Gỡ 'thẻ vàng' IUU: Định vị nghề cá Việt Nam trong chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu
Gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU không chỉ là yêu cầu khắc phục các khuyến nghị của Ủy ban Châu Âu (EC) sau đợt thanh tra lần thứ 5, mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị nghề cá, kiểm soát chuỗi cung ứng và sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam. Với 46 nhiệm vụ theo Kế hoạch hành động của Chính phủ và 10 nhiệm vụ trọng tâm trong tháng cao điểm 15/8 - 15/9/2026, mục tiêu là tạo chuyển biến thực chất, có dữ liệu và bằng chứng kiểm chứng, đồng thời hình thành nền tảng cho nghề cá minh bạch, có trách nhiệm và bền vững.
Từ khắc phục khuyến nghị của EC đến chuyển biến thực chất
Ngày 10/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1516/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Kế hoạch xác định 46 nhiệm vụ cụ thể, tập trung vào quản lý đội tàu; theo dõi, giám sát hoạt động khai thác; truy xuất nguồn gốc thủy sản; tăng cường thực thi pháp luật và hoàn thiện khung pháp lý.
Trao đổi với phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, mục tiêu gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU trong năm 2026 không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của EC mà còn khẳng định năng lực, trách nhiệm của Việt Nam trong quản trị nghề cá, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, sinh kế lâu dài của ngư dân và uy tín sản phẩm thủy sản Việt Nam. Các nhiệm vụ phải được cụ thể hóa theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và đánh giá bằng kết quả thực tế.

Trọng tâm vì thế phải chuyển từ “có quy định” sang “thực thi được, chứng minh được”. Trong tháng cao điểm từ 15/8 - 15/9/2026, các địa phương tập trung kiểm soát tàu cá không đủ điều kiện hoạt động; tàu xuất, nhập bến; dữ liệu chuyến biển trên eCDT; hoạt động giám sát hành trình VMS; xử lý vi phạm; truy xuất nguồn gốc tại doanh nghiệp và ngăn chặn tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài.
Đáng chú ý, cảng cá và lực lượng biên phòng phải kiểm soát 100% lượt tàu cá xuất, nhập bến qua eCDT. Chỉ tàu có thông tin trên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase và thực hiện khai báo trên eCDT mới được xuất, nhập bến. Nhật ký khai thác, sản lượng bốc dỡ và hồ sơ liên quan phải được cập nhật đầy đủ, tạo thành chuỗi dữ liệu có khả năng đối chiếu và kiểm chứng.
Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, để các nhiệm vụ không dừng ở kế hoạch, trách nhiệm phải được phân định đến từng cấp, từng lực lượng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ giữ vai trò đầu mối hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp kết quả, dữ liệu và bằng chứng thực thi; các Bộ, ngành, lực lượng chức năng phối hợp kiểm soát hoạt động tàu cá, trao đổi thông tin và xử lý vi phạm theo chức năng.
UBND các tỉnh, thành phố ven biển chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trên địa bàn, quản lý chặt đội tàu, kiểm tra tiến độ xử lý vi phạm, chất lượng dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, đồng thời gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả chống IUU. Ở tuyến trực tiếp, cảng cá, biên phòng, kiểm ngư và chính quyền cơ sở phải nắm chắc tình trạng từng tàu, kiểm soát tàu ra, vào cảng và ngăn nguy cơ vi phạm từ sớm. Doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu phải kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, lưu giữ hồ sơ và không để nguyên liệu bất hợp pháp đi vào chuỗi cung ứng.
Gỡ “thẻ vàng” IUU nhưng đích đến phải xa hơn
Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Vũ Duyên Hải cho rằng, yêu cầu hiện nay không chỉ nằm ở hoàn thiện quy định mà phải chứng minh hiệu quả thực thi. Theo đó, từng địa phương phải lập danh sách tàu không đủ điều kiện hoạt động, phân công tổ chức, cá nhân theo dõi cụ thể; kiên quyết không cho tàu chưa đủ điều kiện xuất bến. Cách làm này nhằm chặn từ đầu tàu “3 không”, tàu mất kết nối giám sát hoặc tàu có nguy cơ vi phạm vùng biển nước ngoài.

Đối với VMS, yêu cầu không chỉ là phát hiện mất kết nối mà phải xác minh nguyên nhân, phân biệt lỗi kỹ thuật với hành vi cố tình ngắt thiết bị và xử lý vụ việc đúng thời hạn. Mục tiêu cuối cùng là hình thành hồ sơ, dữ liệu đủ chặt chẽ để chứng minh quá trình thực thi khi cơ quan chức năng và EC kiểm tra.
Cùng với quản lý đội tàu, truy xuất nguồn gốc là “khóa chặn” ở phía thị trường. Dữ liệu tàu cá, nhật ký khai thác, sản lượng qua cảng, hồ sơ nguyên liệu tại doanh nghiệp và chứng nhận xuất khẩu phải có khả năng đối chiếu với nhau. Khi chuỗi dữ liệu được khép kín, dư địa hợp thức hóa nguyên liệu không rõ nguồn gốc sẽ bị thu hẹp, đồng thời giảm rủi ro cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Yêu cầu này cũng thúc đẩy quá trình số hóa nghề cá. VNFishbase, VMS, eCDT và dữ liệu xử phạt vi phạm hành chính cần được chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên và từng bước liên thông để cơ quan quản lý có thể theo dõi hoạt động của tàu cá và nguồn gốc nguyên liệu. Quản lý nhờ đó có thể chuyển dần từ kiểm tra thủ công, xử lý sự vụ sang giám sát dựa trên dữ liệu và nhận diện rủi ro.
Ở góc độ kinh tế, một hệ thống dữ liệu minh bạch không chỉ phục vụ yêu cầu của EC mà còn giúp giảm chi phí kiểm tra, rút ngắn thời gian xác minh hồ sơ, nâng độ tin cậy của nguyên liệu và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.
Theo ông Hải, kết quả của tháng cao điểm không nên chỉ được đo bằng số cuộc kiểm tra hay số văn bản đã ban hành. Những đầu ra cần được nhìn thấy rõ hơn là số tàu được quản lý thực chất; tiến độ xử lý vi phạm VMS; tỷ lệ tàu xuất, nhập bến được kiểm soát trên eCDT; mức độ đầy đủ của nhật ký khai thác, dữ liệu sản lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc đến doanh nghiệp. Quan trọng hơn, các yêu cầu này phải trở thành nền nếp quản lý thường xuyên thay vì giải pháp tăng cường trước mỗi lần EC kiểm tra. Sau khi những tồn tại cấp bách được xử lý, chống IUU cần gắn với quản lý nguồn lợi, tổ chức lại hoạt động khai thác phù hợp, nâng hiệu quả sản xuất và bảo đảm sinh kế lâu dài cho cộng đồng ngư dân.
Về dài hạn, quá trình khắc phục IUU cần tạo ra ba chuyển đổi: từ quản lý phân tán sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ xử lý vi phạm sang chủ động phòng ngừa rủi ro; từ mục tiêu gỡ cảnh báo sang xây dựng chuỗi thủy sản minh bạch, có trách nhiệm và có giá trị cao hơn.
Khi từng con tàu được quản lý từ cơ sở, dữ liệu khai thác có thể kiểm chứng, nguồn gốc nguyên liệu được kiểm soát xuyên suốt và trách nhiệm của từng cấp được xác định rõ, việc thực hiện các khuyến nghị của EC sẽ trở thành một phần của phương thức quản trị nghề cá hiện đại. Đây mới là nền tảng để Việt Nam vừa quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU trong năm 2026, vừa bảo vệ nguồn lợi, duy trì sinh kế ngư dân và củng cố sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam bền vững trên thị trường quốc tế.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho rằng, 5 kết quả cần tạo chuyển biến rõ rệt gỡ “thẻ vàng” IUU đó là: Quản lý thực chất tàu không đủ điều kiện hoạt động; kiểm soát 100% lượt tàu xuất, nhập bến qua eCDT; xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm VMS theo quy định; bảo đảm dữ liệu chuyến biển, nhật ký và sản lượng có thể đối chiếu; kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu xuyên suốt từ khai thác, qua cảng đến doanh nghiệp. Đây là những kết quả trực tiếp tạo dữ liệu, bằng chứng thực thi phục vụ mục tiêu khắc phục khuyến nghị của EC và xây dựng nghề cá minh bạch, bền vững.