“Giữ luật, gỡ lòng dân” trên nẻo đường thi hành án ở vùng đất rừng phía tây Bắc Ninh
(PLVN) - Một bản án đã có hiệu lực pháp luật thì phải được thi hành. Nhưng để bản án ấy đi được đến đời sống, người chấp hành viên nhiều khi phải trải qua những cuộc đối thoại căng thẳng và cả những khúc mắc âm ỉ trong lòng người dân. Hơn 22 năm trong nghề, chị Vi Thị Hải Lý gọi đó là phần khó nhất, cũng là phần cần nhiều bản lĩnh nhất của nghề thi hành án dân sự.
Lấy pháp lý để giữ kỷ cương, lấy lợi ích để thuyết phục người dân tự nguyện chấp hành
Chia sẻ câu chuyện nghề với chúng tôi, chị Vi Thị Hải Lý - Phó trưởng Phòng THADS số 3 tỉnh Bắc Ninh cho biết, hơn 22 năm công tác trong ngành thi hành án dân sự, chị đã đi qua nhiều vụ việc với đủ cung bậc cảm xúc. Trong số không ít hồ sơ vụ án đã thực thi, vụ buộc khai thác toàn bộ cây trồng trái phép để trả lại đất cho Công ty TNHH hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế là một vụ việc khiến chị nhớ lâu nhất.
Vào thời điểm năm 2022, khi chị còn công tác tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (cũ). Theo Quyết định thi hành án số 165/QĐ-CCTHADS của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, căn cứ Bản án của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế và Bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, ông Triệu Ngọc T. (trú tại xã Tam Tiến, huyện Yên Thế), phải khai thác toàn bộ cây keo trồng trái phép trên đất tại lô g1, lô g2 khoảnh 8, tiểu khu 12a, thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệp xã Tiến Thắng để trả lại đất cho Công ty TNHH hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế.
Phòng Thi hành án dân sự số 3 tỉnh Bắc Ninh hiện phụ trách nhiều địa bàn thuộc vùng Yên Thế, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang trước đây, nay nằm trong đơn vị hành chính mới của tỉnh Bắc Ninh. Đây là khu vực có nhiều đất rừng, đất lâm nghiệp; nhiều diện tích gắn với quá trình người dân canh tác, trồng cây qua thời gian dài. Bởi vậy, trong không ít vụ tranh chấp, đất không chỉ được nhìn như một tài sản pháp lý, mà còn là phần sinh kế, công sức và thói quen sử dụng đã ăn sâu trong đời sống người dân “đất mình sử dụng thì là đất của mình”. Vì thế khi bản án tuyên buộc trả đất cho doanh nghiệp lâm nghiệp, việc thi hành vì thế không dừng ở chuyện xác định mốc giới rồi bàn giao trên thực địa…
Trên quyết định, nội dung phải thi hành được ghi rõ ràng. Lô g1 có diện tích 15.000m², lô g2 có diện tích 15.000m². Nhưng khi đưa bản án ra thực tế, câu chuyện không còn nằm trong những dòng chữ về diện tích hay mốc giới. Bởi người dân cho rằng đã trồng cây, chăm sóc, gắn bó trong thời gian dài thì là đất của họ. Vì vậy, ngay từ những buổi làm việc đầu tiên, ông T. và các con của ông đã không hợp tác. Có lần, con ông cầm cả biên bản làm việc của cơ quan thi hành án mang về nhà. “Lúc đó tôi phải báo cáo cơ quan công an về việc người dân giữ tài liệu của cơ quan nhà nước, sau đó phía gia đình mới trả lại”, chị Lý nói.
Trong nhiều tháng sau đó, chị và đồng nghiệp gần như phải đi từng bước để tháo gỡ tâm lý cho đương sự - ông Túc.
Khi đó, ông T. cho rằng bản án không khách quan, chấp hành viên chưa công bằng, trong khi bản án vẫn đang được khiếu nại. Vì vậy, Cơ quan thi hành án đã dành thời gian để ông thực hiện quyền khiếu nại theo quy định, đồng thời có văn bản gửi cơ quan có thẩm quyền để làm rõ việc khiếu nại có căn cứ xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay không. Khi nhận được trả lời không có căn cứ xem xét lại, việc tổ chức thi hành bản án là bắt buộc.
“Nhiều lần làm việc với ông T., tôi phải giải thích rõ ranh giới giữa quyền khiếu nại bản án và nghĩa vụ chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Thậm chí còn bảo ông nếu trong quá trình tổ chức thi hành án tôi làm sai, tôi sẽ chịu trách nhiệm... Nhưng khi chưa có quyết định nào của cơ quan có thẩm quyền làm thay đổi nội dung bản án, thì cơ quan thi hành án không thể dừng lại chỉ vì đương sự chưa đồng thuận”, chị Lý kể lại.
Bên cạnh việc giải thích pháp lý, chị và các chấp hành viên cũng đã chuẩn bị phương án cho tình huống ông T. không tự nguyện thi hành.
Khu đất phải thi hành rộng khoảng 3ha, cây keo đã trồng trên đất. Để vào xác minh hiện trạng, đoàn công tác phải đi bộ khoảng 1,5km vì không có đường cho xe đi, lại phải đi qua đất của người khác. Nếu phải tổ chức cưỡng chế, việc khai thác cây dự kiến kéo dài khoảng 20 ngày, chia thành 3 tổ, mỗi tổ 15 người. Từ vị trí khai thác, đường đưa cây ra nơi tập kết đến chi phí dự kiến hơn 200 triệu đồng, tất cả đều phải được tính trước.
Theo chị Lý, với loại việc buộc khai thác cây để giao đất, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện, chấp hành viên phải làm đúng trình tự: vận động, xác minh hiện trạng, lập hồ sơ, xử phạt vi phạm hành chính, rồi mới tổ chức cưỡng chế. Riêng việc lập phương án khai thác cây rừng đã là một khâu phức tạp, phải phối hợp với kiểm lâm, công ty lâm nghiệp, chính quyền địa phương, công an xã và các lực lượng liên quan. Có vụ, chỉ riêng việc họp bàn phương án cũng kéo dài nhiều tháng.
Trong vụ ông Túc, phương án cưỡng chế được tính trong khoảng 20 ngày, chia thành 3 tổ khai thác, mỗi tổ 15 người, kèm phương án đưa cây từ vị trí khai thác ra nơi tập kết. Chi phí cưỡng chế dự kiến hơn 200 triệu đồng. Khoản tiền ấy, nếu cưỡng chế được tổ chức, người phải thi hành án sẽ phải chịu.
Từ phương án cưỡng chế đó, chị Lý đã chọn cách phân tích cho ông T. thấy cái thiệt hơn, bởi nếu để cơ quan thi hành án tổ chức cưỡng chế, toàn bộ chi phí sẽ do người phải thi hành án chịu; còn nếu gia đình tự khai thác đúng thời hạn, thiệt hại sẽ giảm đi rất nhiều… Rồi sau nhiều tháng vận động, từ chỗ không hợp tác, ông T. xin được tự khai thác cây và cam kết hoàn thành trong 20 ngày. Vụ việc kéo dài khoảng 9 tháng từ khi thụ lý đến khi kết thúc.
“Muốn dân nghe, cần lắng nghe dân trước”
Nếu những vụ tranh chấp đất rừng đòi hỏi sự kiên quyết và bản lĩnh, thì các vụ án liên quan tới gia đình, như việc giao con sau ly hôn lại khiến người làm thi hành án như chị phải đối diện với những “nút thắt” rất sâu về tình cảm gia đình.

Trong vụ án giao con mới đây, theo quyết định thi hành án số 5898/QĐ-THADS ngày 17/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, anh La V.Đ (SN 1986, trú tại, xã Bố Hạ, tỉnh Bắc Ninh), phải giao hai con chung là cháu La N.D và cháu La B.Q cho chị Lê Thị T. (SN 1990, trú tại thôn Bến Trăm, xã Bố Hạ), trực tiếp nuôi dưỡng.
Nhìn trên hồ sơ, nội dung phải thi hành án không phức tạp. Nhưng khi xuống cơ sở, cái khó lại nằm ở tâm lý của người thân trong gia đình. Ông nội các cháu cho rằng chị T. chưa có nhà riêng, yêu cầu gia đình bên ngoại phải chia đất, xây nhà thì mới đồng ý cho đón cháu về nuôi. Những yêu cầu ấy không có trong bản án, nhưng chị Lý hiểu phía sau sự cứng rắn của ông là nỗi lo “chính đáng” của một người ông thương cháu.
“Ông không phải không thương các cháu. Chính vì thương nên mới giữ, mới lo. Nhưng việc ông yêu cầu bên ngoại phải chia đất, xây nhà cho chị Thao thì bản án không tuyên, cơ quan thi hành án không thể buộc họ làm việc đó”, chị Lý kể.
Theo chị Lý, thời điểm đó chị T. đi làm công ty, thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng, có khả năng nuôi con và đã về ở bên nhà ngoại. Nếu gia đình bên nội cho rằng người mẹ không đủ điều kiện nuôi con, họ có quyền yêu cầu tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định. Nhưng khi chưa có bản án, quyết định khác thay thế, việc giao con cho người mẹ theo bản án đã có hiệu lực vẫn phải được thực hiện.
Suốt quá trình tổ chức thi hành án, tổ công tác nhiều lần xuống vận động gia đình tự nguyện chấp hành. Có hôm, chị Lý ngồi từ 7h30 sáng đến gần 13h chiều chỉ để nghe ông nội các cháu chia sẻ hết những suy nghĩ, lo lắng của mình. Ông kể chuyện gia đình, chuyện sợ các cháu về bên ngoại sẽ vất vả. Có lúc bức xúc, ông còn nói nặng lời với cơ quan thi hành án nhưng chị vẫn ngồi nghe, không vội cắt ngang… “Ông không phải muốn chống đối hoàn toàn mà chỉ chưa thông được về tâm lý thôi. Nên nếu mình không chịu ngồi lắng nghe họ chia sẻ thì sẽ rất khó để thuyết phục họ nghe lại mình”, chị nói.
“Sau khi ngồi nghe ông tâm sự hết, tôi mới bắt đầu phân tích từng việc. Tôi giải thích cho ông hiểu là cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thực hiện đúng nội dung bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tâm tư, nguyện vọng của ông sẽ được ghi nhận, truyền đạt, nhưng điều không có trong bản án thì cơ quan thi hành án không thể đặt ra thành điều kiện để trì hoãn việc giao con. Rồi giải thích rõ cho ông hiểu về hậu quả nếu gia đình tiếp tục không chấp hành: Nếu không tự nguyện giao con, cơ quan thi hành án buộc phải lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp vẫn cố tình không thực hiện, hồ sơ có thể được chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý hình sự về hành vi không chấp hành án”, chị Lý nói thêm.
Đến ngày tổ chức thi hành án (18/5/2026), phía gia đình tiếp tục xin hoãn với lý do đang có việc giỗ. “Hôm đó tôi nói với ông rằng, quan hệ hôn nhân có thể chấm dứt nhưng quan hệ huyết thống thì không bao giờ chấm dứt. Chúng cháu mong gia đình tự nguyện, để chúng cháu không phải làm bước tiếp theo là xử phạt, rồi chuyển hồ sơ đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự”, chị Lý nhớ lại.
Sau nhiều giờ giải thích, tới khoảng hơn 10h sáng cùng ngày, người ông đã đồng ý giao các cháu cho mẹ theo đúng bản án của tòa. Điều khiến chị Lý nhớ nhất trong vụ việc này không phải là khoảnh khắc hoàn thành thủ tục giao con, mà là câu nói của người ông với tổ công tác: ông không muốn vì chuyện nuôi cháu mà con trai mình bị xử lý. “Lúc đó mình hiểu là ông đã thông rồi”, chị nói.
Nhìn lại những vụ việc đã đi qua trong suốt thời gian công tác, chị Lý trải lòng: “Pháp luật là điểm tựa bắt buộc của chấp hành viên. Nhưng để một bản án đi được vào đời sống, chỉ nắm chắc luật thôi là chưa đủ, người làm thi hành án phải vừa rắn, vừa mềm. Rắn để giữ kỷ cương pháp luật, mềm để lắng nghe, hiểu người dân đang vướng ở đâu, lo điều gì. Nếu chỉ biết cứng, rất khó để người dân tình nguyện tuân thủ. Muốn dân nghe mình, trước hết phải hiểu cái họ đang lo”.
Bởi vậy, trong quá trình tổ chức thi hành án, chị luôn cố gắng để người được thi hành án và người phải thi hành án hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời có sự chia sẻ nhất định với nhau. Có những vụ việc sau khi cưỡng chế, giao nhà, giao tài sản, các bên vẫn có thể ngồi lại cùng đoàn công tác. Những kết quả ấy không chỉ thể hiện việc bản án đã được thi hành, mà còn cho thấy hiệu quả của công tác vận động, thuyết phục trong thi hành án dân sự.
“Bản án dừng lại là bản án đã thi hành xong. Nhưng với tôi, nếu mâu thuẫn phát sinh chưa được giải quyết thì bản án ấy chưa thật sự kết thúc”, chị Lý nói.
Hơn 22 năm gắn bó với nghề, đi qua nhiều địa bàn, nhiều vụ việc, nữ chấp hành viên hiểu rằng áp lực trong thi hành án dân sự không bao giờ ít. Song chính từ những áp lực ấy, người chấp hành viên càng phải giữ vững bản lĩnh, sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm. Trên những nẻo đường thi hành án, niềm vui lớn nhất của những chấp hành viên là thấy pháp luật được thực thi nghiêm minh, người dân hiểu, tự nguyện chấp hành và những mâu thuẫn sau bản án cũng được khép lại.
Chị Vi Thị Hải Lý hiện là Phó trưởng Phòng Thi hành án dân sự số 3, tỉnh Bắc Ninh. Chị bắt đầu công tác trong ngành thi hành án dân sự từ năm 2004, đến nay có hơn 22 năm gắn bó với nghề. Từ năm 2004 đến năm 2023, chị công tác tại Chi cục THADS huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (cũ).
Từ tháng 10/2023 đến ngày 25/12/2024, chị chuyển về Chi cục THADS huyện Tân Yên; sau đó trở lại Chi cục THADS huyện Yên Thế. Từ ngày 1/7/2025, thực hiện chủ trương bỏ cấp huyện, sáp nhập tỉnh, chị nhận nhiệm vụ tại Phòng THADS số 3, tỉnh Bắc Ninh.

