Giai thoại về mỹ nhân giả khờ để từ chối tình cảm vua Gia Long
(PLVN) - Ít người biết rằng, vua Gia Long – vị hoàng đế sáng lập ra triều đại nhà Nguyễn, trong những tháng năm bôn tẩu phương Nam, từng có tình cảm với một cô gái xinh đẹp người Đồng Tháp và muốn lấy nàng làm thiếp. Thiếu nữ dù hết lòng cùng cha phò tá chúa Nguyễn nhưng đã tìm mọi cách từ chối tình cảm của ông.
Cùng cha phò trợ chúa Nguyễn
Sau nhiều lần bại trận trước quân Tây Sơn và phải ẩn náu ở Thái Lan, năm Ðinh Mùi (1787) Nguyễn Ánh quyết định lựa chọn vùng đất thích hợp trong nước để xây dựng căn cứ. Làng Tân Long, tỉnh Sa Đéc, tức vùng Nước Xoáy - tên chữ Hồi Oa (nay thuộc ấp Hưng Mỹ Tây, xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), chính là nơi được lựa chọn. Chỗ ấy sau này được gọi là “đồn cũ Hồi Oa”.
Nói về chuyện này, sách Ðại Nam thực lục chánh biên có chép: “Tháng 8 năm Ðinh Mùi (1787), Nguyễn Vương trở về đóng ở Hồi Oa, sai binh tướng đắp xây thành lũy bằng đất. Hoàng Văn Trương và Tống Phước Ngạn đóng bên tả, Nguyễn Văn Trương và Tô Văn Ðoài đóng bên hữu. Quân Tây Sơn kéo đến đắp lũy bao vây, hai bên đánh nhau suốt mấy ngày không phân định thắng thua…”.
Nói thêm về cái tên Nước Xoáy, sở dĩ gọi như vậy là bởi tại đây có hai nguồn nước Tiền Giang và Hậu Giang giáp nối, cùng các sông rạch khác chảy dồn vào khiến cho con nước chảy xoáy vòng lại. Tiền nhân đặt tên là Nước Xoáy, tên chữ là Hồi Oa. Về sau Nguyễn Ánh thấy Nước Xoáy là một nơi nhân hoà, địa lợi, nơi giúp cho ông trung hưng phục nghiệp, nên cho đổi tên Nước Xoáy thành Long Hưng.
Trong thời gian đóng quân ở đồn Hồi Oa, Nguyễn Ánh đã tạo được nhiều thiện cảm đối với dân chúng, nhiều nhà đã không tiếc của, sẵn sàng góp gạo nuôi quân. Một trong những người có công rất lớn trong việc phò tá chúa Nguyễn lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Mậu (1727 - 1809) còn có tên là Hậu, là một phú hào trong làng. Ông Hậu làm Tri thâu trong làng (thu các sắc thuế), được tín nhiệm nên kiêm luôn chức Trùm cả.
Cây đa cổ thụ cạnh miếu Gia Long trên nền bản doanh Hồi Oa xưa. |
Ông Hậu vốn người đức cao, hay giúp kẻ hoạn nạn, trợ người khó nghèo, được người làng yêu mến. Khi Nguyễn Ánh vừa dẫn binh đến trú đất Hồi Oa, ông Hậu đến gặp và thấy đây là một thiếu niên dáng nho nhã, nét cương nghị trầm hùng, gương mặt rắn rỏi, quả cảm. Ông Hậu hết sức cảm phục khen thầm: “Đây là một vị chơn chúa đang lúc phong trần, mai sau thanh vân đắc lộ, quyết chẳng ai hơn nổi !”.
Ông Hậu liền đến bái kiến chúa Nguyễn. Nguyễn Ánh lúc đó mới hỏi rằng liệu mọi người có thể cảm thông, giúp đỡ ông đương lúc gian nan. Ông Hậu đồng ý ngay và đã xuất tài sản, lúa gạo lương thực nuôi quân của Nguyễn Ánh ròng rã ba tháng trời. Ngoài dốc của dốc lòng chu cấp cho binh sĩ, ông còn vận động người làng theo về ủng hộ cho vị chơn chủ.
Thường ngày, ông Hậu cho người nhà nấu sẵn cơm, cho ghe chở ra đến vàm Nước Xoáy, cách nhà ông độ vài cây số, tiếp tế cho quan binh của Nguyễn Ánh. Trong nhà, có người con gái út của ông, tên là Nguyễn Thị Ngọc Mai, có nhan sắc lại đoan trang thùy mị nết na, cũng hết lòng giúp cha trong việc lo hậu cần. Nhờ sự hỗ trợ của gia đình ông, quan binh của Nguyễn Ánh yên tâm xây thành đắp lũy và lập được nhiều chiến công.
Cảm nhận nghĩa cử hào hiệp, chí tình của ông Hậu, Nguyễn Ánh xem ông Trùm cả như một người cha nuôi của mình, gọi ông là “ông Bõ”. Từ đó, dân làng đều kính trọng gọi ông là ông Bõ Hậu. Có câu chuyện lưu truyền rằng, ông Bõ Hậu không những giúp tài lực cho Nguyễn Ánh mà còn có ý định muốn gả người con gái út Ngọc Mai để sớm hôm bầu bạn, hầu hạ chúa.
Nhưng từ chối kết duyên vợ chồng
Ngọc Mai vốn là thiếu nữ có nhan sắc, lại đoan trang thùy mị nết na, được gia đình và người làng hết mực yêu quý. Nguyễn Ánh lúc bấy giờ cũng rung động trước nàng – người con gái đã không quản ngại nhọc nhằn cùng cha trợ giúp mình phục nghiệp. Sau khi ông Bõ đã có lời ngỏ ý, Nguyễn Ánh cảm kích và thuận ý lấy cô làm thứ phi. Thế nhưng điều bất ngờ là Ngọc Mai lúc này đã dành cho chúa Nguyễn một thứ tình cảm khác.
Cô thưa với ông Bõ: “Bấy lâu con vẫn có lòng thương mến Ngài (ý nói Nguyễn Ánh – PV) như tình anh em mà thôi. Vả chăng, ai cũng biết cha con ta đã hết lòng giúp đỡ Ngài trong lúc bôn tẩu, đó là một nghĩa cử cao đẹp, nên giữ cho trọn tình cao cả...” Ngọc Mai đã từ chối việc kết duyên vợ chồng với Nguyễn Ánh, để giữ nguyên hình ảnh chúa như một người anh trong lòng, cũng là để trọn vẹn nghĩa cử cha mình đối với chúa Nguyễn như trước nay.
Thấu hiểu tình cảm của Ngọc Mai dành cho mình, Nguyễn Ánh tôn trọng quyết định đó. Nhưng Ngọc Mai vì chuyện này mà phiền muộn, thường trầm mặc sầu tư, từ ấy tránh mặt chúa. Một hôm vô tình gặp nàng, Nguyễn Ánh hỏi nguyên cớ vì sao ủ dột khác lạ. Thấy vậy, Ngọc Mai lại nghĩ, ngày nào nhan sắc mình còn giữ thì ắt có lúc chúa đắm say mà cợt nhả, hư thể thống quân thần, để lại tiếng xấu cho cả hai người.
Vì vậy, nàng quyết định hủy hoại nhan sắc bằng cách lấy lá tẩm chất độc, un khói hơ lên mặt hủy hoại nhan sắc. Có dị bản do hậu nhân của ông Bõ Hậu kể rằng, cô lấy lá mía cào lên mặt rồi hơ lửa cho vết thương làm độc. Sau lần tự hủy hoại chính mình, Ngọc Mai lâm bệnh và qua đời trong sự thương tiếc của gia đình, xóm làng và cả chúa Nguyễn.
Ngoài ra, ở phần kết của câu chuyện buồn này, dân gian lưu truyền nhiều câu chuyện khác nhau. Có chuyện kể rằng, Ngọc Mai vì để ngăn cản tình cảm của chúa, nàng đã phải giả điên, thường lấy bùn lấy lọ bôi lên mặt, làm những điều kỳ quái. Vốn dĩ ban đầu chỉ là giả khùng nhưng không ngờ sau đó Ngọc Mai điên thật, sống trong cảnh nửa tỉnh nửa mê cho đến khi đổ bệnh qua đời.
Lại có lưu truyền khác, rằng không phải cô con gái ông Bõ Hậu giả điên, mà là khi đoàn thuyền đi rước cô ra chốn hành cung của Nguyễn Ánh, thuyền đi đến giữa đường thì đêm tối, cô gái đã nhảy xuống dòng sông mất tích. Cũng có chuyện kể rằng, ai đó đã tổ chức cuộc đánh tráo, đem theo hòn đá trên thuyền, thừa đêm tối ném hòn đá xuống sông rồi báo rằng người con gái ấy đã từ chối cuộc hôn nhân bằng cái chết.
Liên quan đến câu chuyện trên, sử sách sau này còn ghi, năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Gia Long. Nhớ ơn ông Bõ Hậu, vua sắc phong cho ông tước Đức hầu. Năm Gia Long thứ 8 (1809), ông Bõ Hậu qua đời, được tin vua hết sức thương tiếc. Nhớ công lao thuở trước, vua phong cho ông tước Hầu và lịnh cho bộ Công đưa người và vật tư từ Phú Xuân vào xây mộ cho ông.
Lần đó, nhà vua cũng lệnh xây một ngôi lăng nhỏ của cô con gái út Ngọc Mai của ông Bõ bên cạnh lăng người cha. Ngày nay, người dân địa phương thường gọi là “Lăng bà Hoàng cô”. Lăng mộ hai cho con ông Bõ khá đồ sộ, được xây bằng đá ong, lối kiến trúc đơn giản với các trụ lăng thấp, vạm vỡ, đầu trụ đắp hình búp sen, mấm mộ lớn, đắp bằng. Ở đầu và cuối mộ xây hai bức bình phong, bức trước nhỏ, bức sau lớn.
Tuổi đời hơn 200 năm, đây được cho là kiến trúc lăng mộ cổ nhất của các vua Nguyễn còn giữ tương đối nguyên vẹn ở Nam Bộ. Tuy nhiên, vào mùa nước nổi hàng năm hay bị ngập nước, nên hai ngôi mộ đã xuống cấp, hư hỏng nhiều chỗ. Nhiều chi tiết như chữ trên mộ bia, trên các câu đối khảm trên bình phong, trên các trụ lăng đều đã mòn, mất dạng từ lâu.
Cách lăng hai cha con ông Bõ Hậu chừng hai cây số là “Đồn cũ Hồi Oa” – nơi năm xưa chúa Nguyễn đóng binh. Thành lũy năm xưa giờ đã không còn dấu tích, tuy nhiên sau này trên nền bản doanh cũ, người ta đã dựng một ngôi miếu thờ có tên là Cao hoàng thái miếu (hay Đức Cao hoàng Miếu) tục gọi là miếu Gia Long, để thờ vua Gia Long.
Ở phía trước ngôi miếu, cạnh bờ sông là chỗ “Cây đa Bến ngự”, ngày nay có cây đa cổ thụ cao lớn. Tương truyền đây là nơi chúa Nguyễn thường ngồi câu cá trong những lúc nhàn rỗi. Miếu Gia Long, Cây đa bến ngự cùng với ngôi lăng hai cha con ông Bõ Hậu ngày nay là những dấu tích lưu dấu thuở bôn đào cùng những giai thoại xoay quanh vị vua mở đầu triều đại nhà Nguyễn.
