Giám định tâm thần gặp khó vì ’eo hẹp’ nhiều bề
Giám định pháp y tâm thần có tính đặc thù và hết sức phức tạp nhưng thực tế, thời gian, người và trang thiết bị phục vụ công việc này đều thiếu.
[links()]
Với những đối tượng “giả tâm thần” nhằm thoát tội, người giám định viên bên cạnh trình độ còn phải có đạo đức “sạch". Đó là trách nhiệm với nghề, với số phận của những con người.
Muốn kết luận “chuẩn”, phải có thời gian
Giám định pháp y tâm thần (PYTT) là công việc đặc thù và hết sức phức tạp. Như bài báo trước đã đề cập, với những trường hợp giả tâm thần nhằm thoát tội thì việc phát hiện ra bệnh thật hay không khó khăn hơn nhiều lần vì khi đó, giám định viên phải “đối mặt” với những kịch bản đã soạn sẵn.
![]() |
| Bên cạnh trình độ, giám định viên cần có đạo đức "sạch" |
BS Trịnh Tất Thắng, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần TPHCM, nguyên giám đốc Trung tâm GĐPYTT TP từng chia sẻ trên một tờ báo: Khi giám định các đối tượng phạm tội, nhất là những tội nặng, các ông thường gặp dạng giả tâm thần.
“Khi đó, tay nghề vững vàng và lương tâm nghề nghiệp là hai điều rất cần thiết ở người giám định viên”, Bác sỹ Thắng nhấn mạnh. “Trong nhiều trường hợp, người được giám định sẽ dựng lên các màn kịch điên rất thật, thậm chí sẵn sàng “thoả thuận” với giám định nếu vở kịch bất thành”. Để “bắt bài” các đối tượng này, nhiều khi phải kéo dài thời gian theo dõi.
Còn giám định viên Phùng Anh Tuấn, Giám đốc trung tâm PYTT Vĩnh Phúc cho biết: trung bình thời gian mỗi vụ giám định tại Trung tâm là 1 tháng; tuy nhiên, với những vụ phức tạp, các ông đều phải “gửi” lên Viện Giám định pháp y tâm thần TW để “nhờ giám định”.
Thời gian eo hẹp (bởi còn liên quan tới thời hạn điều tra, truy tố xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự), trong khi giám định tâm thần phải cần thời gian (để nắm bắt quy luật, theo dõi các thói quen sinh hoạt…của người bệnh). Theo nhiều giám định viên, trong nhiều vụ việc, đặc biệt là những vụ phức tạp, họ không đủ thời gian để cho ra đời những kết luận chắc chắn và thực tế, đã có những vụ phải giám định lại nhiều lần.
Trong khi đó, các loại bệnh lý về tâm thần rất khó “nhận diện”, lúc phát bệnh, lúc không; hoặc bị bệnh nhưng dưới dạng “ẩn”. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, sự thất thường trong mức độ “nặng- nhẹ” của người bệnh cũng làm các giám định viên phải “đau đầu”.
Khan hiếm nhân lực, trang thiết bị
Theo Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương, đến 12/2009, cả nước có 12 Trung tâm Giám định pháp y tâm thần; có 162/2461 giám định viên đã được cấp thẻ, chiếm 6,58%. Trong số các giám định viên, nhiều người có trình độ cao (tiến sỹ, thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa cấp 1, 2…) và một bộ phận bác sỹ định hướng chuyên khoa tâm thần. Các giám định viên phần lớn là người có kinh nghiệm, được đào tạo chuyên sâu. Từ năm 2005 đến nay, cả nước đã thực hiện được 3.595 ca giám định.
Tuy nhiên, bất cập là hiện nay tại nhiều địa phương, số giám định viên pháp y tâm thần vẫn thiếu, chỉ tập trung ở các TP lớn. Cũng theo ông Phùng Anh Tuấn, cả Trung tâm của ông chỉ có vẻn vẹn…mình ông là giám định viên. “Nói chung đội ngũ giám định pháp y tâm thần trên địa bàn hiện nay vừa thiếu vừa yếu”- ông Tuấn nói thêm.
Cũng theo Viện giám định PYTT TW, số giám định viên được đào tạo cơ bản, có trình độ cao, có kinh nghiệm sống nhiều người đã lớn tuổi, theo quy định sắp phải …nghỉ hưu, do đó ngành không tận dụng được nguồn chất xám. Bên cạnh việc việc giám định, tại Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương còn phải điều trị đối tượng phạm pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần, đây là công việc vô cùng nguy hiểm, khó khăn và phức tạp bội phần.
Bên cạnh đó, việc giám định pháp y tâm thần hiện cực kỳ thiếu thốn về trang thiết bị, và đây là một hạn chế lớn “bó tay” các giám định viên khi thực hiện những ca phức tạp, cần sự hỗ trợ tối đa về máy móc…
Vụ án Đồng Đăng Phúc phạm tội giết người ở TP. Hồ Chí Minh là vụ án “nổi tiếng” về sự trúc trắc trong giám định pháp y tâm thần. Sau khi bị bắt giam, Phúc có biểu hiện tâm thần. Kết quả giám định cho thấy Phúc bị bệnh tâm thần phân liệt, không đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và cần đưa đi chữa bệnh một thời gian. Không tin tưởng kết quả này, giám định lần hai, Phúc vẫn phải chữa bệnh. Tuy nhiên, đến lần ba thì kết luận chuyển hướng Phúc bị “rối loạn nhân cách do sử dụng rượu”, Phúc bị tòa tuyên án chung thân (sau khi đã giảm một phần trách nhiệm hình sự). Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, Phúc tỏ ra rất bình thường, không có biểu hiện tâm thần. HĐXX cũng đã chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong 3 lần giám định và hủy án. Lần thứ 4 giám định, kết quả thật bất ngờ là Phúc hoàn toàn bình thường và hắn phải chịu mức án tử hình.
