Giỗ Tổ Hùng Vương trong tâm thức người Việt
Nói đến ngày Quốc lễ 10 tháng 3 (âm lịch), ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, điều trước tiên mà người ta nghĩ đến chính là thời đại đã tạo dựng nên một nền văn minh rực rỡ - nền văn minh sông Hồng ở vùng Đông Nam Á cách đây chừng bốn ngàn năm. Các nhà sử học, khảo cổ học, dân tộc học Việt Nam, bằng nhiều cứ liệu xác thực, bằng nhiều công trình nghiên cứu khoa học của mình đã khẳng định thời đại Văn Lang - Âu Lạc là một thời đại hoàn toàn có thực.
Nói đến ngày Quốc lễ 10 tháng 3 (âm lịch), ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, điều trước tiên mà người ta nghĩ đến chính là thời đại đã tạo dựng nên một nền văn minh rực rỡ - nền văn minh sông Hồng ở vùng Đông Nam Á cách đây chừng bốn ngàn năm. Các nhà sử học, khảo cổ học, dân tộc học Việt Nam, bằng nhiều cứ liệu xác thực, bằng nhiều công trình nghiên cứu khoa học của mình đã khẳng định thời đại Văn Lang - Âu Lạc là một thời đại hoàn toàn có thực.
![]() | ||
|
Khai mạc Lễ hội Đền Hùng 2010. Ảnh: Đinh Vũ |
||
Trải qua các giai đoạn Phùng Nguyên (buổi ban đầu thời đại đồng thau), Đồng Đậu, Gò Mun, đến giai đoạn Đông Sơn (cuối thời kỳ đồng thau), cư dân Văn Lang đã tạo dựng được một nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc và bản lĩnh. Bản sắc văn hóa ấy được thể hiện rõ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống con người, từ việc trồng cây lúa nước, đúc đồng, làm gốm, dệt vải may áo, khố, váy… đến việc thờ cúng thần mặt trời, thờ cúng vật tổ, phong tục cưới xin, tang ma, các huyền thoại, huyền tích, v.v… Về mặt tổ chức xã hội cũng đã có bước phát triển mới: mường bản và liên minh bộ lạc ra đời. Hình thái tổ chức xã hội này được giới sử học xác định là hình thái đầu tiên của nhà nước. Sách “Việt sử lược” (quyển 1) chép:
“Dị nhân dùng yêu thuật bắt các bộ lạc theo phục, tự xưng là Hùng Vương hiệu là nước Văn Lang. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương…” (1)
Về sự kiện này, diễn ca lịch sử đời sau viết:
Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gây dựng đời đời nghiệp vua.
Theo truyền thuyết và sử cũ, nước Văn Lang, chọn Phong Châu (Phú Thọ) làm kinh đô. Nước chia thành 15 bộ với địa vực bao gồm toàn bộ vùng đất Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, từ sông Gianh (Quảng Bình) trở ra, và cả một phần đất Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc).
Sự thực lịch sử là như vậy. Nó là đề tài, là chất liệu, là cảm hứng để các tác giả dân gian, từ hơn 2.000 năm trước sáng tác nên nhiều huyền thoại “hay và đẹp lạ thường” (Phạm Văn Đồng), ví như các truyện: “Lạc Long Quân - Âu Cơ”, “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, “Sự tích bánh chưng, bánh dày”, “Trầu cau”, “Hùng Vương chọn đất đóng đô”, “Hùng Vương dạy dân cày cấy”, “Tiên Dung - Chử Đồng Tử”, “Mai An Tiêm”, “Thánh Gióng”, v.v… Cùng với việc sáng tác ra các huyền thoại để ghi lại những sự kiện, những nhân vật lịch sử trong thời kỳ sơ sử, người Việt Nam còn dựng nhiều đền miếu và mở nhiều lễ hội để tưởng nhớ, ghi ơn các vị thánh thần, các vị vua chúa, các anh hùng có công với nước, với dân. Đền Hùng và Lễ hội Đền Hùng được cả nước tôn vinh bởi nó thể hiện rõ truyền thống và đạo lý tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn/Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”của nhân dân ta.
Khu di tích lịch sử - văn hóa Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh (còn có tên là Hy Cương, Hy Sơn, Nghĩa Cương, Bảo Thiếu Sơn), một ngọn núi cao nhất vùng Phong Châu (175m). Nơi đây có nhiều hạng mục, nhiều công trình kiến trúc mang nhiều giá trị và ý nghĩa lớn: Đền Thượng, nơi Hùng Vương thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân; trong đền có bức đại tự đề 4 chữ “Nam Việt triệu tổ”. Gần đền có lăng mộ các vua Hùng xây bằng đá. Đền Trung tương truyền là nơi các vua Hùng thường họp bàn việc nước và cũng là nơi Lang Liêu dâng vua cha bánh chưng, bánh dày… Dưới đền Trung là Đền Hạ. Theo truyền thuyết, tại nơi này mẹ Âu Cơ đã sinh ra 100 người con tuấn tú (cùng nằm trong một cái bọc) và người con cả về sau đã được suy tôn thành vua Hùng thứ nhất. Dưới chân Nghĩa Lĩnh còn có giếng ngọc, một cái giếng nước rất trong, nơi đã từng in bóng 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung (con gái vua Hùng thứ 18) ngày ngày ra rửa mặt, vén tóc, soi gương… Bao thế kỷ nay, Đền Hùng đã thành cõi linh thiêng, là nơi mà mọi người Việt Nam dù ở gần hay ở xa, dù trong nước hay ngoài nước đều luôn hướng về với tất cả niềm tự hào và niềm kính yêu sâu sắc.
Thấm nhuần đạo lý “Cây có cội, nước có nguồn” của dân tộc, chính quyền các cấp thời phong kiến cũng như hiện nay đều rất coi trọng việc thờ cúng Tổ tiên của đất nước. Dưới triều vua Khải Định, năm 1917 tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã có văn bản đệ trình xin Bộ Lễ ấn định ngày 10 tháng 3 hằng năm làm ngày Quốc lễ. Ngày 18 tháng 2 năm 1946, sau ngày đất nước độc lập chưa được 5 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Công văn số 22 CV/CC cho công chức nghỉ làm việc ngày 10 tháng 3 (âm lịch) cùng với các ngày lễ lớn khác như lễ Noel, lễ Phật đản.
Ít năm trước đây Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng đã đưa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vào danh mục các ngày Quốc lễ trong năm. Theo nhiều nhà văn hóa, Việt Nam là một trong ít nước trên thế giới (cũng có thể là nước duy nhất (?)) có một ngày mà đồng bào cả nước làm giỗ chung để tưởng nhớ và tri ân ông Tổ của dân tộc.
Khu di tích lịch sử - văn hóa và Lễ hội Đền Hùng; cùng với các huyền sử, huyền thoại thời dựng nước một mặt tôn vinh những người có công khai thiên, lập địa, giữ gìn, bảo vệ non sông, đất nước thuở ban sơ, mặt khác cũng là sự thể hiện lòng biết ơn sâu nặng của các thế hệ cháu con đối với tiền nhân. Những di sản, những giá trị vật chất, tinh thần này cũng góp phần làm cho các sự kiện lịch sử trọng đại, các danh nhân văn hóa của dân tộc trường tồn cùng quê hương, đất nước. Đó cũng là một cách giáo dục có hiệu quả cao, một cách lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta đã làm từ xưa đến nay.
Trần Hoàng
(1) Trích theo “Lịch sử Việt Nam” (tập I)- NXB KHXH. H 1971 trang 62.
(2) Theo sách “Văn hóa dân gian vùng đất Tổ” - Sở VHTT Vĩnh Phúc xuất bản 1986.
