Hà Nội: Chủ động đón đầu, chuyển hóa áp lực già hóa dân số thành động lực phát triển
Việc TP Hà Nội xây dựng Nghị quyết của HĐND TP quy định một số chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ chăm sóc, phục vụ người cao tuổi khuyến khích người cao tuổi tham gia phát triển kinh tế trên địa bàn TP Hà Nội nhằm cụ thể hoá Luật Thủ đô năm 2026 sẽ giúp TP Hà Nội chủ động đón đầu và chuyển hóa áp lực của già hóa dân số thành động lực phát triển; giảm bớt gánh nặng lên hệ thống an sinh xã hội thông qua việc xây dựng một hệ sinh thái an sinh chủ động, toàn diện và bền vững cho người cao tuổi tại Thủ đô.
“Chìa khóa vàng” giúp chuyển hóa thách thức già hóa dân số
Sáng 7/7, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội tổ chức Hội nghị phản biện xã hội đối với dự thảo Nghị quyết của HĐND TP quy định một số chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ chăm sóc, phục vụ người cao tuổi khuyến khích người cao tuổi tham gia phát triển kinh tế trên địa bàn TP Hà Nội.
Trình bày một số nội dung chính của dự thảo Nghị quyết tại Hội nghị, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Đinh Hồng Phong cho biết, điểm a khoản 2 Điều 27 Luật Thủ đô năm 2026 đã giao HĐND TP Hà Nội ban hành các chính sách đặc thù nhằm phát triển sản phẩm, dịch vụ phục vụ người cao tuổi và khuyến khích sử dụng lao động là người cao tuổi.
Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp, đồng thời là yêu cầu đặt ra đối với TP nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về thích ứng với già hóa dân số, phát triển hệ thống an sinh xã hội và phát huy nguồn lực của người cao tuổi trong phát triển kinh tế - xã hội.
Việc ban hành Nghị quyết là cần thiết nhằm hiện thực hóa quyền tự chủ của Trung ương giao cho HĐND TP Hà Nội. Thay vì áp dụng thụ động các khung chính sách chung của cả nước, Hà Nội được tự quyết định toàn diện về phạm vi, điều kiện, ngành, nghề, biện pháp quản lý... để chủ động điều hành phù hợp với thực tiễn phát triển của một siêu đô thị.
Đây là nền tảng pháp lý tối cao giải quyết tình trạng thiếu hụt cơ chế thu hút xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực an sinh, kinh tế dành cho người cao tuổi vốn chưa được định hình rõ ràng trong các văn bản luật chuyên ngành trước đây.
Quy định này là chiếc “chìa khóa vàng” giúp Hà Nội đổi mới tư duy quản lý, chuyển hóa hoàn toàn áp lực, thách thức của già hóa dân số trở thành động lực, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế (phát triển kinh tế bạc) với trách nhiệm xã hội (an sinh, y tế) và quy hoạch kiến trúc (đô thị bền vững) của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Bên cạnh ý nghĩa về an sinh xã hội, việc ban hành Nghị quyết còn có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế bạc xu hướng phát triển đang được nhiều quốc gia quan tâm. Việc khuyến khích đầu tư phát triển các sản phẩm, dịch vụ phục vụ người cao tuổi sẽ tạo động lực hình thành thị trường dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, mở rộng cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp, tạo việc làm mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ, du lịch chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và các ngành dịch vụ liên quan, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Thủ đô.
Dự thảo Nghị quyết gồm 3 chương, 10 Điều quy định một số chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ chăm sóc, phục vụ người cao tuổi; khuyến khích người cao tuổi tham gia phát triển kinh tế trên địa bàn TP Hà Nội như chính sách đầu tư, hỗ trợ đầu tư phát triển dịch vụ chăm sóc, phục vụ người cao tuổi; chính sách khuyến khích và hỗ trợ người cao tuổi tham gia phát triển kinh tế; chính sách đặt hàng dịch vụ kết nối việc làm.
Góp ý tại Hội thảo, các ý kiến phát biểu nhấn mạnh, Hà Nội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh chóng. Theo Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, hiện nay, TP có gần 1,4 triệu người cao tuổi, chiếm hơn 16% tổng dân số của TP, dự báo đến năm 2030, số người cao tuổi sẽ tăng lên khoảng 1,71 triệu người, tạo áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống y tế, an sinh xã hội và nhu cầu chăm sóc dài hạn.
Trong khi đó, hệ thống sản phẩm, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn TP còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; số lượng cơ sở chăm sóc còn hạn chế, phân bố chưa đồng đều, mô hình chăm sóc tại cộng đồng và chăm sóc ban ngày mới đang trong giai đoạn thí điểm; tỷ lệ huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi còn thấp; việc sử dụng lao động là người cao tuổi chưa tương xứng với tiềm năng và kinh nghiệm của lực lượng lao động này.
Trong bối cảnh đó, các đại biểu bày tỏ tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết; cho rằng việc xây dựng Nghị quyết sẽ giúp TP Hà Nội chủ động đón đầu và chuyển hóa áp lực của già hóa dân số thành động lực phát triển; giảm bớt gánh nặng lên hệ thống an sinh xã hội thông qua việc xây dựng một hệ sinh thái an sinh chủ động, toàn diện và bền vững cho người cao tuổi tại Thủ đô; khắc phục tình trạng khan hiếm các cơ sở chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, các khu dưỡng lão phân khúc từ bình dân đến cao cấp, và các sản phẩm y tế, sinh hoạt được thiết kế riêng cho người cao tuổi; từ đó kích cầu và hình thành thị trường "kinh tế bạc" tiềm năng.
Đồng thời giải quyết nhu cầu việc làm và phát huy "giá trị xám" của người cao tuổi còn đủ sức khỏe và kinh nghiệm. Việc hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi không chỉ giúp họ có thêm thu nhập, tự chủ tài chính mà còn giảm bớt tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ trong một số lĩnh vực phù hợp.
Việc ban hành Nghị quyết cũng góp phần tạo cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp khởi nghiệp nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số và đổi mới sáng tạo như y tế từ xa, thiết bị theo dõi sức khỏe thông minh vào việc chăm sóc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.
Các ý kiến cũng đánh giá cao dự thảo Tờ trình đã đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể như đến năm 2030, phát triển thêm 70 cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập, 126 điểm chăm sóc ban ngày, huy động khoảng 70% nguồn lực xã hội hóa... Chính sách này không chỉ giải quyết bài toán an sinh xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế, giảm áp lực lên hệ thống y tế công, mà còn chuyển đổi góc nhìn về người cao tuổi từ "đối tượng cần bảo trợ" thành "nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội" chất lượng cao của Thủ đô.
Làm rõ hơn tính khả thi của các chính sách hỗ trợ
Tuy nhiên, các ý kiến phát biểu cũng nhấn mạnh, đây là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, nên cần được xem xét một cách thận trọng để Nghị quyết khả thi, thực sự đi vào cuộc sống.
Ông Vũ Thành Vĩnh - Thành viên Hội đồng Tư vấn Dân chủ pháp luật, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội cho rằng, dự thảo Nghị quyết đang quy định nhiều chính sách ưu đãi về đất đai, vốn vay, hỗ trợ kinh phí, xúc tiến thương mại… Đánh giá đây là chủ trương rất đúng nhưng ông Vũ Thành Vĩnh cũng chỉ ra, thực tế cho thấy, nhiều chính sách ưu đãi trước đây ban hành rất hay, nhưng giải ngân thấp vì thủ tục phức tạp, điều kiện tiếp cận khó khăn.
Do đó, ông Vĩnh đề nghị làm rõ hơn tính khả thi của các chính sách hỗ trợ. “Nghị quyết giao UBND TP quy định rõ quy trình tiếp cận chính sách đơn giản; công khai tiêu chí xét duyệt; thực hiện trên nền tảng số; có cơ chế giám sát độc lập của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Nếu không, chính sách sẽ rất khó đến được đúng đối tượng”, ông Vũ Thành Vĩnh nói.
Đối với mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng, bày tỏ đồng tình với chủ trương tận dụng nhà văn hóa, trạm y tế, cơ sở sẵn có để hình thành điểm chăm sóc ban ngày, ông Vũ Thành Vĩnh cho rằng đây là hướng đi phù hợp với văn hóa Á Đông và thực tế ở địa phương còn khó khăn về mặt bằng. Tuy nhiên, bày tỏ băn khoăn về khả năng duy trì lâu dài với mức hỗ trợ tối thiểu 50 triệu đồng mỗi năm cho một điểm chăm sóc, ông Vũ Thành Vĩnh đề nghị TP xây dựng mô hình “ba cùng”, đó là chính quyền tạo cơ chế; doanh nghiệp và tổ chức xã hội tham gia; gia đình cùng đồng hành để tạo tính bền vững cho mô hình.
Cùng với đó, ông Vũ Thành Vĩnh cũng đề nghị kiểm soát nguy cơ thương mại hóa dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. “Dự thảo dành khá nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp. Đó là điều cần thiết để thu hút xã hội hóa. Nhưng cũng cần quy định rõ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tôi đề nghị, ngoài cam kết giảm giá dịch vụ cho người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, cần công khai chất lượng dịch vụ, công khai giá, công khai tiêu chuẩn chăm sóc và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý, của xã hội và của chính người sử dụng dịch vụ. Không để xảy ra tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước nhưng lại cung cấp dịch vụ chất lượng thấp hoặc thu phí quá cao hoặc bị lợi dụng sử dụng sai mục đích”, ông Vũ Thành Vĩnh nêu quan điểm.
Quy định về chính sách khuyến khích người cao tuổi tham gia phát triển kinh tế là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm, cho ý kiến. Bày tỏ hoan nghênh tư duy mới của Nghị quyết, ông Vũ Thành Vĩnh cho rằng quy định doanh nghiệp phải sử dụng từ 10 lao động trở lên và người cao tuổi chiếm từ 30% mới được hưởng ưu đãi có thể chưa phù hợp.
Nêu việc TP đang có rất nhiều hộ kinh doanh, làng nghề truyền thống, hợp tác xã nhỏ sử dụng nhiều lao động cao tuổi nhưng không đáp ứng điều kiện này, ông Vĩnh đề nghị nghiên cứu mở rộng chính sách đối với khu vực kinh tế hộ gia đình, hợp tác xã và làng nghề, vì đây là nơi người cao tuổi có nhiều cơ hội phát huy kinh nghiệm, tay nghề và truyền nghề.
Cùng với đó, ông Vũ Thành Vĩnh cũng đề nghị bổ sung quy định biện pháp để giám sát, đảm bảo các doanh nghiệp không ép buộc hoặc tận dụng sức lao động của người cao tuổi quá mức.
Quy định ưu tiên cho nhà khoa học, bác sĩ, nghệ nhân cao tuổi sử dụng phòng thí nghiệm, hạ tầng công hiện hành cũng được đánh giá là còn mang tính chung chung, dễ nằm trên giấy. Do đó, đề nghị giao nhiệm vụ Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì thống kê danh mục hạ tầng công và ký kết quy chế phối hợp cụ thể với các viện nghiên cứu, hội hiền tài. TP cần vận hành cơ chế đặt hàng nghiên cứu, khoán sản phẩm đầu ra hoặc vinh danh, đãi ngộ thỏa đáng để các chuyên gia lão thành trực tiếp tham gia giải quyết các "điểm nghẽn" kỹ thuật, chính sách của Thủ đô.
Về nguồn lực và kinh phí thực hiện, một số ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục đánh giá toàn diện tác động ngân sách, xác định rõ nguồn lực, lộ trình triển khai theo từng giai đoạn và thứ tự ưu tiên đối với từng nhóm chính sách; tránh tình trạng ban hành đồng thời nhiều chính sách nhưng nguồn lực không đáp ứng, ảnh hưởng đến tính khả thi và hiệu quả Nghị quyết.
Có ý kiến đề nghị nghiên cứu xây dựng Đề án phát triển "Kinh tế bạc Thủ đô Hà Nội đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045", coi đây là một ngành kinh tế dịch vụ mới, gắn với y tế, công nghệ, văn hóa, du lịch, tài chính và đổi mới sáng tạo.