Đủ thế và lực cho Việt Nam cất cánh

Đủ thế và lực cho Việt Nam cất cánh
Việt Nam không chỉ nói về khát vọng phát triển mà đang hiện thực hóa khát vọng ấy bằng những hành động cụ thể. (Ảnh minh họa - Nguồn: VGP)

(PLVN) - Việt Nam đang tiến gần hơn tới một giai đoạn tăng trưởng mới với những cơ hội lớn và khát vọng vươn xa. Những định hướng chiến lược từ dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cùng các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị đã và đang định hình “đường băng” vững chắc, tạo thế và lực mới cho đất nước vững tin cất cánh.

“Chỉ bàn làm, không bàn lùi”

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi, với phương châm “Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, bạn bè quốc tế giúp đỡ”, “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, các cấp, các ngành, các địa phương đã tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, biến nguy thành cơ, xoay chuyển tình thế.

Tuy còn một số hạn chế, bất cập nhưng đất nước ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật. Đặc biệt, cuối nhiệm kỳ đã ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả cao nhiều quyết sách chiến lược mang tính cách mạng. Việt Nam là điểm sáng được thế giới đánh giá cao về an toàn và ổn định xã hội. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD…

Đặc biệt, một trong những điểm nổi bật tạo nên “xương sống” cho định hướng phát triển giai đoạn mới là việc Bộ Chính trị ban hành liên tiếp nhiều nghị quyết trụ cột, tạo thành một chỉnh thể chiến lược thống nhất. Trong đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã chỉ đúng những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển. Yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật được Đảng ta đặt ra một cách toàn diện, quyết liệt: dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Phải đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển…

Cùng với đó, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới mở ra không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về bản lĩnh và năng lực nội sinh. Đến nay, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng cục diện đối ngoại rộng mở và thuận lợi hơn bao giờ hết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi, huy động nguồn lực bên ngoài, đưa Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong kinh tế thế giới và ngày càng gia tăng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu với 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới, hơn 500 hiệp định song phương và đa phương. “Từ chỗ chỉ có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ, đến nay ta đã có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt gần 900 tỷ USD, gia nhập nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thu hút được hơn 500 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trở thành nước đang phát triển thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới” - Chủ tịch nước Lương Cường nhấn mạnh trong bài viết “Ngoại giao Việt Nam - 80 năm xây dựng, trưởng thành cùng đất nước”.

Ngoài ra, “cuộc cách mạng” về tinh gọn, sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đã rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền và người dân, tạo điều kiện để các địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo trong phát triển. Đây là tiền đề quan trọng để thực hiện thành công các chiến lược lớn về chuyển đổi số, cải cách hành chính và phát triển kinh tế vùng…

Những “đường băng” cho tăng trưởng

Song hành với thể chế và tổ chức bộ máy là những công trình quy mô lớn, hiện đại, có tính kết nối, lan tỏa và tạo nền tảng định hướng cho tương lai, từ đường bộ cao tốc, sân bay, cảng biển đến hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng y tế, giáo dục, văn hóa… được đầu tư và hoàn thành với tiến độ thần tốc, chất lượng nâng cao, đã góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước.

Những dự án trọng điểm mang tầm vóc lịch sử diễn ra trong thời gian gần đây đã khẳng định, Việt Nam không chỉ nói về khát vọng phát triển “vươn xa ra biển lớn, tiến sâu vào lòng đất và bay cao lên vũ trụ” mà đang hiện thực hóa khát vọng ấy bằng những hành động cụ thể. Việc Cảng hàng không quốc tế Long Thành chính thức đón chuyến bay đầu tiên vào ngày 19 tháng 12 năm 2025 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước: vừa khẳng định năng lực tổ chức, thi công các công trình hạ tầng chiến lược quy mô lớn, vừa thể hiện quyết tâm chính trị cao trong hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, mạng lưới cao tốc Bắc - Nam đang được hoàn thiện với tốc độ “thần tốc” chưa từng có. Dự kiến hết năm 2025, cả nước sẽ có khoảng 3.345 km tuyến chính cao tốc, hình thành trục giao thông “xương sống” Bắc - Nam và các hành lang kết nối vùng, liên vùng. Những tuyến cao tốc vừa giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí vận chuyển, vừa tái cấu trúc không gian phát triển, mở ra cơ hội mới cho các địa phương. Điều quan trọng hơn, các công trình hạ tầng trọng điểm hiện nay không triển khai theo tư duy đơn lẻ, mà gắn chặt với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và hiệu quả dài hạn.

Quy mô, tầm vóc và ý nghĩa của các công trình hạ tầng trọng điểm ấy được khẳng định rõ nét qua những con số và thông điệp mà Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh tại Lễ khởi công, khánh thành và thông xe kỹ thuật 234 công trình, dự án chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng (diễn ra ngày 19/12/2025). Thủ tướng cho biết, đây là những công trình, dự án đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội với nhiều “điểm nhất”: có tổng số vốn đầu tư lớn nhất (trên 3,4 triệu tỷ đồng); nguồn vốn tư nhân tham gia lớn nhất (gần 2,8 triệu tỷ đồng, chiếm trên 82%); có dự án đầu tư với quy mô đầu tư lớn nhất (Khu đô thị thể thao Olympic với số vốn 925 nghìn tỷ đồng). Như vậy, sau 3 lễ khởi công, khánh thành các công trình, dự án lớn, trọng điểm quốc gia đồng loạt trên cả nước trong năm 2025, chúng ta đã có 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng; đã có gần 140 công trình lớn hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả.

“Chúng ta khởi công, đặt những viên gạch đầu tiên cho những công trình của tương lai, với tầm nhìn “vượt thời đại”… Đây chính là những tiền đề, nền tảng quan trọng cho hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới” - Thủ tướng nhấn mạnh.

Vững vàng cất cánh

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, hạ tầng không chỉ là những con đường hay nhà ga, mà là “đường băng” cho tăng trưởng, là điều kiện vật chất để hiện thực hóa các mục tiêu lớn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, logistics, du lịch và hội nhập quốc tế. Đây là điều kiện đặc biệt quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng cao hơn, bền vững hơn; để mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 không chỉ là kỳ vọng, mà trở thành khả năng hiện thực.

Quan trọng hơn, tăng trưởng cao trong giai đoạn tới không chỉ nhằm gia tăng quy mô nền kinh tế, mà hướng tới nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, củng cố niềm tin xã hội, khẳng định vị thế Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Bước sang năm 2026, khi những “đường băng” chiến lược về thể chế, hạ tầng, khoa học - công nghệ và tổ chức bộ máy đã dần hoàn thiện, Việt Nam có đủ điều kiện để tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn và khát vọng lớn. Xuân mới mở ra vận hội mới. Với nền tảng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, cùng niềm tin và sự đồng lòng của Nhân dân, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để vững vàng cất cánh, tiến bước mạnh mẽ trên con đường hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, giàu mạnh, hùng cường vào giữa thế kỷ XXI. 

Tại Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định 3 đột phá chiến lược trong giai đoạn cách mạng mới:

Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.

Tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung.

Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng.
Vân Anh