Gian nan kiểm định chất lượng giáo dục ĐH
Theo các chuyên gia, công tác kiểm định ĐH ở Việt Nam vẫn hoàn toàn mới mẻ nên còn nhiều lúng túng, ngay từ quy trình thời gian...
Theo các chuyên gia, công tác kiểm định ĐH ở Việt Nam vẫn hoàn toàn mới mẻ nên còn nhiều lúng túng, ngay từ quy trình thời gian: triển khai từ năm 2005- 2006, hoàn tất đánh giá ngoài vào năm 2007 nhưng đến 2009 mới được công nhận.
![]() |
Như vậy, phải mất 5 năm trời mò mẫm, việc kiểm định chất lượng 20 ĐH đầu tiên mới gần như hoàn tất. Chính vì vậy, sau khi thí điểm kiểm định 20 trường này, Bộ GD - ĐT lại đang bắt tay vào rà soát để điều chỉnh lại các tiêu chí kiểm định và quy trình kiểm định hợp lý hơn.
Tiến sĩ Nguyễn An Ninh, Cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục cho biết: Trong tháng 12, Cục sẽ trình Bộ trưởng dự thảo về quy trình kiểm định mới, sau đó mới công bố chính thức kết quả kiểm định và cấp chứng nhận cho 20 trường ĐH đầu tiên, dự kiến vào tháng 1/2010.
Theo tiến sĩ Nguyễn Phương Nga, Giám đốc Trung tâm Đảm bảo chất lượng và nghiên cứu phát triển giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội), tháng 2/2009, Bộ GD-ĐT đã có công văn công nhận kết quả kiểm định của 20 ĐH và yêu cầu các trường hoàn tất báo cáo đánh giá giữa kỳ vào 15/10/2009. Đáng ra phải công bố công khai thì hầu hết các ĐH đều “giấu” thông tin.
Một vấn đề nữa, Luật Giáo dục quy định các trường phải kiểm định. Thế nhưng, theo bà Nga, vấn đề đặt ra là sau kiểm định các trường “được gì” thì vẫn chưa rõ ràng: “Trường được đầu tư nhiều hơn hay sẽ có những chính sách thuận lợi hơn cho người học và giảng viên, các nhà quản lý của trường…?”.
Ở Mỹ, luật không bắt buộc kiểm định nhưng tất cả các trường đều phải kiểm định, kể cả trường nổi tiếng như Harvard. Những sinh viên theo học ở trường đã kiểm định có thể xin học bổng và vay vốn ngân hàng dễ dàng. Mọi nguồn tài trợ khác nhau cũng "nhắm" đến các trường đã kiểm định
Mặc dù đã có quy định, song không hiểu vướng mắc ở khâu nào mà đến nay cơ quan kiểm định độc lập vẫn chưa được thành lập. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, việc thành lập những tổ chức kiểm định độc lập, phi chính phủ là chưa phù hợp. Kinh nghiệm của Philippines qua 21 năm thành lập các hiệp hội kiểm định cho thấy ban đầu gặp rất nhiều khó khăn bởi các trường không hợp tác hoặc không thấy sự cần thiết phải kiểm định chất lượng. Sau một thời gian dài làm việc và thay đổi các tiêu chí cũng như quy trình, đến nay, các hiệp hội kiểm định ở nước này đã được công nhận.
Tình trạng đó cũng đang xảy ra ở Việt Nam: giáo dục đại học chỉ đáp ứng được một phần nhỏ so với nhu cầu cầu (trên 1 triệu thí sinh thi ĐH, CĐ chỉ có khoảng 30% trúng tuyển).
Vì vậy, các ĐH công lập Việt Nam không cần phải cạnh tranh, còn các trường dân lập lại không có giá trị tự thân. Khi đã không có cạnh tranh thì việc kiểm định không trở thành nhu cầu bức thiết của các trường. Việc Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục được giao chủ trì kiểm định cho thấy, cơ chế này thực chất là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, và thực tế cũng không có đủ nguồn lực để thực hiện. Vì vậy, việc thành lập các tổ chức kiểm định độc lập vẫn là xu thế tất yếu.
