Gỡ “nút thắt” trong tâm lý đương sự để thi hành những bản án khó
(PLVN) - Năm 2026, ngành Thi hành án dân sự (THADS) trang trọng kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống (19/7/1946 - 19/7/2026). Đây cũng là dấu mốc đặc biệt đối với cá nhân anh Nguyễn Văn Tiến - Trưởng phòng THADS khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh, khi anh chạm mốc 28 năm tuổi nghề.
Trong 28 năm tuổi nghề, có 22 năm anh Tiến làm Chấp hành viên và 18 năm giữ cương vị lãnh đạo quản lý. Trải qua nhiều vị trí công tác, trực tiếp đối diện với hàng trăm hồ sơ gai góc từ tranh chấp đất đai, tài sản cho đến những mâu thuẫn gia đình dai dẳng, anh đúc rút ra cho mình một bài học cốt lõi: “Muốn tháo gỡ một vụ việc khó, trước hết phải tìm cách gỡ được những “nút thắt” trong tâm lý đương sự”.
“Mở nút” từ tâm tư của người mẹ
Suốt nhiều năm làm nghề, trước vô số bộ hồ sơ đã thi hành án xong, anh bảo mỗi vụ việc, áp lực tại hiện trường chỉ là “bề nổi” của một chuỗi mâu thuẫn kéo dài. Một bản án khó thi hành phần lớn do tranh chấp, mẫu thuẫn kéo dài nhiều năm, đương sự thường có tâm lý cố chấp, bất mãn và sẵn sàng phản kháng cực đoan. Nếu người làm thi hành án không nhìn thấu được tâm can họ thì việc thi hành án sẽ vô cùng khó khăn.
Năm 2019, khi còn công tác tại Chi cục THADS huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (cũ) anh Tiến trực tiếp tổ chức thi hành một bản án: Buộc anh A phải giao con cho chị B tại thị trấn Lim. Khi ấy, không khí giữa hai bên gia đình vô cùng căng thẳng, tuyệt đối cự tuyệt đối thoại trực tiếp.
Lật giở từng trang hồ sơ và trực tiếp tiếp xúc với đương sự, anh Tiến nhận ra một “góc khuất”. Bản chất sự việc không phải là một vụ tranh chấp giành quyền nuôi con để phân định thắng thua thông thường. Trong bản án vốn có điều khoản chị B được thăm con theo định kỳ, nhưng vì mâu thuẫn sâu sắc, gia đình anh A đã tuyệt đối ngăn cản không cho chị đến gần đứa trẻ. Sự uất ức, khát khao của người mẹ bị cấm đoán lâu ngày đã đẩy chị B vào đường cùng, bất đắc dĩ phải làm đơn đề nghị cơ quan chức năng buộc gia đình chồng giao con.
“Ban đầu, nhiều người nghĩ đây là vụ tranh chấp quyền nuôi con. Nhưng sau nhiều lần gặp gỡ và lắng nghe, tôi nhận ra điều người mẹ thực sự mong muốn không phải là giành bằng được quyền nuôi con về phía mình. Điều khiến chị đau khổ nhất là quá lâu rồi không được gặp con”, anh Tiến nhớ lại.
Khoảnh khắc nhận ra điều đó cũng là lúc anh tìm thấy hướng đi cho vụ việc. Thay vì chỉ tập trung vào các thủ tục thi hành án, anh cùng cơ quan thi hành án kiên trì gặp gỡ, đối thoại với cả hai bên. Đối với gia đình người cha, anh phân tích để họ hiểu rằng việc ngăn cản người mẹ thăm nom con không chỉ làm tổn thương tình cảm mẹ con mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tâm lý của đứa trẻ. Quan trọng hơn, đó là quyền đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Ở chiều ngược lại, anh cũng dành nhiều thời gian để trao đổi với người mẹ. Bằng những gì trực tiếp quan sát được trong quá trình giải quyết vụ việc, anh nhận thấy gia đình bên nội vẫn chăm sóc cháu bé rất tốt, bảo đảm đầy đủ điều kiện học tập, sinh hoạt và phát triển. “Tôi cũng thẳng thắn trao đổi để người mẹ hiểu rằng điều quan trọng nhất là lợi ích của đứa trẻ. Thực tế cho thấy gia đình bên nội có điều kiện chăm sóc cháu rất tốt, cả về vật chất lẫn tinh thần. Điều đó cũng cần được nhìn nhận một cách công bằng”, anh Tiến nói.
Sau nhiều lần gặp gỡ, đối thoại và thuyết phục, sự căng thẳng giữa hai bên từng bước được hóa giải. Gia đình người cha đồng ý tạo điều kiện để người mẹ được đón và thăm con theo đúng quy định của bản án. Người mẹ cũng nhận thấy quyền lợi chính đáng của mình đã được tôn trọng, đồng thời hiểu rằng việc con tiếp tục sinh sống trong môi trường ổn định hiện tại là phù hợp đối với cháu ở thời điểm đó. Cuối cùng, chị tự nguyện rút đơn yêu cầu thi hành án.
“Vụ việc khép lại mà không cần tổ chức cưỡng chế. Lúc đó niềm vui lớn nhất của tôi và mọi người không chỉ là việc giải quyết được vụ việc mà là giữ được cho đứa trẻ một khoảng bình yên, để tình mẹ con được nối lại mà không phải đi qua thêm một cuộc giằng co nào nữa”, anh Tiến nói.

Tiếng khóc sau cuộc cưỡng chế đúng luật
Kể tiếp câu chuyện nghề của mình, anh Tiến bảo vào năm 2018, anh có tổ chức cưỡng chế giao tài sản tại xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (cũ).
Theo bản án đã có hiệu lực pháp luật, buộc gia đình chị X phải giao trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (ngôi nhà 3 tầng) cho bà Y. Đau lòng thay, bản chất mối quan hệ giữa bà Y và chị X là mẹ và con nuôi. Do bà Y không có con nên nhận chị X làm con nuôi từ lúc còn bé. Tuy nhiên, sau thời gian chung sống, cả hai phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải. Chị X chiếm giữ, sử dụng ngôi nhà của bà Y, trong khi người mẹ nuôi già yếu phải sống nhờ tại nhà họ hàng bên cạnh.
Dù chấp hành viên đã kiên trì vận động, thuyết phục nhiều lần nhưng không có kết quả, cơ quan thi hành án vẫn phải tổ chức cưỡng chế giao tài sản để giữ vững kỷ cương pháp luật.
Anh Tiến nhớ lại khoảnh khắc buổi cưỡng chế hôm ấy, chậm rãi nói: “Sau khi buổi cưỡng chế kết thúc, đứa con chị X đi học về nhìn cảnh tài sản bị chuyển đi hết và cả gia đình phải trả lại tài sản cho bà Y, cháu đã đứng giữa sân nắng và khóc nức nở. Hình ảnh ấy đến bây giờ tôi cũng không thể nào quên. Chúng tôi thực hiện đúng bản án, đúng quy định của pháp luật. Nhưng tiếng khóc của đứa trẻ hôm đó khiến tôi suy nghĩ rất nhiều… Từ nỗi đau li tán của đứa trẻ chưa thành niên, chúng tôi ngồi lại với đương sự và người mẹ nuôi. Cuối cùng, người mẹ nuôi vì thương cháu, thương con nên đã cho người con nuôi trở lại”.
Đó là một trong những lát cắt rất thật của nghề thi hành án. Bản án đã tuyên, quyền lợi của người được thi hành án phải được bảo vệ. Nhưng ở hiện trường, người chấp hành viên không chỉ đối diện với tài sản, giấy tờ, thủ tục, mà còn đối diện với những phận người bị xô lệch sau một cuộc tranh chấp.
Theo anh Tiến, có những vụ việc bản án tuyên đúng luật, nhưng nếu tổ chức thi hành một cách cứng nhắc, hệ quả xã hội và tâm lý để lại có thể rất nặng nề. Chấp hành viên phải tuân thủ bản án, song trong thực tiễn áp dụng pháp luật, điều khó nhất là giữ được sự cân bằng giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo, giữa “đúng luật” và “hợp tình, hợp lý”.
Luật Thi hành án dân sự cho phép đương sự thỏa thuận. Vì vậy, trước khi tính đến biện pháp cưỡng chế, công tác vận động, hòa giải, thuyết phục luôn là phương án anh Tiến đặt lên hàng đầu.Không đứng biệt lập ở vị trí của một cơ quan thực thi quyền lực nhà nước, chấp hành viên trong nhiều vụ việc phải trở thành người kết nối. Anh cùng đồng nghiệp kiên trì phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố để giải thích pháp luật, phân tích cái được, cái mất, động viên các bên tự nguyện chấp hành.
Có trường hợp người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế, bị bạo bệnh hoặc gặp biến cố bất ngờ, anh Tiến kịp thời báo cáo Thủ trưởng cơ quan xem xét, ra quyết định hoãn cưỡng chế theo đúng quy định, tạo cho họ một khoảng thời gian cần thiết để chuẩn bị phương án dự phòng.
Trong những vụ việc liên quan đến tài sản, thay vì đẩy ngay vào quy trình kê biên, bán đấu giá bắt buộc, anh thường ấn định một thời hạn hợp lý để người phải thi hành án có cơ hội tự tìm người mua. Cách xử lý linh hoạt này giúp họ bảo toàn tốt hơn phần giá trị còn lại để ổn định cuộc sống. Nếu khoản nợ quá lớn, anh hướng dẫn các bên ngồi lại, tính đến phương án phân kỳ nghĩa vụ trả nợ hoặc chuyển đổi nghĩa vụ bằng hiện vật phù hợp với điều kiện thực tế.
Khi bắt buộc phải giao nhà đối với những trường hợp đặc biệt khó khăn, anh cùng đồng nghiệp chủ động trao đổi với chính quyền địa phương, kết nối thêm các nguồn hỗ trợ, tìm phương án chỗ ở tạm thời hoặc trợ giúp cần thiết để người dân không rơi vào cảnh bế tắc sau cưỡng chế. Với anh, đó không phải là sự mềm yếu trong thi hành pháp luật. Đó là cách để sự nghiêm minh đi được đến cùng mà không bỏ rơi con người ở phía sau bản án.
Bản lĩnh vượt qua những "lằn ranh" của nghề
Trước một cuộc cưỡng chế lớn, phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh trật tự, người ngoài chỉ thấy thời điểm lực lượng có mặt tại hiện trường. Nhưng với chấp hành viên, công việc bắt đầu từ rất lâu trước đó.

Anh Tiến cho biết, mỗi vụ việc phải được chuẩn bị kỹ từ hồ sơ pháp lý, xác minh tài sản, nhân thân, đến phương án bảo vệ, phối hợp với công an, Viện kiểm sát, chính quyền địa phương, dự trù y tế, hậu cần và công tác vận động, tuyên truyền.
“Điều khiến Chấp hành viên lo lắng nhất trước thời điểm cưỡng chế chính là sự an toàn tính mạng, sức khỏe của những người tham gia. Người phải thi hành án có thể chống đối, tự sát, hoặc người già, trẻ nhỏ bị kích động. Cùng với đó là nguy cơ bạo động, mất kiểm soát an ninh trật tự, gây hậu quả pháp lý khôn lường”, anh nói.
Khi được hỏi có mang áp lực về nhà không, anh Tiến cười, rồi bảo “Chắc chắn là có. Chấp hành viên cũng là con người bằng xương bằng thịt. Khi đối mặt với những vụ việc phức tạp, những hoàn cảnh éo le của người phải thi hành án, như nhà cửa bị kê biên, bán đấu giá, hay những lời đe dọa, bức xúc từ các bên, việc mất ngủ, căng thẳng và mang tâm trạng nặng nề về nhà sau giờ làm việc là điều không thể tránh khỏi”.
Áp lực lớn nhất, theo anh, là người chấp hành viên luôn phải đứng giữa nhiều “lằn ranh”. Nếu kiên quyết cưỡng chế, nguy cơ xảy ra va chạm, khiếu kiện, ảnh hưởng đến đời sống người dân là rất lớn. Nhưng nếu chần chừ, chậm trễ, quyền lợi của người được thi hành án bị ảnh hưởng, bản thân chấp hành viên cũng phải chịu trách nhiệm về tiến độ tổ chức thi hành.
Chính vì vậy, kinh nghiệm mà anh Tiến tích lũy trong nhiều năm làm nghề không nằm ở một “bí quyết” đơn giản nào. Đó là sự kết hợp giữa nghiên cứu sâu bản án, nắm chắc hồ sơ, kiên trì dân vận, đối thoại để giảm căng thẳng, chủ động phối hợp liên ngành với Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, chính quyền địa phương và lựa chọn đúng thời điểm tổ chức thi hành án.
Với những vụ việc có dấu hiệu phức tạp, anh luôn yêu cầu rà soát kỹ từng chi tiết như: tài sản, nhân thân, quan hệ gia đình, tâm lý đương sự, khả năng phản ứng tại hiện trường. Có những trường hợp chỉ một thông tin nhỏ bị bỏ qua cũng có thể khiến cuộc cưỡng chế phát sinh tình huống ngoài dự kiến. Nhưng trên hết, điều anh luôn nhắc mình là không được nhìn đương sự như một “đối tượng” thuần túy trong hồ sơ. Bởi phía sau mỗi người lại là một hoàn cảnh, một số phận, nỗi niềm riêng.
“Chấp hành viên thi hành án dân sự không chỉ là việc cưỡng chế hay thi hành các quy định pháp luật hoặc những con số phải thi hành án khô khan mà là quá trình đối mặt với những mâu thuẫn gia đình, kinh tế rất phức tạp. Đằng sau mỗi hồ sơ thi hành án, mỗi quyết định kê biên, cưỡng chế là những câu chuyện, những phận người khác nhau. Mục tiêu cuối cùng của người làm nghề là tìm được sự dung hòa, thấu cảm để bảo vệ quyền lợi các bên, vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật vừa giữ được cái tình giữa con người với con người với nhau”, anh Tiến trải lòng.