Đưa công tác xã hội vào quy trình nuôi con nuôi - từ giải quyết thủ tục đến đồng hành cùng trẻ
(PLVN) - Nuôi con nuôi không chỉ là một thủ tục pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con, mà còn là quá trình liên quan trực tiếp đến tâm lý, tình cảm, hoàn cảnh gia đình và sự phát triển lâu dài của trẻ em. Thực tiễn thi hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cho thấy đội ngũ cán bộ giải quyết nuôi con nuôi hiện chủ yếu có chuyên môn về pháp luật, trong khi nhiều khía cạnh về tâm lý, xã hội của trẻ em và gia đình chưa có điều kiện được đánh giá, hỗ trợ một cách chuyên sâu.
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) đã đặt ra một định hướng quan trọng: phát triển hoạt động công tác xã hội, đưa người có chuyên môn về công tác xã hội tham gia vào quy trình giải quyết nuôi con nuôi và đồng hành sau khi việc nuôi con nuôi được xác lập, nhằm nâng cao chất lượng bảo vệ trẻ em.
Bổ sung góc nhìn công tác xã hội trong giải quyết nuôi con nuôi
Sau 15 năm triển khai Luật Nuôi con nuôi năm 2010, công tác giải quyết nuôi con nuôi đã đạt được nhiều kết quả tích cực, giúp hàng nghìn trẻ em không có điều kiện sống cùng cha, mẹ ruột có cơ hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình thay thế.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trong đó, việc thiếu sự tham gia của những người có kiến thức chuyên môn về công tác xã hội trong quy trình giải quyết nuôi con nuôi là một hạn chế đáng chú ý.
Hiện nay, đội ngũ công chức được giao thực hiện nhiệm vụ giải quyết nuôi con nuôi và theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi chủ yếu có trình độ chuyên môn về pháp luật. Điều này giúp bảo đảm tính đúng đắn về mặt pháp lý của quy trình, từ việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đến thực hiện các thủ tục theo quy định.
Thông điệp của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh:
Việc sửa đổi Luật cần khắc phục những bất cập sau hơn 15 năm thi hành, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ trẻ em thông qua các thiết chế hỗ trợ phù hợp.
Tuy nhiên, nuôi con nuôi là lĩnh vực không chỉ liên quan đến các quy định pháp luật mà còn gắn với nhiều yếu tố về tâm lý, hoàn cảnh gia đình, khả năng thích nghi của trẻ em, sự phù hợp giữa trẻ em và gia đình nhận nuôi. Đây là những vấn đề đòi hỏi sự đánh giá chuyên sâu từ góc độ công tác xã hội.
Thực tiễn quốc tế cũng cho thấy vai trò quan trọng của người làm công tác xã hội trong lĩnh vực này. Theo khuyến nghị của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế tại Sách hướng dẫn số 1 thực hiện tốt Công ước La Hay năm 1993, các quốc gia cần cho phép những người có kiến thức chuyên môn sâu về công tác xã hội tham gia vào quá trình tư vấn trước khi nhận con nuôi, hỗ trợ đánh giá điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi, đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi, tham gia đề xuất giới thiệu trẻ em với gia đình cha, mẹ nuôi và hỗ trợ sau khi nhận con nuôi.
Tại Việt Nam, một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, tư pháp đã có sự tham gia của người làm công tác xã hội trong quá trình cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho người dân. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nuôi con nuôi, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chưa có quy định cho phép các chủ thể này tham gia hỗ trợ thực hiện một số bước trong quy trình giải quyết nuôi con nuôi.
Khoảng trống này khiến việc giải quyết nuôi con nuôi hiện mới tập trung nhiều vào khía cạnh thủ tục hành chính và pháp lý, chưa phát huy đầy đủ vai trò của việc đánh giá, tư vấn, hỗ trợ về tâm lý, xã hội đối với cả trẻ em và người nhận nuôi.
Từ yêu cầu thực tiễn đó, Chính phủ đã xác định phát triển hoạt động công tác xã hội là một trong ba chính sách lớn của dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), cùng với chính sách quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi và chính sách cải cách thủ tục hành chính gắn với phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin.
Đồng hành cùng trẻ em trước và sau khi được nhận làm con nuôi
Theo định hướng của dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), sự tham gia của người làm công tác xã hội không nhằm thay thế vai trò của cơ quan nhà nước trong giải quyết thủ tục nuôi con nuôi, mà nhằm bổ sung một lớp hỗ trợ chuyên môn cần thiết, giúp quá trình này được thực hiện toàn diện hơn.

Mục tiêu của chính sách là nâng cao chất lượng công tác giải quyết nuôi con nuôi thông qua việc đánh giá đầy đủ các khía cạnh tâm lý, xã hội của trẻ em được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi; đồng thời nâng cao chất lượng của việc giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi.
Với sự tham gia của người làm công tác xã hội, việc xem xét một trường hợp trẻ em có phù hợp để được nhận làm con nuôi hay không sẽ không chỉ dựa trên các điều kiện pháp lý, mà còn được nhìn nhận từ hoàn cảnh gia đình, nhu cầu tình cảm, tâm lý, khả năng phát triển của trẻ và sự phù hợp với môi trường gia đình thay thế.
Đối với người nhận con nuôi, việc đánh giá cũng cần xem xét nhiều yếu tố như khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, sự chuẩn bị về tâm lý, nhận thức về trách nhiệm làm cha, mẹ nuôi. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi được duy trì bền vững, tránh những trường hợp phát sinh khó khăn sau khi trẻ được đưa về gia đình mới.
Không dừng lại ở giai đoạn giải quyết thủ tục, chính sách mới còn hướng đến việc hỗ trợ sau khi nhận con nuôi. Người làm công tác xã hội sẽ có vai trò trong việc theo dõi, đánh giá tình hình phát triển của trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước, từ đó có sự hỗ trợ kịp thời để bảo đảm việc nuôi con nuôi thành công.
Đặc biệt, đối với con nuôi là người Việt Nam được giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài, sự hỗ trợ về công tác xã hội còn góp phần bảo đảm quyền của con nuôi được biết về nguồn gốc của mình thông qua việc hỗ trợ tiếp cận thông tin về nguồn gốc.
Việc đưa công tác xã hội vào quy trình nuôi con nuôi cũng thể hiện sự thay đổi trong tư duy xây dựng pháp luật: từ việc chỉ tập trung quản lý thủ tục sang hướng tới cung cấp dịch vụ hỗ trợ toàn diện, lấy trẻ em làm trung tâm.
Ngày 6/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 123/NQ-CP thông qua chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), trong đó xác định rõ mục tiêu của chính sách phát triển hoạt động công tác xã hội là nâng cao chất lượng giải quyết nuôi con nuôi, bảo đảm việc theo dõi, đánh giá hiệu quả tình hình phát triển của trẻ em được nhận làm con nuôi và bảo vệ quyền của con nuôi trong việc tiếp cận thông tin về nguồn gốc.
Trên cơ sở định hướng này, dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) được xây dựng với mục tiêu tạo lập một cơ chế pháp lý đầy đủ hơn, trong đó pháp luật, chuyên môn công tác xã hội và ứng dụng khoa học, công nghệ cùng tham gia bảo vệ trẻ em.
Đưa người làm công tác xã hội vào quy trình nuôi con nuôi vì thế không chỉ là một thay đổi về kỹ thuật pháp lý, mà còn là bước tiến về nhận thức trong bảo vệ trẻ em. Mỗi quyết định cho, nhận con nuôi không chỉ cần đúng quy định của pháp luật, mà còn cần được hỗ trợ để bảo đảm trẻ em được sống trong môi trường yêu thương, an toàn và có điều kiện phát triển tốt nhất.