Giảm "uy" vì kết quả giám định bị "om"
Với qui định “trước không sau có” của pháp luật hiện hành về giám định tư pháp, công tác này đành chịu “lép vế” và không ít trường hợp làm thay đổi “tư cách tố tụng” của đương sự một cách bất đắc dĩ.
Trong tiến trình cải cách tư pháp, công tác giám định tư pháp luôn được nhấn mạnh như một trong những lĩnh vực trọng tâm, có tính quyết định đến hiệu quả của quá trình tố tụng. Tuy nhiên, với qui định “trước không sau có” của pháp luật hiện hành về giám định tư pháp, công tác này đành chịu “lép vế” và không ít trường hợp làm thay đổi “tư cách tố tụng” của đương sự một cách bất đắc dĩ.
Nguyên nhân là vì không ít qui định quan trọng đã “vắng mặt” trong các văn bản pháp lý về giám định tư pháp nên người thi hành muốn làm sao cũng được, không thể bắt bẻ hay áp dụng chế tài nào đối với người có một số hành vi như chậm trả lời về kết quả giám định.
![]() |
| Hoạt động giám định tư pháp. Ảnh minh họa |
Tìm “mỏi mắt” trong Pháp lệnh Giám định Tư pháp (2005) – văn bản pháp lý cao nhất hiện nay điều chỉnh hoạt động giám định tư pháp – cũng khó có thể thấy được qui định nào về thời gian trả lời về kết quả giám định pháp y tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra. Sự thiếu hụt này khiến nhiều đương sự không thể được Tòa án bảo vệ vì không xác định được tỷ lệ thương tật hoặc có được ra trước Tòa cũng chỉ với tư cách tố tụng khác, không thể là người bị hại để yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Cũng vì không có qui định về thời gian phải trả kết quả giám định nên trong nhiều vụ, cơ quan giám định cứ “om” kết quả, đương sự cứ “dài cổ ngóng chờ” tỷ lệ với thời gian “bặt vô âm tín” của các đơn kiến nghị, yêu cầu được nhận kết quả giám định.
Trong khi đó, theo Điều 46 Pháp lệnh này (qui định về khiếu nại tố cáo trong giám định tư pháp) lại qui định rõ thời hạn trả lời kết quả giám định lại là “7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu giám định lại”. Nghĩa là pháp luật có “quan tâm” đến việc trả kết luận giám định nhưng chỉ khi “giám định lại”, còn giám định lần đầu thì “thả nổi”, tùy “hảo tâm” của cơ quan tiến hành giám định và cơ quan điều tra.
Không những thế, các qui định về định lượng để xác định tỷ lệ tổn hại sức khỏe trong Pháp lệnh cũng đã bất cập và không rõ ràng, làm ảnh hưởng đến kết quả của quá trình tố tụng, dẫn đến những khiếu nại không đáng có.
Thiết nghĩ, cải cách tư pháp phải bắt đầu ngay từ những lĩnh vực cơ bản nhất, trong đó có giám định tư pháp. Và để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giám định tư pháp phải được bắt đầu từ việc hoàn thiện các qui định pháp luật liên quan. Không thể để pháp luật về giám định tư pháp cứ mãi trong tình trạng “cái cần không có”, “cái đáng có lại cũng không” như hiện nay, làm giảm “uy tín” của công tác có vai trò rất quan trọng này trong quá trình tố tụng.
Huy Anh
