Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam: “Hệ mạch” mới của nền kinh tế Việt Nam

 Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam:  “Hệ mạch” mới của nền kinh tế Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh.

(PLVN) - Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam được xem là dự án hạ tầng “xương sống”, mở ra hành lang phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập kỷ tới. Với chiều dài khoảng 1.541km, tốc độ thiết kế tối đa 350 km/giờ và tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 67 tỷ USD, dự án không chỉ mang ý nghĩa giao thông mà còn định hình lại cấu trúc phát triển đô thị – kinh tế – xã hội của Việt Nam trong thế kỷ XXI – nơi hạ tầng đi trước, mở đường cho thịnh vượng, hiện đại và hội nhập. Nhân dịp Tân Xuân, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam về chủ đề này.

Chi nhiều, lãi lớn…

Thưa Bộ trưởng, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với tổng mức đầu tư hơn 1,713 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 67,3 tỷ USD. Vì sao Việt Nam cần một dự án quy mô như vậy trong thời điểm hiện nay?

Bộ trưởng Trần Hồng Minh: Đây là công trình hạ tầng đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược không chỉ với ngành xây dựng mà với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hiện, năng lực vận tải Bắc - Nam đã tới giới hạn. Đường bộ và hàng không đều quá tải, chi phí logistics cao hơn 1,3 - 1,5 lần trung bình khu vực, trong khi vận tải đường sắt chỉ chiếm dưới 2% thị phần, hạ tầng và công nghệ đều lạc hậu.

Tuyến đường sắt tốc độ cao dài 1.541 km, khổ ray tiêu chuẩn 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/h, đi qua 20 tỉnh, thành phố. Khi hoàn thành, thời gian di chuyển Hà Nội - TP.HCM chỉ còn 5 - 6 giờ, thay vì hơn 30 giờ như hiện nay. Nhưng quan trọng hơn, đây không chỉ là dự án giao thông. Nó là trục phát triển Bắc - Nam, kết nối các cực tăng trưởng, hình thành chuỗi đô thị - công nghiệp - dịch vụ - logistics. Đường sắt tốc độ cao, nói một cách hình tượng, chính là “hệ mạch” mới của nền kinh tế Việt Nam.

Với tổng mức đầu tư khổng lồ, nhiều lo ngại về nguồn vốn và tính khả thi. Nhà nước có đủ năng lực tài chính hay cần huy động thêm các nguồn lực xã hội khác, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Trần Hồng Minh: Nếu Nhà nước tự đầu tư toàn bộ, thời gian hoàn vốn có thể trên 140 năm - không khả thi. Chính phủ đã xác định nguyên tắc rõ ràng: Nhà nước không làm một mình.

Dự án sẽ triển khai theo mô hình hợp tác công - tư (PPP), với nhiều cấp độ tham gia: vốn Nhà nước khoảng 60%, phần còn lại từ tư nhân, trái phiếu và các khoản vay ưu đãi quốc tế. Quan trọng là phải tạo không gian chính sách đủ hấp dẫn để khu vực tư nhân đồng hành.

Bộ trưởng có thể nói rõ hơn về mô hình phát triển đô thị gắn giao thông (TOD) - được xem là “mắt xích vàng” giúp dự án tự cân đối tài chính và lan tỏa phát triển?

Bộ trưởng Trần Hồng Minh: TOD - Transit Oriented Development - là xu hướng phát triển hiện đại, nơi hạ tầng giao thông công cộng trở thành hạt nhân của phát triển đô thị. Ở Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, doanh thu từ quỹ đất quanh các nhà ga thậm chí còn vượt doanh thu từ bán vé.

Tại Việt Nam, chúng tôi dự kiến hình thành 23 ga hành khách, 5 ga hàng hóa, mỗi khu ga trung bình từ 50 - 200 ha. Các địa phương sẽ lập quy hoạch chi tiết quanh ga, tích hợp giao thông - thương mại - dịch vụ - nhà ở. Quỹ đất sạch được khai thác theo cơ chế PPP hoặc đấu giá công khai để tạo nguồn thu bù chi phí đầu tư tuyến đường.

Chuyên chở khát vọng Việt Nam

Dự án đi qua 20 tỉnh, thành phố, quy mô rất lớn, công nghệ phức tạp. Bộ Xây dựng đã chuẩn bị gì để bảo đảm chất lượng, an toàn và quyền lợi của người dân?

Chuyện đường tàu cao tốc - Con đường mở ra bước ngoặt, không gian tăng trưởng mới của quốc gia. (Ảnh: AI).
Chuyện đường tàu cao tốc - Con đường mở ra bước ngoặt, không gian tăng trưởng mới của quốc gia. (Ảnh: AI).

Bộ trưởng Trần Hồng Minh: Dự án sẽ sử dụng khoảng 10.827ha đất, trong đó hơn 60% là đất nông nghiệp, còn lại là đất rừng và các loại đất khác. Tổng số người cần di dời, tái định cư khoảng 120.800 người.

Quan điểm xuyên suốt là: người dân không chỉ có nơi ở mới, mà phải có cuộc sống tốt hơn.  Song song, chúng tôi xúc tiến Trung tâm Đào tạo đường sắt tốc độ cao quốc gia, hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức để đào tạo kỹ sư, công nhân và chuyên gia. Mục tiêu là 10 năm tới, Việt Nam tự bảo trì, tự sản xuất linh kiện cơ bản, làm chủ công nghệ cốt lõi thay vì phụ thuộc nhập khẩu.

Theo Bộ trưởng, khi tuyến đường sắt tốc độ cao được khởi công, đâu sẽ là tác động lớn nhất đến nền kinh tế và tầm nhìn dài hạn của ngành Xây dựng đối với dự án này?

Bộ trưởng Trần Hồng Minh: Có thể nói đây sẽ là dự án hạ tầng mang tính biểu tượng của Việt Nam trong thế kỷ XXI. Nó không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý, mà còn mở rộng không gian phát triển quốc gia.

Về kinh tế, tuyến đường giúp GDP tăng khoảng 0,5 - 0,7% mỗi năm. Về xã hội, dự án giảm phát thải 3 triệu tấn CO₂/năm, giảm tai nạn giao thông, nâng chất lượng sống cho các vùng còn khó khăn. Về đô thị, tuyến đường sẽ hình thành hành lang phát triển mới dọc trục Bắc - Nam, kết nối các trung tâm: Hà Nội - Thanh Hóa - Vinh - Huế - Đà Nẵng - Quy Nhơn - Nha Trang - TP.HCM. Dòng vốn, lao động, tri thức, dịch vụ sẽ lan tỏa đều thay vì tập trung vào hai cực.

Tầm nhìn của ngành Xây dựng là chuyển từ tư duy “xây một tuyến đường” sang “kiến tạo không gian phát triển”. Mỗi nhà ga, mỗi cây cầu, mỗi đoạn hầm đều mang sứ mệnh kết nối con người và vùng đất. Dự án còn là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng BIM - CDE - quản lý vòng đời tài sản, thúc đẩy vật liệu xanh, công trình xanh và phát triển hạ tầng bền vững.

Cú hích hạ tầng thế kỷ

“Nếu hạ tầng là “mạch máu”, thì đường sắt tốc độ cao chính là “trái tim” của nền kinh tế. Nó không chỉ chuyên chở hàng hóa và hành khách, mà còn chuyên chở khát vọng về một Việt Nam hùng cường, hiện đại và nhân văn. Đây sẽ là “cú hích hạ tầng thế kỷ XXI”, lan tỏa động lực tăng trưởng, đưa Việt Nam bước vào không gian tăng trưởng mới”.

Bộ trưởng Trần Hồng Minh.

Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Gia Hồng