Hải Phòng những ngày đầu giải phóng
Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương, cho phép quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc sau 300 ngày ký kết. Quân Pháp dồn lại tại Hải Phòng và ngày 13-5-1955, tên lính thực dân cuối cùng xuống tàu há mồmmmm tại Đồ Sơn để vào Nam. Một tuần tiếp theo, nhà văn Nguyên Hồng và tôi được Hội Nhà văn Việt Nam cử về thành phố để ghi lại quang cảnh nơi này sau sự kiện lịch sử ấy.
Đường phố Hải Phòng bừng dậy sau một giấc ngủ dài. Chúng tôi đi giữa một dòng sông cờ đỏ. Cờ Tổ quốc không còn lẻ loi như khi xuất hiện trên tháp nước thành phố lúc còn bị tạm chiếm. Sau những giây phút ngỡ ngàng, nhân dân ùa ra đường, tay bắt mặt mừng những Người lính cụ Hồ, những chàng thư sinh hiền lành, khiêm tốn, khác hẳn tác phong phô trương hống hách của bọn lính chiếm đóng. Có lẽ hình ảnh đẹp của >>>Bộ đội cụ Hồ đã tạo nên niềm tin yêu ấm áp trong lòng người dân đất Cảng đang khao khát hoà bình huống chi đó lại là những đoàn quân cách mạng, xuất thân từ những người áo vải, từ tầng lớp lao động, con em của quần chúng nghèo khổ. Nguyên Hồng và tôi bước đi trên cầu tàu bến cảng, lúc ấy đều bằng gỗ ván, nhiều chỗ đã bị long đinh. Tôi thực sự xúc động khi được biết có người công nhân Cảng đã dán mình nằm ép sát dưới cầu tàu để bí mật theo dõi sự chuyển quân của Pháp.
Quang cảnh Cảng Hải Phòng lúc ấy thật buồn vắng. Nắng tháng Năm trải vàng bến tàu và trên những toa xe trống rỗng. Chúng tôi nằm nghỉ trưa trong nhà kho số 3 của Cảng, trải tấm vải lên nền xi măng còn hôi mùi hoá chất. Thành phố mới được tiếp quản, chưa có nhà nghỉ cho khách xa. Dù còn khó khăn, Cảng vẫn tiềm tàng một sức mạnh to lớn. Thời gian sau không lâu tôi được Hội Nhà văn cử đi vào thực tế đời sống của công nhân Cảng. Tôi về ở chung nhà với đồng chí đội trưởng đội bốc vác số 13 ở xóm thợ Lạc Viên. Chính cuộc đi sâu vào thực tế này đã giúp cho tôi và những nhà văn đồng nghiệp có được một nhận thức chuẩn xác hơn về người lao động. Họ có phẩm chất trong sáng, vị tha, tương thân tương ái với đồng đội. Họ dễ khoan hoà, tha thứ. Tôi giúp cho đội bốc vác học văn hoá, tôi kể chuyện lịch sử, chuyện về Đảng cho anh em nghe. Tôi sung sướng được anh em công nhân bốc vác xem như người nhà. Sự tin cậy ấy đối với tôi là một phần thưởng lớn trong cuộc đời văn học của mình. Tập thơ Chân trờiiii của tôi được xuất bản sau đó có nhiều bài viết về thành phố Cảng.
Hơn một nửa đời tôi sống tại Hải Phòng, cho nên lòng tôi ghi dấu ấn sâu đậm về thành phố bên bờ biển Đông này, nơi đầu tiên tiếp nhận chủ nghĩa Mác Lênin, nơi vang lên tiếng súng đầu tiên chống Pháp so với cả nước và cũng là nơi có nhiều danh nhân của lịch sử. Tôi trân trọng thành kính hành hương về thăm làng quê của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, được nghe hơi ấm của quá khứ hào hùng lịch sử trên từng bước chân trên đất Thuỷ Nguyên. Di chỉ Tràng Kênh nói với tôi nơi này từng sống những con người nguyên thuỷ, tổ tiên của chúng ta hôm nay, tôi được chiêm ngưỡng những ngôi mộ đá hình vuông của người xưa mà không còn thấy ở mọi nơi nào khác.
Khi rút quân vào
Hải Phòng anh dũng về quá khứ, phồn vinh về tương lai, đang là đô thị lớn thời mở cửa và cũng là thành phố quốc tế ngày càng lớn mạnh của đất nước. Vinh dự xiết bao được làm công dân của đất Cảng Hải Phòng!
Nguyễn Viết Lãm