nhiều bầu bạn. Lúc buồn khi vui, ông thường tới nghỉ ở nhà một người bạn là Tư Đạt có một ấp lớn ở Đồng Sành gần cầu Rào. Ở đây nhà thơ sành điệu phát hiện ra đặc sản cá đối đầu mềm thịt ngon cùng câu phương ngữ: Bán ruộng đầu cầu ăn đầu cá đối. Ông không quên đặc sản này khi viết bài Thú ăn chơi.

... Sơn dương, sò huyết Hòn Gai
Đồng Sành cá đối, Giáp Lai lợn rừng.

Trước Tản Đà, từ vựng tiếng Việt không thấy có từ “nghề làm văn”. Xã hội ta ngày ấy chỉ có mấy nghề “Làm thầy, làm thợ lại làm thuê”. Chính Tản Đà là người đầu tiên khởi xướng nghề làm văn chuyên nghiệp, tận tụy suốt đời vì nghề với tất cả lương tâm, trách nhiệm, tài trí. Ông đã để lại một di sản đồ sộ, có giá trị góp phần xứng đáng vào văn hiến dân tộc. Vậy giới văn sĩ nước ta phải coi Tản Đà là Tổ nghề. Nghề này mà lấy ông Tản Đà làm Tiên sư thì không chỉ có vinh hạnh lại còn học ông cả đức, cả tài. Hải Phòng nơi Tản Đà khởi nghiệp nghề viết văn cần có đền thờ Tổ nghề Tản Đà.

Ngô Đăng Lợi