“Gánh nặng” tập đoàn nhà nước
Các tập đoàn kinh tế nhà nước, chiếm một nguồn lực rất lớn nhưng những rủi ro mang lại cũng không nhỏ, đang tạo sức ép lên hệ thống ngân hàng thương mại - TS. Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội - chủ biên Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011 trả lời phỏng vấn PLVN.
Thưa ông, tại sao Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011 lại ví nền kinh tế Việt Nam đang ở “ngã ba đường”?
Các tập đoàn kinh tế nhà nước, chiếm một nguồn lực rất lớn nhưng những rủi ro mang lại cũng không nhỏ, đang tạo sức ép lên hệ thống ngân hàng thương mại - TS. Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội - chủ biên Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011 trả lời phỏng vấn PLVN.
Thưa ông, tại sao Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011 lại ví nền kinh tế Việt Nam đang ở “ngã ba đường”?
Thực chất vấn đề này nằm ở chỗ, mô hình tăng trưởng kinh tế của chúng ta hiện nay dựa trên sự mở rộng về lượng với yếu tố đầu vào tăng cao. Thông qua số liệu phân tích, chứng minh cho thấy, dù chúng ta có mở rộng nhưng khả năng hấp thụ của nền kinh tế vẫn không đáp ứng được yêu cầu thực tế.
![]() |
Điều đó thể hiện mô hình tăng trưởng kinh tế ở ta hầu như không còn tác dụng bởi khi tiếp tục đưa thêm nguồn lực vào, chỉ làm tăng thêm lạm phát, bất ổn vĩ mô và đổi lại, tốc độ tăng trưởng cũng không tăng thêm được nhiều. Để làm thay đổi điều đó, đòi hỏi chúng ta phải thay đổi hoàn toàn về chính sách, thay đổi mô hình tăng trưởng, tăng cường chất lượng về đào tạo, giáo dục, quản lý trong nền kinh tế, cải cách hệ thống doanh nghiệp, cải cách sở hữu và khu vực nền kinh tế nào là đầu tầu, là “động năng” cho nền kinh tế đất nước.
Cụ thể với khu vực doanh nghiệp quốc doanh, các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay họ chiếm một nguồn lực rất lớn nhưng những rủi ro mà họ mang lại cho nền kinh tế cũng không nhỏ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tạo sức ép lên hệ thống ngân hàng thương mại thông qua vay mượn, sử dụng tài nguyên lớn.
Qua đó cho thấy, nền kinh tế đất nước ẩn chứa nhiều điều bất ổn, thể hiện qua chỉ tiêu lạm phát cao, làm lãi suất, tỷ giá tăng cao, tiền Việt luôn bị giảm giá, gây sức ép lên hệ thống ngân hàng thương mại nội địa. Ngoài ra, những khoản nợ xấu từ doanh nghiệp nhà nước nói riêng, doanh nghiệp nói chung, trong điều kiện khủng hoảng toàn cầu tác động vào cũng làm tăng thêm sức ép cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Nhưng hiện nay Chính phủ cũng đã có những biện pháp để kiểm chế lạm phát, ông có bình luận gì về các biện pháp đó và góc độ chuyên gia, theo ông nên nhìn nhận vấn đề lạm phát ra sao?
Theo tôi, “dư địa” và không gian chính sách để kiềm chế và ổn định kinh tế vĩ mô của chúng ta hiện nay là không nhiều. Tuy nhiên, Nghị quyết 11 cũng đã sử dụng tương đối đầy đủ các chính sách. Tôi cho rằng, từ nay đến cuối năm, chúng ta thực hiện các chính sách đó đến đâu cũng như cắt giảm đầu tư công như thế nào, kiểm soát được tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng nguồn cung tiền đúng như chúng ta đã đề ra hay không sẽ là điều quan trọng.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cũng không đưa ra các kiến nghị gì nhiều, chỉ là cần điều hành tiền tệ và tài khóa một cách có kỷ luật cao và nghiêm túc, đó cũng là một thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách. Còn ngoài ra, các điều hành hàng ngày, hoặc các điều hành mang tính chất kỹ thuật, cần có tầm nhìn xa hơn, tránh điều hành “giật cục” .
Trước mắt, chúng ta nên tăng lãi suất tiền gửi, nên bỏ trần lãi suất hiện nay, nên để cho lãi suất tăng hơn nữa bởi vì kỳ vọng của người dân về lạm phát năm nay đã rất cao, và lãi suất 14% như hiện nay sẽ làm cho lãi suất thực bị âm. Ngoài ra cũng cần tăng dự trữ bắt buộc của ngân hàng, để kiểm soát nguồn cung tiền cho năm nay, như Nghị quyết XI đề ra.
Vài tuần gần đây, giá cả nhiều mặt hàng có xu hướng giảm xuống, có thể nhìn nhận tín hiệu này như thế nào, thưa ông?
hực tế nêu trên có nhiều lý do. Thứ nhất đó là khuynh hướng chung sau khi chúng ta đẩy giá của một số mặt hàng cơ bản lên cao và từ nay đến cuối năm, giá nhiều mặt hàng sẽ giảm nữa. Thứ hai là nếu như giá càng ngày càng giảm xuống, lại báo động một điều nền kinh tế đang rơi vào tình trạng giảm phát, suy thoái, khả năng mua không còn. Đó là hai lý do chính và lý do thứ hai được xem là rất nguy hiểm đối với nền kinh tế. Tôi cho rằng, tốc độ tăng giá sẽ giảm dần từ nay tới cuối năm, nhưng chính sách tiền tệ không vì thế mà sẽ nới lỏng vội mà chính sách tiền tệ thắt chặt nên được duy trì cho đến hết năm.
Nếu duy trì kiểm soát lạm phát, liệu có thể dẫn tới bùng nổ phá sản hàng loạt không thưa ông?
Khả năng đó cũng có thể diễn ra bởi khi có sự thanh lọc của thị trường, nếu Chính phủ không có sự hỗ trợ cho các khu vực doanh nghiệp tư nhân, chúng ta sẽ mất đi các thành tựu của cải cách, thông qua việc xây dựng nền tảng khu vực tư nhân lớn ở Việt Nam. Điều này đã nhiều lần được nhắc tới và cần thiết phải có sự cắt giảm có kỷ luật về tài khóa, hoạt động của doanh nghiệp khu vực nhà nước cũng như đầu tư công thì cần có ưu tiên rõ ràng cho khu vực doanh nghiệp tư nhân.
Để ưu tiên cho doanh nghiệp khu vực tư nhân, cũng không nhất thiết phải ưu tiên trực tiếp mà có thể làm gián tiếp, thông qua việc cắt giảm khu vực nhà nước, và như vậy, “cùng một chiếc bánh, nếu một người không ăn, người khác sẽ còn và được ăn”.
Xin cảm ơn ông!
Hồng Anh (thực hiện)
