Dũng sĩ tí hon gặp Bác

Ông Hồ Quảng Thu vinh dự được gặp Bác Hồ, còn tôi tự hào vì được gặp ông - Dũng sĩ diệt Mỹ tí hon đã từng diệt 52 tên Mỹ. Cũng thông qua những câu chuyện cảm động ông kể về Bác, hình ảnh của Người hiện lên trong tôi thật giản dị, mộc mạc và ấm áp tình người.

Ông Hồ Quảng Thu vinh dự được gặp Bác Hồ, còn tôi tự hào vì được gặp ông - Dũng sĩ diệt Mỹ tí hon đã từng diệt 52 tên Mỹ. Cũng thông qua những câu chuyện cảm động ông kể về Bác, hình ảnh của Người hiện lên trong tôi thật giản dị, mộc mạc và ấm áp tình người.

Mô tả ảnh.
Ông Hồ Quảng Thu chỉ cho chúng tôi xem bức ảnh chụp ông và đoàn dũng sĩ miền Nam gặp Bác.
 
Buổi sáng chủ nhật đầu tháng 5, ngôi nhà ông dường như bừng sáng hơn trong cái nắng vàng oi ả của mùa hè đến sớm giữa một khu phố mới ở đường Đặng Huy Trứ. Ông đón tôi với phong cách giản dị của một người lính Cụ Hồ năm xưa. Cũng không hẳn khi gặp ông tôi mới có được cái cảm nhận này mà ngay từ khi mới bắt đầu gọi điện để hẹn gặp, ông đã đón chào tôi bằng một giọng nói ấm áp và cởi mở, khác với những gì mà chúng tôi vẫn gặp ở những người nổi tiếng khác.

Vừa đón lấy tấm ảnh từ tay ông, tôi đã bị cuốn hút không chỉ bởi cách kể chuyện hấp dẫn của ông mà là sự gan dạ của một thiếu niên dũng cảm một thời, đang ngồi đối diện trước mặt tôi. Một tay rót trà, một tay chỉ vào tấm hình, ông kể: “Chú bắt đầu đánh Mỹ từ khi lấy được khẩu súng Garan M2 (giống súng trung liên) và băng đạn 20 viên để trang bị cho du kích xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Còn nhớ, lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, chú lên núi Bồ Bồ thừa lúc bọn Mỹ dựng súng ở nhà bia để đi lấy đồ ăn, chú lẻn vào nhè nhẹ kéo khẩu súng đi theo dọc mương rồi vứt xuống ao. Chờ đến tối bọn Mỹ thôi lùng sục, chú lại lên lấy lá chuối kẹp khẩu súng chạy xuống sông rồi để dưới đó. Đến chiều hôm sau mới cho người cải trang xuống lấy. Từ đó, chú được du kích tin tưởng và cho sử dụng mìn, súng để đi đánh Mỹ ở trên cánh đồng và các lô cốt. Từ năm 1965 đến 1968, chú diệt được 59 tên Mỹ, đánh sập 3 lô cốt, 1 xe tải GMC, 1 xe Jeep…

“Thằng phá làng”

“Động lực nào thôi thúc chú đánh Mỹ ở tuổi thiếu niên?”, tôi hỏi. “Lúc mới 7 tuổi, chú đi đưa cơm tù cho ba và chứng kiến những đòn tra tấn dã man của giặc đối với ba mình ở nhà tù Hội An như đánh đập, bẻ xương sườn, bẻ răng. Khắp người ba chú bầm đen như chuối mốc để lâu ngày. Sau khi tra tấn dã man, chúng tưởng ba chú đã chết và đem xác vứt ở ngoài bãi. Nhờ mọi người phát hiện và biết ba chú còn sống nên Chi bộ đã cho người đến đưa đi cấp cứu và sau đó đưa lên chiến khu. Năm 1965, người anh thứ 4 của chú hy sinh. Chứng kiến cảnh gia đình đau thương, trong chú dâng lên mối căm thù và quyết tâm diệt thật nhiều Mỹ”, ông Thu xúc động kể.

“Sau mỗi lần chú diệt Mỹ, lấy trộm vũ khí, bọn Mỹ tức giận lại kéo xuống lùng xục và đốt nhà dân. Cũng từ đó, người dân trong làng gọi chú là “thằng phá làng”, ông Thu nhớ lại. Mỗi lần nhớ đến chuyện đánh mìn mắt ông lại ánh lên niềm vui như được sống lại những ngày hạnh phúc nhất. Ông Thu kể tiếp: “Mỗi lần đánh mìn xong và diệt được Mỹ là cảm thấy sung sướng lắm”.

Năm 1965, ông Thu nhỏ và gầy như que củi nên không thể vác nổi mìn. Vì vậy, mỗi lần đi đánh mìn thường có người hỗ trợ. Thời đó, chị du kích Trần Thị Bốn, sau này là Chính trị viên Xã đội Điện Tiến, chuyên đi giúp ông vác mìn tập kết gần chỗ đánh. Có lúc lẻn vào bọn trẻ con đi lượm lon thức ăn thừa của Mỹ để đánh mìn. Khi nào đánh trong bãi rác thì thông báo cho dân lui. Còn đặt mìn đánh xe thì người dân giẫm không nổ nên không cần phải thông báo. Nhiều trận nếu không thông minh thì chúng phát hiện ngay. Ông Thu cho biết: “Ví dụ như: Buổi sáng, bọn Mỹ cho xe rà mìn đi rà trước rồi mới cho xe chạy. Chọn lúc xe chưa rà mìn, chú đặt bao cát xuống dưới lòng đường. Chờ cho xe rà mìn đi qua, chú nhấc bao cát lên và đặt mìn xuống cho nhanh. Nhờ vậy mà bọn Mỹ không phát hiện được và đôi khi chính xe rà mìn cũng bị đánh. Các trận đánh mìn hầu như một mình chú tác chiến. Đặc biệt, đối với trận đánh bãi pháo trên núi Bồ Bồ thì chú phải dùng dây cột vào chân để đo từng đoạn 20m rồi sau đó cộng lại sao cho chính xác để lấy cự ly cho chuẩn để đánh pháo sao cho nhanh và rút nhanh vì trực thăng Mỹ kéo lên rất nhanh sau khi chúng phát hiện. Cũng có lúc, ban ngày chú theo trẻ chăn trâu đến sát hàng rào dây thép gai để tìm xem chỗ nào đặt mìn sáng để tối vào gỡ mìn biết mà tránh. Nếu không biết, gỡ trúng mìn sáng là chúng bắn không còn đường chạy”.

“Gặp Bác là nguồn động viên lớn để chú phấn đấu”

Năm 1966, ông Hồ Quảng Thu được đi dự Đại hội du kích chiến tranh và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì và 2 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Năm 1967, ông được vinh dự đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua Mặt trận 4 và 2 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú và được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất.
Ngày 20-12-1968, hạnh phúc nhất trong đời ông Thu đã đến khi ông được trực tiếp gặp Bác Hồ tại Hà Nội sau hơn 2 tháng đi từ Quảng Nam ra Hà Nội. “Đoàn của chú đi Đại Lộc, qua Lào, đến Thanh Hóa, đi tàu goòng (đầu ô-tô, toa xe lửa) tới Ninh Bình thì có ô-tô đón lên Hà Nội. Tuy nhiên, trước đó, chú không hay biết là sẽ được gặp Bác nên cảm xúc trong chú quá bất ngờ và xúc động”, ông Thu bồi hồi kể lại. Ông Thu cho biết, khi còn ở Quảng Nam chỉ mong đánh diệt thật nhiều Mỹ để được đón Bác vào thăm. Chưa bao giờ tưởng tượng Bác như thế nào nên rất mong được gặp Bác. Ông nhớ lại: “Đoàn của chú có 9 người đều là dũng sĩ diệt Mỹ dưới 17 tuổi. Hôm đó, một người trong đoàn căn dặn mọi người: Các cháu mặc ấm đi công tác và sau đó chở thẳng đến Hội trường Ba Đình dự lễ mít-tinh kỷ niệm 8 năm thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960 – 20-12-1968). Tại hội trường, bỗng nhiên Bác Hồ xuất hiện trong bộ áo quần kaki giản dị, đầu đội mũ pê-rê công nhân vẫy tay chào mọi người.
 
Vừa nhìn thấy Bác, tự dưng nước mắt chú giàn giụa. Hình ảnh Bác giản dị và ấm áp quá. Bác Kỳ bảo với đoàn: “Các cháu dũng sĩ tí hon lên gặp Bác Hồ nhé”. Tất cả mọi người trong đoàn ùa lên ôm lấy Bác”. Trong ánh mắt rưng rưng, ông Thu bồi hồi xúc động kể: “Chú nhớ lúc đó, Bác quay sang hỏi chị Hồ Thị Thu rằng: Cháu học lớp mấy? Chị Thu trả lời: “Thưa Bác, cháu chưa biết chữ”. Bác nói: “Các cháu đánh Mỹ giỏi nhưng các cháu chưa được học hành, giờ Bác đưa các cháu vào quân đội để đào tạo nhé”. Vừa kể đến đây, ông Thu tự hào chỉ vào bức ảnh trước mặt tôi: “Ngay sau đó, Bác Hồ rút một bông hoa Hồng trong lẵng hoa đặt trên bàn và trao tặng chú rồi căn dặn: Các cháu về điều trị bệnh, ăn no, học giỏi. Tết Bác gọi lên!”. Ông Thu nhìn vào ảnh Bác trong nuối tiếc và nghẹn ngào: “Đúng như lời hẹn, năm 1969, Bác Hồ đón đoàn Cuba, Bác lại gọi đoàn dũng sĩ tí hon lên nhưng lúc đó chú bị bệnh sốt rét nằm ở Bệnh viện Việt - Xô nên đoàn đã thiếu chú”.

Tháng 3-1969, đoàn dũng sĩ miền Nam được đưa về Trung đoàn 253 đóng tại thị trấn Nam Sách, Hải Dương để an dưỡng, điều trị bệnh và học tập. Lớp học được Bác cho cử 17 giáo viên giảng dạy. “Khi được tin Bác mất, cả đoàn chú ai cũng bủn rủn chân tay. Lúc đó, chú không còn tâm trí nào để học mà chỉ muốn về quê đánh giặc. Tuy nhiên, vinh dự được gặp Bác là nguồn động viên lớn đối với chú để phấn đấu học tập mặc dù lúc đó rất khó khăn, gian khổ vì bệnh tật và sốt rét… Từ một người không biết chữ, được Bác quan tâm cho ăn học, chú đã thi đỗ đại học quân sự và là một trong hai người trong đoàn dũng sĩ miền Nam thi đỗ đại học”.

Hình ảnh của Bác luôn là tấm gương sáng giúp ông Thu sống và làm việc hết mình với đạo đức trong sáng. Ông đã vượt qua chính mình ngay cả trong những lúc gian khổ và đầy cám dỗ nhất. Ông Thu cho biết: “Năm 1983, chú chuyển ngành về Điện lực 3. Mặc dù hơn 20 năm làm Trưởng phòng Quản lý kho Điện lực miền Trung, với hoàn cảnh gia đình khó khăn: vợ thất nghiệp, ba thương binh nặng 1/4… nhưng chính bản thân chú đã đấu tranh bằng mọi cách để giữ cho mình trong sạch”. Trong thời gian này, ông Thu còn là Phó Chủ tịch Công đoàn phụ trách đời sống công nhân, luôn đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho công nhân và được mọi người yêu mến. Mặc dù bây giờ đã ở tuổi lục tuần, nhưng ông Hồ Quảng Thu vẫn giữ được cốt cách trong sáng và giản dị của người lính Cụ Hồ. Tiễn tôi ra về, ông Thu tự hào nói: “Vinh dự được gặp Bác và hình ảnh của Bác đã giúp chú có được như ngày hôm nay. Chú luôn tự hào là mình đã giữ được đạo đức trong sáng như lời Bác dạy”.
 
Bài và ảnh: ĐOÀN LƯƠNG