DỰ THẢO ĐỀ ÁN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP. ĐÀ NẴNG (ĐỢT 2, NĂM 2010)

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố, Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố đã xây dựng Dự thảo Đề án đặt, đổi tên đường để trình HĐND thành phố tại kỳ họp vào tháng 12-2010. Báo Đà Nẵng xin đăng toàn bộ nội dung Dự thảo đề án trong số báo này.

DỰ THẢO ĐỀ ÁN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP. ĐÀ NẴNG

 ĐỢT 2, NĂM 2010
(Trình HĐND thành phố khóa VII, kỳ họp thứ 17, tháng 12 năm 2010)

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố, Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố đã xây dựng Dự thảo Đề án đặt, đổi tên đường để trình HĐND thành phố tại kỳ họp vào tháng 12-2010. Báo Đà Nẵng xin đăng toàn bộ nội dung Dự thảo đề án trong số báo này.

Các ý kiến đóng góp cho nội dung Dự thảo đề án, xin vui lòng gửi về Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch (Cơ quan Thường trực Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố), số 102 Lê Lợi, TP. Đà Nẵng, trước ngày 20-11-2010.

PHẦN I: ĐẶT TÊN ĐƯỜNG
A. QUẬN CẨM LỆ
Tổng số: 60 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 26 đường.
- Đặt theo tên địa danh/sự kiện lịch sử: 01 đường.
- Đặt tên địa danh làng/xóm xưa kèm số: 24 đường.
- Đề nghị đặt tiếp: 09 đường.
I. Sơ đồ số 1: KHU DÂN CƯ NGUYỄN HUY TƯỞNG 1, 2, 3 VÀ KHU DÂN CƯ HÒA PHÁT 1, 2, 3, 4, 5 (QUẬN CẨM LỆ VÀ QUẬN LIÊN CHIỂU): có 29 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Tôn Đức Thắng, điểm cuối là đường Tú Mỡ (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 540m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN VĂN TẠO
NGUYỄN VĂN TẠO (1908 - 1970)
Ông quê ở Gò Đen, tổng Long Hưng Hạ, Bến Lức, Long An.
Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước, thuở nhỏ học ở Sài Gòn, năm 1926 du học tại Pháp. Ông từng tham gia Đảng Cộng sản Pháp, là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phụ trách vấn đề thuộc địa (1929).
Năm 1930, ông bị trục xuất về nước vì tham gia biểu tình trước trụ sở của Tổng thống Pháp, phản đối nhà cầm quyền Pháp tàn sát dã man cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khi về nước, ông làm chủ bút báo Trung Lập, cộng tác với các báo tiến bộ “La Cloche fêlée”, “La Lutte”, “Dân quyền”... Ông đắc cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn (1936), Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (1939), nhưng thực dân Pháp tìm cách gian lận bầu cử, bị nhân dân các tỉnh Hóc Môn, Mỹ Tho, Long An... phản đối, Pháp vin vào cớ đó đưa ông ra tòa kết tội phản đối chiến tranh và phá rối trị an. Năm 1940, ông bị đày ra Côn Đảo. Năm 1943, ông về hoạt động tại Sài Gòn, tham gia lãnh đạo cách mạng tháng Tám. Năm 1946 ra Bắc, làm Trưởng Tiểu ban Công vận Trung ương Đảng và được chỉ định vào Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động (1946 - 1965) (nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội). Năm 1967, ông giữ chức Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Nội chính. Năm 1969, ông giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Quốc hội.
Năm 1970, ông mất tại Hà Nội. Năm 2001, ông được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
* Tài liệu tham khảo:
 - Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
- Thu Thủy - Nguyễn Quế - Nguyễn Quế Lâm, Nguyễn Văn Tạo (1908 - 1970), Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nhơn Hòa 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Đình Tứ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 350m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGÔ THẾ LÂN
NGÔ THẾ LÂN (1726 - ?)
Ông có tên tự là Hoàn Phác, hiệu Ái Trúc Trai; người làng Vu Lai, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Chưa rõ năm mất của ông; ông là người học rộng, giỏi thơ văn, tinh thông đạo học, có tinh thần yêu nước, muốn ra cứu đời. Nhưng gặp lúc nước nhà lâm cảnh rối ren, đen tối, nên ông không đi thi, không ra làm quan cho chúa Nguyễn, mà sống ẩn dật tại Vu Lai. Đầu năm Ất Mùi (1775), Phú Xuân lọt vào tay quân Trịnh. Năm sau (1776), Lê Quý Đôn được cử vào giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa, có viết thư mời ông ra cộng tác, song ông không đến, “chỉ gửi thư cảm tạ và nói lấy sự xu thời cầu cạnh làm hổ thẹn” mà từ chối. Theo Đại Nam thực tiền biên thì mãi sau khi Nguyễn Huệ đánh lấy Phú Xuân (1786), ông mới ra làm quan cho nhà Tây Sơn.
Tác phẩm của ông gồm có: Phong trúc tập, 17 bài thơ được chép trong Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn); một số thơ được chép trong Nam hành ký đắc tập (Phạm Nguyễn Du).
Nhìn chung, qua thơ, người ta thấy ông là một con người có chí lớn có tấm lòng ưu ái đối với cảnh vật thiên nhiên như các bài: Tự thuật “Thuật chuyện mình”, Vu Lai ổ “Xóm Vu Lai”, Dã tọa “Ngồi ngoài cánh đồng”, Lạc Phố triêu canh “Buổi mai, cày ở Lạc Phố”, Sa Phố vãn hành “Buổi chiều đi qua bến cát”…, có tình cảm sâu đậm đối với tầng lớp dân nghèo như các bài: Vịnh hoài “Tỏ nỗi nhớ”, Trư điểu đề “Tiếng chim lợn kêu”, Hữu cảm “Có cảm xúc”…). Về quan niệm sáng tác, theo ông thì làm thơ không phải là một thú vui như một số người xưa, mà là một trách nhiệm của một người có cảm xúc với cuộc đời. Với quan niệm như vậy, nên thơ ông rất phong phú về nội dung và đẹp đẽ về hình thức nghệ thuật.
*  Tài liệu tham khảo:
 - Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
- Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1992.
- Tạ Ngọc Liễn, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Tú Mỡ (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư đang thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 710m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐINH LIỆT
ĐINH LIỆT (... - 1471)
Ông còn có tên là Lê Liệt, là em ruột Đinh Lễ, quê ở Lam Sơn, Thọ Xuân - Thanh Hóa. Ông là danh tướng và là đại thần dưới bốn đời vua thời Hậu Lê. Ông là một trong 18 hào kiệt tham dự Hội thề Lũng Nhai năm 1416 dưới cờ của Chủ soái Lê Lợi.
Năm 1427, ông tham gia chỉ huy đánh trận Chi Lăng. Năm 1434, ông chỉ huy các đạo quân ở Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa dẹp nguy cơ xâm lấn của Chiêm Thành, ổn định miền biên ải. Năm 1459, Đinh Liệt cùng Nguyễn Xí chủ xướng phế Nghi Dân, người giết vua Lê Nhân Tông tiếm ngôi vua, tôn Bình Nguyên Vương Tư Thành lên ngôi hiệu là Thánh Tông, được phong Nhập nội thái phó, tước Lân Quận công. Năm 1470, ông cùng với Kỳ Quận vương Lê Niệm theo Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Trà Toàn.
Ông được ban quốc tính (mang họ vua), từng giữ chức Thái sư phụ chính (Tể tướng) nhiều năm dưới thời Lê Thánh Tông.       
* Tài liệu tham khảo: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 1996.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường 28,5m trước Bến xe Trung tâm, điểm cuối là khu dân cư đang thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.110m; chiều rộng một đoạn 10,5m, một đoạn 7,5m; vỉa hè một bên rộng 4,5m, một bên 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ THẠCH
LÊ THẠCH
Ông là cháu, gọi Lê Lợi bằng chú, là người nhân ái, dũng lược. Ông là một trong số những người được giao quyền cầm quân đầu tiên của khởi nghĩa Lam Sơn, đánh đâu được đấy. Qua các cuộc chiến đấu trong hoàn cảnh ngặt nghèo bị giặc vây hãm ở Chí Linh (1418), cho đến trận oanh liệt sau năm 1421, lúc nào Lê Thạch cũng ở mũi tiên phong và lập được đại công. Ông hy sinh trong trận truy kích dẹp loạn do tù trưởng Man Sát gây ra. Ông được truy phong Nhập nội kiểm hiệu Thái úy Bình Chương quân quốc trọng sự, được truy phong đệ nhất công thần khai quốc, Trung Vũ đại vương và cho lệnh thờ tại Tẩm Miếu.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Vinh Phúc, Phố và đường phố Hà Nội, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, năm 2004.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đàm Văn Lễ, điểm cuối là đường Nhơn Hòa 3 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 500m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN QUYỀN
NGUYỄN QUYỀN (1869 - 1941)
Ông có tên hiệu là Đông Đường, quê ở làng Thượng Trì, tổng Thượng Mão, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Ông thi đỗ tú tài và được bổ làm huấn đạo, nên thường được gọi là Huấn Quyền.
Năm 1907, ông từ chức và cùng với Lương Văn Can lập trường Đông Kinh Nghĩa thục ở Hà Nội. Năm 1908, ông bị bắt và bị giam ở Hỏa Lò ( Hà Nội ), bị kết án khổ sai chung thân và lưu đày ở Côn Đảo. Năm 1910, ông được trả tự do, nhưng bị an trí tại Bến Tre cùng với một số chí sĩ khác như Dương Bá Trạc, Võ Hoành...
Năm 1920, ông đến Rạch Giá, Sa Đéc rồi về sống và mất tại tỉnh Bến Tre năm 1941.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Nguyễn Đình Tứ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 740m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HOÀNG TĂNG BÍ
HOÀNG TĂNG BÍ (1883 - 1939)
Ông có tên tự là Nguyên Phu, quê ở làng Đông Ngạc, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
Năm 1906, ông thi đậu á nguyên cử nhân trường Hà Nam và năm 1910, ông đậu Phó bảng nhưng không ra làm quan.
Ông tích cực tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục, lo biên soạn các sách để giảng dạy cho các lớp học. Ông còn đứng ra lo quản lý nhà buôn Đông Thành Xương để lấy kinh phí phục vụ cho phong trào Đông Du.
Sau vụ Hà Thành đầu độc, trường Đông Kinh Nghĩa thục và hiệu buôn bị đóng cửa, ông bị quản chế tại Huế. Hết hạn quản chế, ông về Hà Nội làm báo, viết sách và mất năm 1939 tại Hà Nội.
Tác phẩm của ông gồm có: Nghĩa nặng tình sâu (tuồng); Thù chồng nợ nước (tuồng); Đệ bát tài tử Hoa tiên ký (tuồng) và nhiều tác phẩm dịch thuật khác.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hòa Nam 1, điểm cuối là đường Nhơn Hòa 5 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 380m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐẶNG NHƯ MAI
ĐẶNG NHƯ MAI (? - 1874)
Ông quê ở xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nhưng lên dạy học ở xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương; xây dựng gia đình và lập nghiệp ở đó. Ông là học trò của Trần Tấn và đỗ Tú tài năm 1848.
Năm 1874, ông cùng với Trần Tấn dựng cờ khởi nghĩa, lấy khẩu hiệu “Bình tây sát tả” để tập hợp lực lượng, người theo rất đông.
Nghĩa quân của 2 ông đã tiến đánh các huyện Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn; sau chia làm 2 đội chủ lực: một đội do Trần Tấn trực tiếp chỉ huy tiến đánh thành Vinh (Trung tâm cố thủ của bọn quan quân phong kiến và bọn phản động đội lốt tôn giáo); một đội do Đặng Như Mai phụ trách có nhiệm vụ tiến đánh các vùng huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu.
Phong trào của Trần Tấn - Đặng Như Mai “Quyết chống cả triều lẫn Tây” phát triển nhanh chóng, lan rộng hầu khắp các huyện. Bọn thống trị phong kiến, tay sai giặc Pháp rất lo sợ, liên tiếp mở các cuộc hành quân đàn áp. Tháng 3-1874, hai ông phải rút về vùng rừng núi phía Tây Nghệ - Tĩnh tiếp tục kháng chiến cùng với các thủ lĩnh khác như Trần Quang Cán, Nguyễn Vĩnh Khánh, Trương Quang Thủ, Nguyễn Duy Điển...
Tháng 9-1874, Trần Tấn lui về huyện Cam Môn (nay là Khăm Muộn của Lào), sau bị bệnh chết. Con của ông là Trần Hướng tiếp tục kháng chiến, nhưng sau bị bọn tổng lý xã Hữu Bằng (nay là xã Sơn Bằng), huyện Hương Sơn bắt nộp cho Pháp. Còn Đặng Như Mai lên chiếm Phủ Quỳ lập căn cứ, sau bị nội phản bắt giao cho triều đình xử tử.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008.
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Công Hoan, điểm cuối là đường Nguyễn Huy Tưởng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 620m, chiều rộng một đoạn 10,5m, một đoạn 7,5m; vỉa hè một bên rộng 4m, một bên 7,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TÚ MỠ
TÚ MỠ (1900 - 1976)
Ông tên thật là Hồ Trọng Hiếu, sinh tại Hà Nội. Lúc nhỏ, ông học chữ Hán với ông nội, sau học chữ Quốc ngữ. Năm 18 tuổi (1918), ông đỗ bằng Thành Chung và cuối năm đó ông xin vào làm Thư ký ở Sở Tài chính (Hà Nội) cho đến Cách mạng Tháng Tám 1945.
Năm 26 tuổi (1926), ông bắt đầu có thơ đăng trên Việt Nam Thanh niên tạp chí và Tứ dân tạp chí. Năm 1932, ông tham gia Tự lực văn đoàn và chuyên trách mục Giòng nước ngược trên các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, bút danh Tú Mỡ xuất hiện thường xuyên và nổi bật từ đó.
Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông lên chiến khu tham gia kháng chiến. Năm 1951, ông đạt giải Nhất về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1952, tham dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Từ 1954, ông tiếp tục sáng tác phục vụ cuộc đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới. Năm 1957, ông được bầu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông là một tấm gương tận tụy, nhiệt tình phục vụ công cuộc kháng chiến của dân tộc. Từ 1954, ngòi bút trào phúng của ông vẫn kiên trì, hào hùng nhắm thẳng vào kẻ thù mới của dân tộc.
Tác phẩm chính của ông có: Dòng nước ngược (1941), Nụ cười kháng chiến (1952). Nụ cười chính nghĩa (1958), Đòn bút (1962), Ông và Cháu (tập thơ thiếu nhi, 1970), Địch vận diễn ca (diễn ca, 1949), Tấm Cám (chèo, 1955)…
Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
* Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tái bản lần thứ VIII), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006;
- Lữ Huy Nguyên - Trần Thị Xuyến - Hồ Quốc Cường, sưu tầm và biên soạn, Tú Mỡ toàn tập (3 tập), Nhà xuất bản Văn học, năm 2008.
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Công Hoan, điểm cuối là đường Hòa Nam 6 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 530m, chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3,5m, một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ VĨNH KHANH
LÊ VĨNH KHANH (1819-1884)
Ông quê ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1843, ông đỗ giải nguyên khoa thi hương; năm 1884, đỗ phó bảng khoa thi hội, thi đình. Ông làm quan trải qua các chức Hàn lâm viện Kiểm khảo, Tri huyện Phù Cát, Tri phủ Tuy Hòa (Phú Yên). Vốn là quan thanh liêm cương trực và hết lòng thương yêu, chăm sóc đời sống nhân dân, nên ông thường bị đồng liêu, tham quan ghen ghét. Khi làm Tri huyện Phù Cát, gặp phải năm mất mùa đói kém, khiến sinh trộm cướp sách nhiễu; nhân đó lại có lệnh triệu hồi ông lai kinh để cùng phái đoàn Phạm Phú Thứ sang Pháp điều đình chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ; nhận chiếu chỉ của vua Tự Đức, song ông thẳng thắn không tuân lệnh, thoái thác xin ở lại địa phương để tiếp tục chăm lo cho dân. Qua mật tấu của viên Tuần phủ (vũ) vua cho rằng ông có tội, triệu về Kinh để hỏi các tội : “Để cho dân đói, trộm cướp sách nhiễu ; thuế khóa chưa thanh toán xong, không đi sứ v.v...”. Ông không lai Kinh mà chỉ làm sớ tấu theo thủ tục hành chính, văn bản tỏ ý phản đối, Sớ tấu ông chỉ xưng “danh” chứ không xưng “thần”. Đại ý sớ tấu có đoạn viết: “Dân đói khát là vì thiên tai mất mùa, đã mất mùa mà triều đình không cho khẩn cấp, tất nhiên sinh ra trộm cướp. Dân đã đói túng thì sao có tiền nộp thuế cho thanh thản? Còn như đi sứ Tây thì phải biết tiếng Tây, chứ qua xứ người mà mù chữ nước ngoài, sao không khỏi làm bia cười cho thiên hạ !...“. Cả gia đình ông đều giàu lòng yêu nước, yêu dân, các con và các cháu ông tham gia các phong trào Đông Du, Duy Tân và mưu khởi nghĩa Duy Tân như: Lê Vĩnh Huy, Lê Thúc Duyện, Lê Liễn, Lê Triêm… thảy đều hy sinh cao cả.
* Tài liệu tham khảo: Thạch Phương - Nguyễn Đình An, Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2010.
10. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Công Hoan và đường Nguyễn Đình Tứ, điểm cuối là đường Nguyễn Huy Tưởng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 620m, chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 10,5m; vỉa hè một bên rộng 4m, một bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: NGUYỄN ĐÌNH TỨ
11. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Thạch (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÀM VĂN LỄ
ĐÀM VĂN LỄ (1452 - 1505)
Ông có tên tự Hoằng Kính, hiệu Chân Trai; người xã Lãm Sơn, huyện Quế Dương, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Ông có thi Hương và đậu Giải nguyên. Năm 1469, ông đậu đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu đời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận thứ 10, được bổ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm, rồi thăng Thị thư Viện Hàn lâm (1483), được sung vào biên soạn sách “Thiên Nam dư hạ tập”.
Năm 1484, ông tham gia soạn thảo một số bài ký khắc vào bia Tiến sĩ tại Văn Miếu trong dịp triều đình cho dựng bia đá khắc tên những người đỗ đại khoa (tính từ khoa thi 1442); năm 1484, làm Chánh sứ sang triều Minh, trở về được thăng Phó đô ngự sử, sau thăng tới Thượng thư bộ Lễ, Đông các đại học sĩ. Sau khi Lê Thánh Tông mất, ông cùng Thân Nhân Trung và Lưu Hưng Hiếu soạn “Chiêu Lăng thần đạo bi” (1498, tức Văn bia Chiêu Lăng). Năm 1499, ông được cử tiếp sứ nhà Minh sang sắc phong. Năm 1504, Lê Hiến Tông bệnh nặng, Nguyễn Minh Kỷ mưu đưa Lê Tuấn (sau này là vua Lê Uy Mục) nối ngôi, đem vàng bạc đến hối lộ, nhưng ông từ chối. Khi Uy Mục lên ngôi, liền báo thù, giáng ông làm Thừa tuyên ở Quảng Nam, rồi sai người đuổi theo bức tử. Ông mất ở bến An Lạc trên sông Lam, huyện Chân Phúc, nay thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Tác phẩm của ông hiện còn 35 bài thơ chữ Hán được tuyển chép trong Toàn Việt thi lục, trong đó chủ yếu là thơ đi sứ, thơ vịnh cảnh.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
12. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Đình Tứ và đường Đoàn Hữu Trưng, điểm cuối là Khu dân cư phía Tây đường Trường Chinh chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: ĐOÀN HỮU TRƯNG
13. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Đình Tứ và đường Yên Thế, điểm cuối là Khu dân cư phía Tây đường Trường Chinh chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: YÊN THẾ
14. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Đình Tứ và đường Bắc Sơn, điểm cuối là Khu dân cư phía Tây đường Trường Chinh chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: BẮC SƠN
15. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nhơn Hòa 2, điểm cuối là đường Lê Vĩnh Khanh (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 250m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 1
Nhơn Hòa là tên xóm xưa, trước đây thuộc làng Hòa An, xã Hòa Phát, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa An, quận Cẩm Lệ.
16. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Công Hoan, điểm cuối là đường Đinh Liệt (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 2
17. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Thạch, điểm cuối là đường Hòa Nam 6 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 270m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 3
18. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Thạch, điểm cuối là đường Hòa Nam 6 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 270m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 4
19. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Thạch (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 210m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 5
20. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đinh Liệt (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 250m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 6
21. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nhơn Hòa 6 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư đang thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƠN HÒA 7
22. Đoạn đường có điểm đầu là đường Tôn Đản, điểm cuối là đường Yên Thế: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng một đoạn 5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè chỉ có một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA AN 6
Hòa An là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Phát, huyện Hòa Vang, nay là tên phường Hòa An, quận Cẩm Lệ.
23. Đoạn đường có điểm đầu là Trạm Y tế phường Hòa An, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA AN 7
24. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Tăng Bí (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA NAM 1
Hòa Nam là tên xóm xưa, trước đây thuộc làng Hòa Mỹ, xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu.
25. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hòa Nam 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Tú Mỡ (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA NAM 2
26. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đặng Như Mai (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA NAM 3
27. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đặng Như Mai (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Huy Tưởng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 2m, một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA NAM 4
28. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Tăng Bí (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Huy Tưởng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA NAM 5
29. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nhơn Hòa 5 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Đình Tứ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÒA NAM 6
II. Sơ đồ số 2: KHU DÂN CƯ PHONG BẮC (QUẬN CẨM LỆ): có 10 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Nhàn, điểm cuối là đường ven sông Túy Loan: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 600m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN HỮU ĐỨC
NGUYỄN HỮU ĐỨC (1926 - 1968)
Ông quê ở Điện Bàn, nhập ngũ năm 1948, tên thường gọi là Châu, hy sinh trong chiến dịch Xuân Mậu Thân (1968), được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 30-10-1978. Ông là người chỉ huy có bản lĩnh, gan dạ và trung thành.
Ông từng giữ chức Thành đội trưởng Đà Nẵng, Tham mưu trưởng Mặt trận 4, Quảng Đà và có nhiều công sức trong việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m đang thi công, điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 580m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN HỮU TIẾN
NGUYỄN HỮU TIẾN (1901 - 1941)
Ông quê ở làng Lũng Xuyên, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, trong một gia đình nhà Nho nghèo, có tinh thần yêu nước.
Học hết bậc tiểu học, ông về quê dạy học. Năm 1923 - 1926, ông tham gia phong trào yêu nước ở quê và liên hệ mật thiết với các bạn ở Nam Định, Thái Bình. Năm 1927, ông được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng; tháng 9-1930, ông là Phó Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời tỉnh Hà Nam. Ngày 22-5-1931, ông bị mật thám Pháp bắt tại Hà Nội. Chúng đưa ông về giam ở Nam Định, tra tấn dã man, rồi kết án 20 năm khổ sai, 20 năm quản thúc, đày lên Sơn La, rồi Côn Đảo. Tháng 4-1935, ông vượt ngục về Hậu Giang hoạt động, rồi lên Sài Gòn - Chợ Lớn phụ trách cơ quan ấn loát của Đảng. Ông là người vẽ lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên. Ngày 30-7-1940, ông bị bắt tại cơ quan in báo Đảng cùng với Nguyễn Thị Minh Khai, rồi bị kết án tử hình. Ngày 26/8/1941, địch đã đem bắn tại Hóc Môn, Gia Định cùng với một số đồng chí khác.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường 7,5m chưa thi công, điểm cuối là Quốc lộ 1A: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 380m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN NGỌC SƯƠNG
TRẦN NGỌC SƯƠNG (1949 - 1972 )
Ông quê ở xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi hy sinh, ông là thiếu úy, Huyện đội phó huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông đã tham gia đánh 170 trận, dũng cảm, mưu trí, chỉ huy linh hoạt, dẫn đầu đơn vị vượt qua mọi khó khăn. Ông đã chỉ huy đơn vị diệt hơn 1.000 tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh của nhân dân trong huyện. Riêng ông đã diệt 430 tên địch (có 47 Mỹ), phá hủy 4 xe bọc thép, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng.
Ngày 12-5-1972, ông đã anh dũng hy sinh và được truy tặng liệt sĩ.
Ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, nhiều bằng khen, 6 lần được tặng danh hiệu Dũng sỹ.
Ngày 6-11-1978, ông được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Trần Ngọc Sương (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 430m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRỪ VĂN THỐ
TRỪ VĂN THỐ (1936 - 1963)
Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1965), khi hy sinh, ông là chiến sĩ trinh sát đặc công thuộc Đơn vị Sắc phong 272, quê ở xã Thanh Hòa, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ông nhập ngũ năm 1962; ngày 18-10-1963, trong trận đánh đồn Cây Trường nằm án ngữ đường 13, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, bị thương vào đùi, ông vẫn dùng bộc phá và thủ pháo đánh vào lô cốt cố thủ của địch; bị địch bắn trả dữ dội, cản đường tiến công của bộ đội ta, ông đã lao cả thân mình vào lấp lỗ châu mai của địch, tạo điều kiện cho đồng đội tiêu diệt địch.
Ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m đang thi công, điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 370m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHẤT CHI MAI
NHẤT CHI MAI (1934 - 1967)
Bà quê ở xã Thái Hiệp Thành, tỉnh Tây Ninh.
Bà có tên thật là Phan Thị Mai, hiệu là Nhất Chi, thường gọi là Nhất Chi Mai. Bà tốt nghiệp Trường Quốc gia Sư phạm năm 1956, Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1964, Cao đẳng Phật học Vạn Hạnh năm 1966.
Năm 1967, bà dạy ở Trường Tiểu học Tân Định và nhiệt tình hăng say các hoạt động xã hội. Để tỏ lòng căm thù giặc Mỹ xâm lược Việt Nam, ngày Phật Đản năm 1967 (nhằm ngày 16-5-1967), bà đã tẩm xăng tự thiêu trước sân chùa Từ Nghiêm ở Sài Gòn (nay thuộc Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh).
Tấm gương yêu nước của bà đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, đòi quyền dân sinh dân chủ ở miền Nam lúc bấy giờ.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m đang thi công, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 320m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN ĐÌNH LONG
TRẦN ĐÌNH LONG (1904 - 1946)
Ông quê ở thành phố Nam Định. Từ năm 1920 - 1924, học trường Thành chung Nam Định. Năm 1925, ông sang Pháp học tiếp, được Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu sang học trường Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản.
Sau ba năm học tập, ông trở về nước hoạt động tại Sài Gòn, bị thực dân Pháp bắt về giam tại Hà Nội.
Sau khi được thả tự do, ông tiếp tục hoạt động cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh hoạt nhóm Lao động (Le Travail); năm 1936, phụ trách tờ báo Khỏe, năm 1937, làm báo Thời thế. Năm 1940, ông bị bắt và đày lên nhà tù Sơn La. Tháng 3-1945, ông vượt ngục về Hà Nội, liên lạc với Đảng tiếp tục hoạt động.
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, ông được phân công làm công tác ngoại giao, liên hệ với quân đội Tưởng để dàn xếp những chuyện rắc rối giữa ta và chúng.
Tối 24-11-1945, tại nhà riêng ở 26 phố Hàng Gạo (Hà Nội), ông bị bọn Việt Nam Quốc dân Đảng giả làm quân Tưởng, ập vào nhà bắt, đem về giam tại cơ quan của chúng ở Trường Đỗ Hữu Vị (nay là trường phổ thông Trung học Phan Đình Phùng - Hà Nội), đánh đập tàn nhẫn, rồi giết chết ông vào đầu năm 1946.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Khu dân cư, điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 210m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHONG BẮC 1
Phong Bắc là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ.
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Hữu Đức (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHONG BẮC 2
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Trần Ngọc Sương (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 130m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHONG BẮC 3
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Trần Ngọc Sương (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHONG BẮC 4
III. Sơ đồ số 3: KHU DÂN CƯ HÒA THỌ VÀ KHU DÂN CƯ ĐÔNG PHƯỚC (QUẬN CẨM LỆ): có 03 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Đại Hành, điểm cuối là Quốc lộ 1 A: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 890m, chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3,5m và một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÙI VỊNH
BÙI VỊNH (1508 - 1545)
Ông có tên hiệu Thanh Khê; người làng Giáp Nhị (tức làng Nhĩ), xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Đàm, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). Cha Bùi Xương Trạch, người viết bài ký “Quảng Văn Đình” nổi tiếng đời Lê Thánh Tông, cũng là tổ xa đời của Bùi Huy Bích.
Ông đậu Bảng nhãn khoa Nhâm Thìn (1532) triều Đại Chính Nhà Mạc, làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, Đông Các Đại học sĩ, tước Mai Lĩnh hầu.
Tác phẩm của ông tương truyền viết nhiều cả bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm nhưng hiện còn rất ít. Các tác phẩm như “Thơ ngũ ngôn trường thiên”, “Đế đô hình thắng” (chữ Hán); bằng chữ Nôm có khúc “Cung trung bảo huấn”, viết theo lệnh của Mạc Đăng Dung nhằm ca ngợi nhà Mạc và đề cao lễ giáo.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Đại Hành, điểm cuối là đường Cách mạng Tháng 8: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 690m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè một đoạn có một bên rộng 4,5m, một bên rộng 10,5m và một đoạn mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ KIM LĂNG
LÊ KIM LĂNG (1920 - 1962)
Ông quê ở thôn Phong Nam, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Ông sớm giác ngộ cách mạng. Khi cao trào tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945 dấy lên ở huyện Hòa Vang, ông cùng với một số anh em thanh niên ở thôn Phong Nam tham gia tổ chức Mặt trận Việt Minh tuyên truyền vận động quần chúng, tổ chức lực lượng xuống đường, gương cao cờ đỏ sao vàng, biểu tình giành chính quyền.
Ngày 22-8-1945, ông tổ chức nhân dân làng Phong Nam và các làng thuộc xã Hòa Châu ngày nay, kéo về huyện đường Hòa Vang (tại chợ Mới, phường Hòa Thuận Tây, thành phố Đà Nẵng) để tham gia cùng với lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện lỵ Hòa Vang.
Ngày 24-8-1945, chính quyền cách mạng huyện Hòa Vang được thành lập, ông được biên chế là cán bộ huyện Hòa Vang và được phân công về công tác tại xã Thanh Phong (xã Hòa Châu bây giờ) với các chức vụ Đội trưởng công tác, Trưởng ban Kinh tài.
Năm 1947 đến 1953, ông được cấp trên phân công chỉ đạo tại các thôn, xã vùng tạm chiếm, xây dựng lực lượng du kích địa phương chống lại các cuộc càn quét, đốt phá của địch.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông được tổ chức phân công ở lại miền Nam và Huyện ủy Hòa Vang phân công ông phụ trách các xã Hòa Thái, Hòa Lợi, Hòa Châu, Hòa Phước, Hòa Xuân. Từ năm 1955 - 1959, ông hoạt động trong tình thế cách mạng hết sức khó khăn, vượt qua gian khổ, hy sinh để bám sát dân, tổ chức tuyên truyền vận động quần chúng, gây dựng cơ sở làm chỗ dựa cho cách mạng tại địa phương.
Từ năm 1959 - 1961, ông là Huyện ủy viên Huyện ủy Hòa Vang, phân công phụ trách Đội công tác đội vũ trang tuyền truyền cánh Trung Hòa Vang. Tháng 5-1961, trên đường đi công tác ở vùng bị địch kiểm soát, ông đã bị bắt và bị giam tại Chi khu Hòa Vang. Sau khi bị bắt, bọn địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc từ mua chuộc đến tra tấn dã man nhằm khai thác nguồn tin cơ sở cách mạng, nhưng ông vẫn kiên cường giữ vững khí tiết cách mạng. Ông đã hy sinh tại nhà lao năm 1962.
Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương độc lập hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và nhiều phần thưởng khác.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho ông ngày 23-2-2010.
*  Tài liệu tham khảo: UBND và Ban Tuyên giáo huyện ủy Hòa Vang cung cấp
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Đại Hành, điểm cuối là đường Hồ Sĩ Dương: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 330m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐOÀN NGUYỄN THỤC
ĐOÀN NGUYỄN THỤC (1718 - 1775)
Ông nguyên họ tên là Đoàn Duy Tĩnh, sau tránh tên chúa Tĩnh vương Trịnh Sâm mới đổi thành Đoàn Nguyễn Thục. Tổ tiên của ông ở làng Đại Hạnh, huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752).
Năm 1771, ông làm Chánh sứ sang triều Thanh. Làm quan đến các chức: Đông các hiệu thư hành ngự sử, Ngự sử, Đô ngự sử, tước Quỳnh Xuyên bá. Năm 1774, nhận chức Đốc thị Nghệ An, do xích mích với quan nội thần là Thiều quận công nên xin về hưu, hơn một năm sau thì mất.
Tác phẩm của ông có “Đoàn Hoàng giáp phụng sứ tập” (1771). Tác phẩm này được Phan Huy Chú trích lục và khen ngợi “Lời thơ phong nhã, rèn luyện, thanh tao, phóng khoáng… Tả cảnh hồn nhiên, nhẹ nhõm và siêu thoát, đáng gọi danh gia”.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
IV. Sơ đồ số 4: KHU DÂN CƯ PHONG BẮC, THÁI BÌNH 2, PHƯỜNG HÒA THỌ ĐÔNG - TỔ 5, 6, 7, 8, 9; KHU DÂN CƯ TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM, KHU DÂN CƯ KHUÊ TRUNG - ĐÒ XU - HÒA CƯỜNG, PHƯỜNG KHUÊ TRUNG (QUẬN CẨM LỆ): có 05 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Cách mạng Tháng Tám, điểm cuối là đường ven sông Túy Loan: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 415m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 6m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN HUẤN
TRẦN HUẤN (1915 - 1960)
Ông quê ở xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn (nay là huyện Nông Sơn) tỉnh Quảng Nam.
Ông tham gia cách mạng từ tháng 3-1945 trong Ban vận động khởi nghĩa giành chính quyền tổng Trung Lộc. Từ năm 1947 đến năm 1949, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Huyện ủy huyện Quế Sơn. Tháng 12-1949, ông được Tỉnh ủy điều về Tỉnh đội, giữ chức vụ Trưởng ban Chính trị Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng. Tháng 7-1952, ông được Tỉnh ủy Quảng Nam điều về lại huyện Quế Sơn.
Tháng 7-1954, ông ở lại miền Nam hoạt động, công tác tại Tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng, phụ trách công tác tuyên truyền giáo dục; sau đó phụ trách nội ô Tam Kỳ. Tháng 8-1958, ông được chỉ định làm Bí thư huyện Quế Sơn, Ủy viên Thường vụ Ban cán sự phụ trách cánh Bắc của tỉnh (Quế Sơn, Hội An, Thăng Bình, Duy Xuyên).
Tháng 1-1960, ông là Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Quế Sơn và phụ trách theo dõi ba huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Hội An. Ngày 18-6-1960, trên đường đi làm nhiệm vụ, ông bị địch bắt và hy sinh.
Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương độc lập hạng Nhì; Huân chương Giải phóng hạng Nhất và nhiều phần thưởng khác.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho ông vào ngày 23-2-2010.
* Tài liệu tham khảo: UBND và Ban tuyên giáo huyện ủy Hòa Vang cung cấp
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ông Ích Đường, điểm cuối là đường Cách Mạng Tháng Tám: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 550m, chiều rộng 5,5m; không có vỉa hè.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÌNH THÁI 1
Bình Thái là tên xóm xưa, trước đây thuộc xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Cách Mạng Tháng Tám, điểm cuối là đường Bình Thái 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 1,25m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÌNH THÁI 2
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Cách Mạng Tháng Tám, điểm cuối là đường Bình Thái 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 280m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 1,25m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÌNH THÁI 3
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Văn Bổng, điểm cuối là đường Nguyễn Văn Huyên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HÒA 12
An Hòa là tên xóm xưa, nay thuộc phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ.
V. Sơ đồ số 5: KHU DÂN CƯ SỐ 5 NGUYỄN TRI PHƯƠNG, KHU DÂN CƯ CÔNG VIÊN KHUÊ TRUNG - ĐÒ XU - HÒA CƯỜNG (QUẬN CẨM LỆ VÀ QUẬN HẢI CHÂU): có 11 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường dự kiến đặt tiếp tên đường Thân Cảnh Phúc và đường Nguyễn Trác, điểm cuối là đường Phan Đăng Lưu: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 6m, một bên rộng 12m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: NGUYỄN TRÁC
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Trác, điểm cuối là đường Nguyễn Hữu Thọ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 510m, chiều rộng một đoạn 5,5m, một đoạn 7,5m; vỉa hè một bên rộng 3m, một bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO
NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO (1651 - 1719)
Ông quê ở xã Hoài Bão (có tục danh là làng Bịu), tổng Nội Duệ (nay là xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Thân phụ ông là tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, giữ chức Quốc tử giám tế tửu trong triều Lê. Ông còn là cháu ruột của thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, em trai Nguyễn Đăng Tuân. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, hoạt bát.
Ông đỗ Trạng nguyên khoa Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1683). Từng làm Chánh sứ sang nhà Minh (1697). Làm quan dưới triều Lê - Trịnh đến chức Binh bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ, tước Thọ Lâm bá. Mất khi đang giữ chức Tham tụng, được tặng tước Thọ Quận công.
Ông quê ở làng Hoài Bão nên người đời sau gọi ông là Trạng Bịu.
Tác phẩm của ông có: Nguyễn Trạng nguyên phụng sứ tập; một số thơ văn được lưu chép trong các tập Thi sao, Tiên Hoài Nguyễn tộc phả...
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
3. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Hữu Thọ và đường Phan Đăng Lưu, điểm cuối là đường Nguyễn Đăng Đạo (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 14m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: PHAN ĐĂNG LƯU
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Đăng Lưu, điểm cuối là đường Nguyễn Dữ (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 520m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM PHÚ TIẾT
PHẠM PHÚ TIẾT (1894 - 1980)
Ông quê ở làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), xuất thân trong một gia đình khoa bảng, vọng tộc (cháu nội Đại thần, nhà duy tân Phạm Phú Thứ, cháu ngoại Hiệp tá Đại học sĩ Đào Tấn).
Thuở nhỏ ông học tại Trường Đốc học Quảng Nam, đỗ cử nhân Hán học năm 1918 tại Trường Thừa Thiên lúc 24 tuổi.
Sau khi thi đỗ, ông được bổ làm quan tại nhiều tỉnh ở miền Trung. Năm 1945, lúc đang làm Tổng đốc Bình Phú (Bình Định - Phú Yên) tại Quy Nhơn, ông đã tạo điều kiện để cuộc khởi nghĩa tháng Tám thành công mà không đổ máu. Kể từ đó, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, giữ chức Ủy viên Thường trực Ủy ban Kháng chiến hành chánh Liên khu V, hàm Đại tá, Chánh án Tòa án Quân sự Quân khu 5.
Sau Hiệp định Genève (1954), ông tập kết ra Bắc, tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chuyên viên Bộ Văn hóa. Ông chuyên nghiên cứu tuồng cổ. Các tác phẩm chính của ông, gồm: Hội thoại về lịch sử nghệ thuật sân khấu tuồng, Tì bà kí (dịch)...
Ông còn là người viết phần chữ Hán cho tập thơ “Ngục Trung Nhật Ký” của Hồ Chí Minh, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1960, nhân kỷ niệm 70 năm Ngày sinh của Người.
Sau ngày thống nhất đất nước, ông về sống tại thành phố Hồ Chí Minh và mất năm 1980, thọ 86 tuổi.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Đăng Đạo (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Hữu Thọ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 480m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN DỮ
NGUYỄN DỮ (Thế kỷ XVI)
Không rõ ông sinh và mất năm nào.   
Ông quê ở xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương,
Ông là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm và là bạn thân thiết của Phùng Khắc Khoan. Ông làm quan với nhà Mạc, nhà Lê, làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phú). Sau đó, do bi quan thời cuộc, ông từ quan, lui về ở ẩn tại núi rừng Thanh Hóa.
Trong thời gian ở ẩn, ông có viết bộ truyện “Truyền kỳ mạn lục” (ghi chép những chuyện lạ còn lưu truyền tản mạn trong dân gian) bằng chữ Hán. Tập truyện này được Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhuận chính và Nguyễn Thế Nghi dịch ra chữ Nôm. Cho đến nay, vẫn còn truyền tụng nhiều bản được dịch ra Việt văn, đặc sắc nhất là bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
6. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Hữu Thọ và đường Tố Hữu, điểm cuối là đường Nguyễn Dữ (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: TỐ HỮU
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Huỳnh Tấn Phát, điểm cuối là đường Đặng Xuân Bảng (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 380m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN HÀNH
NGUYỄN HÀNH (1771 - 1824)
Ông quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (nay là xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Ông còn có tên tự là Tử Kính, hiệu Nam Thúc, biệt hiệu Nam Song, lại có hiệu là Tâm Trai, Ngọ Nam, Nhật Nam, cũng có tên khác nữa là Đạm, nên cũng gọi là Nguyễn Đạm. Ông được ấm phong là Hành Nhạc Bá. Ông là con Nguyễn Điều, cháu gọi nhà thơ Nguyễn Du bằng chú ruột. Ông nổi tiếng văn chương, cùng với chú là Nguyễn Du là hai trong số năm nhà văn thời ấy được xưng tặng là “An Nam ngũ tuyệt”. Ông sống ẩn dật ở quê nhà, trong cảnh nghèo túng nhưng thanh bần.
Ngày 23-11 năm Giáp Thân (1824), ông mất tại Thăng Long, hưởng dương 53 tuổi.
Tác phẩm của ông gồm có: Quan hải tập (còn gọi là Quan Đông Hải), Minh quyên thi tập (còn gọi là Minh quyên phả) là hai tập thơ chữ Hán.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
8. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Xô Viết Nghệ Tĩnh và đường Huỳnh Tấn Phát, điểm cuối là đường Hồ Nguyên Trừng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 90m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: HUỲNH TẤN PHÁT
9. Đoạn đường có điểm đầu là Kênh hồ Khuê Trung, điểm cuối là đường Xuân Thủy: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 280m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè một bên rộng 4m, một bên rộng 6,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐẶNG XUÂN BẢNG
ĐẶNG XUÂN BẢNG (1828 - 1910)
Ông còn có tên tự là Hy Long, Văn Phủ, hiệu Thiện Đình; người làng Hành Thiện, nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; đậu tú tài (hai khoa thi 1846 và 1848); Cử nhân (1852), Tiến sĩ (1856). Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông được vào làm việc ở Nội các, tham gia chỉnh lý bộ sách Nhân sự kim giám bàn về đạo trị nước của các bậc đế vương và làm quan đến chức Tuần phủ.
Tác phẩm của ông có: Việt sử chính biên tiết yếu; Việt sử cương mục tiết yếu; Sử học bị khảo; Thông giám tập lãm tiện độc sử; Tuyên Quang tỉnh phú; Nam Phương danh vật bị khảo; Cổ nhân hành lục; Huấn lục quốc âm ca; Khuyến hiếu diễn âm ca; Cổ huấn nữ tử ca; Cải dịch Nhị độ mai và nhiều tác phẩm khác.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hồ Nguyên Trừng, điểm cuối là đường Đặng Xuân Bảng (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TIÊN SƠN 21
Tiên Sơn là tên xóm xưa, nay thuộc phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu.
11. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Hữu Thọ và đường Thân Cảnh Phúc, điểm cuối là đường Nguyễn Trác: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: THÂN CẢNH PHÚC
VI. Sơ đồ số 6: QUỐC LỘ 14B VÀ KHU CÔNG NGHIỆP HÒA CẦM (QUẬN CẨM LỆ VÀ HUYỆN HÒA VANG): có 02 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là cầu vượt Hòa Cầm, điểm cuối là nút giao thông đường tránh hầm Hải Vân - Túy Loan: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 5.380m, chiều rộng 21m; vỉa hè mỗi bên rộng 10m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRƯỜNG SƠN
TRƯỜNG SƠN
Trường Sơn là dãy núi ở phía Tây Trung bộ Việt Nam, dài 1.200km từ Tây Bắc tỉnh Nghệ An đến cực Nam Trung bộ, theo hình vòng cung lồi về phía biển Đông. Trường Sơn được chia làm 2 phần: Bắc Trường Sơn và Nam Trường Sơn, ranh giới là núi Bạch Mã.
Trường Sơn là nơi bắt nguồn của nhiều sông suối ở Trung bộ, Đông Nam bộ, và một số nhánh của sông Mê Kông. Cắt ngang nhiều tuyến đường bộ: đường 7, đường 8, đường 9, đường 14, đường 19, đường 20, đường 26… hai bên sườn Trường Sơn phủ rừng cây nhiệt đới, cây lá nhọn, cây bụi. Có các khu rừng nguyên sinh rất phong phú về động thực vật. Trường Sơn là nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc: Giarai, Êđê, Xê Đăng, Mơ Nông, Càtu, Bana, Tàôi, Vân Kiều, Thái, Mường, Thổ v.v… Trong kháng chiến chống Mỹ, đường Trường Sơn (là đường mòn Hồ Chí Minh), chạy dọc dãy Trường Sơn, là con đường huyết mạch tiếp tế chủ yếu cho chiến trường miền Nam Việt Nam.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trường Sơn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.280m, chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 10m; vỉa hè một bên rộng 3m và một bên rộng 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN PHÚ HƯỜNG
NGUYỄN PHÚ HƯỜNG (1952 - 1974)
Ông còn có tên là Nguyễn Phú Mai, quê ở xã Hòa Thái, nay là xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Ông tham gia phong trào du kích xã từ tháng 12-1969, chiến đấu tại địa phương cho đến lúc hy sinh.
Ông đã cũng đơn vị tham gia nhiều trận đánh và thu nhiều thắng lợi, riêng ông đã diệt 140 tên địch, bắn bị thương 32 tên, phá hủy 2 xe quân sự, thu được 42 súng các loại. Hoạt động của du kích đã góp phần giữ vững và phát triển cách mạng, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương. Ngày 4-6-1972, ông cải trang ba lần vào đồn dịch để tìm diệt tên ác ôn khét tiếng nhưng không thành. Đến tối, ông vào lần thứ 4, thì giết được tên này. Một tháng sau, ông cùng hai du kích cải trang vào khi địch dồn dân giữa ban ngày, diệt gần hết 1 trung đội Bảo an, rồi ông tập hợp nhân dân, vạch rõ âm mưu của địch, động viên nhân dân tin tưởng vào cách mạng. Ngày 26-6-1974, ông đã anh dũng hy sinh trong khi chỉ huy tổ du kích đánh địch ở Yên La.
Ông được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công Giải phóng (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì và 1 hạng Ba). Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 16-11-1978.
* Tài liệu tham khảo: UBND và Ban Tuyên giáo huyện ủy Hòa Vang cung cấp.
B. QUẬN LIÊN CHIỂU
Tổng số: 75 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 16 đường.
- Đặt theo tên địa danh/sự kiện lịch sử: 05 đường.
- Đặt theo tên địa danh làng/xóm xưa kèm số: 51 đường.
- Đường nối dài (đặt tiếp theo tên đã có): 03 đường.
I. Sơ đồ số 7: KHU TÁI ĐỊNH CƯ HÒA HIỆP (QUẬN LIÊN CHIỂU): có 15 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Bá Phát, điểm cuối là đường số 5 Khu công nghiệp Hòa Khánh: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 630m, chiều rộng7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ TỰ NHẤT THỐNG
LÊ TỰ NHẤT THỐNG (1954 - 1971)
Ông quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; tham gia cách mạng năm 1964. Khi hy sinh, ông là Thôn đội trưởng xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 14 tuổi, ông vào du kích; năm 16 tuổi làm Thôn đội trưởng. Tuy tuổi còn rất trẻ nhưng ông luôn thể hiện quyết tâm cao, chiến đấu dũng cảm mưu trí, bị thương vẫn tiếp tục đánh địch; đã tham gia nhiều trận, cùng đơn vị diệt 156 tên địch, làm bị thương 24 tên, bắt 2 tên. Riêng ông đã diệt 74 tên, phá hủy 1 xe cày ủi, thu 25 súng các loại, 1 máy thông tin, hơn 100 quả lựu đạn.
Ngày 7-10-1971, ông đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến đấu tại xóm Trảng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng quê hương và được truy tặng liệt sĩ.
Ông được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất và 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 6 lần là Dũng sĩ diệt Mỹ, 10 bằng khen và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1994.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 8m; vỉa hè mỗi bên rộng 2m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: VŨ HUY TẤN
VŨ HUY TẤN (1749 - 1800)
Ông còn có tên là Liễn, hiệu Nhất Thủy; quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, trấn Hải Dương (thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay); là con Tiến sĩ Vũ Huy Đĩnh. Đỗ đầu kỳ thi Hương (1768) cùng khoa với Phan Huy Ích. Dưới thời Lê Hiển Tông, ông được bổ làm Thị nội văn chức. Ông cộng tác với nhà Tây Sơn sau khi Quang Trung ra Bắc đánh quân Thanh; ban đầu, làm Hàn lâm đãi chế, sau thăng Thượng thư bộ Công. Hai lần đi sứ sang nhà Thanh. Năm 1795, đời Cảnh Thịnh, ông được đặc cách thăng lên hàng Thượng thư thượng trụ quốc.
Tác phẩm của ông có: Hoa nguyên tùy bộ tập gồm những bài thơ làm trong 2 chuyến đi sứ.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Lương Bằng, điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN HÀNG CHI
NGUYỄN HÀNG CHI (1885 - 1908)
Ông quê ở xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà Nho hay chữ, nhưng không đi thi. Ông đọc nhiều sách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng tư sản phương Tây mới du nhập vào nước ta đầu thế kỷ XX. Là người sớm có tư tưởng dân tộc, mong muốn canh tân đất nước, bài trừ tệ tục mê tín dị đoan, nên năm 1908 khi phong trào Duy Tân và chống thuế từ miền Nam Trung Kỳ nổ ra, ông tham gia tích cực. Phong trào này lan ra đến tỉnh nhà, ông đã hăng hái đi đầu và tổ chức nhiều cuộc vận động như cắt tóc ngắn, bỏ lối búi tóc củ hành.
Tiếp đó, ông đã lãnh đạo nhân dân trong vùng chống đi xâu, nộp thuế, tạo nên một phong trào chống chính quyền thực dân phong kiến rầm rộ không kém gì ở các tỉnh miền nam Trung kỳ trước đó.
Cuối tháng 7-1908, ông bị Pháp bắt giao cho tòa án Nam triều xử, kết án tử hình tại thị xã Hà Tĩnh.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Bá Phát, điểm cuối là đường số 5 KCN Hòa Khánh: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 630m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN TẤN
TRẦN TẤN (? - 1874)
Ông quê ở Chi Nê, nay là xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Không rõ ông sinh năm nào. Ông thi đỗ Tú tài sớm, nhưng các khoa thi sau ông không đỗ Cử nhân, ông về quê dạy học. Ông là một trong những sĩ phu kiên quyết chủ trương chống Pháp xâm lược và rất bất bình trước chính sách cắt đất cầu hòa, rồi đầu hàng của triều đình Huế.
Năm 1866, khi làm Bang biện ở Thanh Chương, ông tích cực ngăn chặn những hoạt động của bọn gián điệp đội lốt thầy tu xâm nhập trong nhân dân, điều tra tình hình phục vụ cho việc xâm lược của thực dân Pháp.
Năm 1873, thực dân Pháp chiếm đóng Hà Nội và các tỉnh ngoài Bắc, ông đã cùng với Đặng Như Mai và một số sĩ phu đòi Tổng đốc Nghệ-Tĩnh phải họp hội nghị bàn việc đánh Tây. Trong hội nghị, ông và Đặng Như Mai được mọi người nhất trí cử ra đứng đầu công việc chuẩn bị và tổ chức lực lượng chống Pháp. Vừa lúc đó, triều đình Huế ký Hiệp ước 1874, nhượng bộ thực dân Pháp nhiều điều khoản nặng nề.
Hưởng ứng lời hịch “Bình Tây sát tả” của Trần Tấn và Đặng Như Mai, nhân dân và sĩ phu Nghệ - Tĩnh đã rầm rộ nổi lên chống xâm lược Pháp và triều đình Huế đầu hàng. Nghĩa quân đánh chiếm được tỉnh lỵ Hà Tĩnh, đồng thời làm chủ được hầu hết các vùng nông thôn Nghệ - Tĩnh.
Trên đà thắng lợi, Trần Tấn và Đặng Như Mai chủ trương phát triển lực lượng sang các tỉnh lân cận. Nhưng quân triều đình bám sát tấn công từ nhiều phía, lại thêm khẩu hiệu “Sát tả”, không đoàn kết được nhân dân lương giáo bị kẻ địch ra sức lợi dụng, gây chia rẽ và phá hoại, cuối cùng thế lực nghĩa quân yếu dần. Trần Tấn phải vượt biên giới rút về vùng Cam Môn (nay thuộc tỉnh Khăm Muộn của Lào), ít lâu sau bị ốm và chết ở đó. Cuộc khởi nghĩa do ông đứng đầu tan rã vào cuối năm 1874.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
 5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HỒ SĨ ĐỐNG
HỒ SĨ ĐỐNG (1739 - 1786)
Ông có tên tự là Long Phủ, hiệu Dao Đình; sau đổi tên là Hồ Sĩ Đống, tự Thông Phủ, hiệu Trúc Hiên; người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An (nay là tỉnh Nghệ An). Ông là cháu Hồ Sĩ Dương (1621-1681, sử gia triều Lê).
Ông đậu Hội nguyên, Đình nguyên Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn (1772) đời Lê Hiển Tông; Năm 1777, ông làm Phó sứ sang triều Thanh. Khi đến hồ Động Đình, Chánh sứ Vũ Trần Thiệu (có sách ghi Vũ Khâm Tự) hủy bản mật biểu của Trịnh Sâm rồi tự tử (trong bản mật biểu đó, Trịnh Sâm xin vua Thanh phong tước vương cho mình; điều này được xem như ý đồ đoạt ngôi vua và phế bỏ triều Lê). Tiếc thương người bạn trung nghĩa, ông có làm thơ viếng, còn chép trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ. Đi sứ về, ông được thăng Tả thị lang Bộ Hộ. Năm 1783, đổi sang ngạch võ, ông giữ chức Tham đốc quyền phủ sự, ngang với Thượng thư, Tham tụng, tước Dao Đình hầu.
Tác phẩm của ông có: Hoa trình khiển hứng, các bài tấu khải và lời tựa cho cuốn Sứ hoa tùng vịnh của Nguyễn Tông Quai…
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 10m; không có vỉa hè.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN CHU SĨ
NGUYỄN CHU SĨ (Thế kỷ I)
Ông quê ở vùng Bích Uyển (Đông Triều), là thủ lĩnh nghĩa quân trước thời Hai Bà Trưng. Do căm thù quân đô hộ tàn bạo, ông quyết định chiêu mộ trai tráng luyện tập, chuẩn bị chiến đấu. Tô Định được tin cho quân đến đánh. Hai bên đánh nhau nhiều trận, cuối cùng thế yếu, ông giải tán quân đội. Ông lặn lội đến Chu Diên, gặp người cậu là Phạm Công trốn ở đây, hai người bàn nhau mưu đại sự. Mấy tháng sau, ông về Hải Dương mộ thêm quân. Số quân của ông tăng lên hàng ngàn người. Ông chọn hơn một trăm người làm nòng cốt, chia thành hai đội tả hữu. Sau đó, nghĩa quân làm lễ tế cờ, xuất binh. Quân Hán kéo đến đàn áp nhưng bị nghĩa quân đánh bại. Hàng trăm tên giặc bị giết cùng 2 viên tướng. Tô Định huy động một lực lượng lớn đến đàn áp. Giặc vây bốn mặt, bấy giờ Phạm Công cũng chết bệnh. Quân ta chiến đấu quyết liệt, nhưng không đánh nổi. Giặc lại ra lệnh ai bắt được ông sẽ thưởng Vạn hộ hầu. Ông phải lên ngựa, cầm kiếm cùng 10 gia thần xông vào quân giặc, phá vòng vây chạy. Quân giặc ồ ạt đuổi theo. Ông chạy đến sông Nguyệt Đức (Bắc Ninh), biết không thoát được, đã nhảy xuống sông tự vẫn. Dân làng đã lập đền thờ ông để tỏ lòng thương nhớ. Về sau, vua Trần Dụ Tông đã truy phong ông là Chu Sĩ đại vương.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008.
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn, điểm cuối là đường Lê Tự Nhất Thống (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 1
Hàm Trung là tên xóm xưa, trước đây thuộc làng Xuân Thiều, thuộc xã Hòa Hiệp, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu.
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Vũ Huy Tấn, điểm cuối là đường Hàm Trung 3 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 8m; vỉa hè mỗi bên rộng 2m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 2
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Tự Nhất Thống (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 8m; vỉa hè mỗi bên rộng 2m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 3
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 4
11. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 10m; không có vỉa hè.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 5
12. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hàm Trung 5, điểm cuối là đường Nguyễn Chu Sĩ (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 10m; không có vỉa hè.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 6
13. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hàm Trung 5, điểm cuối là đường Hàm Trung 9 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng một đoạn 5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè chỉ có một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 7
14. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn, điểm cuối là đường Lê Tự Nhất Thống (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 9m; không có vỉa hè.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 8
15. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Tấn (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀM TRUNG 9
II. Sơ đồ số 8: KHU DÂN CƯ QUANG THÀNH 3 VÀ 3B (QUẬN LIÊN CHIỂU): có 05 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Lương Bằng, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 290m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM VĂN NGÔN
PHẠM VĂN NGÔN (? - 1918)
Ông quê ở làng Việt Yên hạ (nay là xã Đức Phong), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Tú tài, nên thường gọi là Tú Ngôn. Không rõ ông sinh năm nào?
Ông là một sĩ phu yêu nước, hoạt động chống Pháp trong phong trào Đông Du. Năm 1906, khi Phan Bội Châu trở về nước công tác lần thứ 2, đã chọn một số người Nghệ - Tĩnh giao cho ông đưa ra Phồn Xương, phối hợp với phong trào Yên Thế, lập đồn trại huấn luyện quân sự. Do đó, ở Yên Thế có đồn “Tú Nghệ” do ông và Hoàng Xuân Hành điều khiển.
Năm 1909, ông bí mật trở về Nghệ An, cổ động binh lính nổi dậy phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Đề Thám. Khi căn cứ Yên Thế bị tấn công, việc không thành, ông bị bắt đày ra Côn Đảo, rồi mất ngoài đó.
Ông có hai anh em cũng hy sinh vì việc nước: Phạm Đương Nhân, xuất dương 1906, hoạt động ở Nhật, Xiêm (Thái Lan), Trung Quốc, đến tháng 9 – 1916, bị bệnh chết ở Bắc Kinh (Trung Quốc); Phạm Văn Thản, hoạt động cách mạng bị bắt giam ở nhà lao Vinh, sau khi được cứu thoát đã lên đồn Bố Lư (Anh Sơn) chiến đấu, sau trúng đạn chết.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Lương Bằng, điểm cuối cũng là đường Nguyễn Lương Bằng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 450m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM VĂN TRÁNG
PHẠM VĂN TRÁNG (1885 - 1913)
 Ông còn có tên là Nguyễn Thế Trung, quê ở làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội); từ nhỏ, đã theo gia đình về thành phố Nam Định.
 Ông làm công nhân lái xe, sớm có ý chí cứu nước. Cuối năm 1912, ông vượt biên giới sang Trung Quốc và được kết nạp vào Việt Nam Quang phục hội. Đầu năm 1913, ông nhận nhiệm vụ của Hội mang tạc đạn về Thái Bình giết tuần phủ Nguyễn Duy Hàn và đã hoàn thành nhiệm vụ ngày 12-4. Sau đó, trên đường trốn sang Trung Quốc để tiếp tục hoạt động, ông bị Pháp bắt tại Lạng Sơn, rồi bị xử tử.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phạm Văn Tráng (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Lạc Long Quân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 250m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN KIỀU
NGUYỄN KIỀU (1695 - 1751)
Ông có hiệu Hạo Hiên; người làng Phú Xá, huyện Từ Liêm (nay là thôn Phú Xá, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội), năm 21 tuổi, đậu Tiến sĩ khoa Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) đời Lê Dụ Tông ông làm quan đến chức Đô Ngự sử, tước bá. Ông nổi tiếng hay chữ, tài văn chương. Năm Cảnh Hưng - Nhâm Tuất (1741 - 1742), ông được cử làm Chánh sứ sang triều Thanh cùng Phó sứ Nguyễn Tông Quai.
Năm 1748, ông vào Nghệ An nhận chức Đốc đồng Trấn này, đưa vợ là bà Đoàn Thị Điểm đi theo; dọc đường, bà lâm bệnh nặng rồi qua đời vào mùa thu năm ấy. Thương tiếc vợ, ông làm bài văn tế, thành tâm ca ngợi tài hoa, đức hạnh của bà.
Tác phẩm của ông có: Sứ hoa tùng vịnh, Hạo Hiên thi tập, Sư văn trích cẩm, Hoa trình ngẫu bút lục..
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn, điểm cuối là đường Phạm Văn Tráng (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: QUANG THÀNH 1
Quang Thành là tên xóm xưa, trước đây thuộc xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phạm Văn Tráng (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Lạc Long Quân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: QUANG THÀNH 2
III. Sơ đồ số 9: KHU DÂN CƯ QUẢNG THẮNG (QUẬN LIÊN CHIỂU): có 08 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 290m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 1
Chơn Tâm là tên xóm xưa, trước đây thuộc xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 350m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 2
 3. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5 chưa đặt tên, điểm cuối là đường Nguyễn Khuyến: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 3
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Chơn Tâm 6 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3m, một bên rộng 1,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 4
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Chơn Tâm 3, điểm cuối là đường Chơn Tâm 6 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 5
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Chơn Tâm 8 (đường dự kiến đặt tên lần này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3m, một bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 6
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Chơn Tâm 2, điểm cuối là đường Chơn Tâm 8 (02 đường dự kiến đặt tên dợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 7
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Chơn Tâm 2, điểm cuối là đường Chơn Tâm 6 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 390m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3m, một bên 0 + 2,5m (có đoạn không có vỉa hè).
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHƠN TÂM 8
IV. Sơ đồ số 10: KHU DÂN CƯ PHÍA NAM TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH (QUẬN LIÊN CHIỂU): 06 đường.
 1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Thì Nhậm, điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN VĂN KỶ
TRẦN VĂN KỶ (? - 1801)
 Ông còn có tên là Trần Chánh Kỷ, là văn thần triều Tây Sơn, không rõ năm sinh của ông. Ông quê ở làng Vân Trinh, huyện Phong Điền (Thừa Thiên - Huế), đỗ Giải nguyên khoa thi Hương Trường Phú Xuân. Nguyễn Huệ biết tiếng ông, mời đến hỏi việc nước rồi phong chức Trung thư lệnh Kỷ Thiện hầu. Trần Văn Kỷ đã tiến cử nhiều nhân sĩ Bắc Hà với Nguyễn Huệ. Năm 1788, ông tiến cử Ngô Thì Nhậm, khuyên Nguyễn Huệ dùng Nguyễn Thiếp... Cuối năm này, ông được phong là Trung thư phụ chính. Thời Cảnh Thịnh, ông bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên chèn ép, giáng xuống làm lính trạm, đày ra Mỹ Xuyên (Hương Điền, Thừa Thiên). Sau khi Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên, ông lại được mời vào làm việc ở Viện Trung thư. Năm 1801, Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, ông tự trẫm mình để giữ tròn tiết nghĩa.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Văn Kỷ (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRƯƠNG VĂN ĐA
TRƯƠNG VĂN ĐA (Thế kỷ XVIII)
Ông quê ở thôn An Thái, huyện Tuy Viễn, Phủ Quy Nhơn, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, là danh tướng thời Tây Sơn. Khi khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, ông theo Nguyễn Nhạc lên Tây Sơn Thượng đạo huấn luyện nghĩa quân và sau này lập được nhiều chiến công ở Gia Định nên được Nguyễn Nhạc gả con gái cho. Ông cũng đã từng theo Nguyễn Huệ đánh tan nhiều đạo quân của Nguyễn Ánh ở Cà Mau, Phú Quốc, Thổ Chu buộc Nguyễn Ánh phải chạy ra nương náu ở Côn Đảo rồi sang Xiêm (Thái Lan).
Ông là một trong các tướng phò tá Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lập được nhiều chiến công trong các trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Mỹ Tho), đánh tan quân Xiêm xâm lược nước ta vào năm 1785. Sau chiến thắng, ông được Nguyễn Huệ giao ở lại trông coi đất Gia Định. Không rõ năm sinh, năm mất và quê quán của ông.
* Tài liệu tham khảo:  Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Thì Nhậm, điểm cuối là đường Mộc Bài 4 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng
bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỘC BÀI 1
 Mộc Bài là tên xứ đất, trước đây thuộc xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường sắt Bắc - Nam, điểm cuối là đường Mộc Bài 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 90m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỘC BÀI 2
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường sắt Bắc - Nam, điểm cuối là đường Mộc Bài 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 80m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỘC BÀI 3
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường sắt Bắc - Nam, điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 270m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỘC BÀI 4
V. Sơ đồ số 11: KHU DÂN CƯ TRUNG NGHĨA (QUẬN LIÊN CHIỂU): có 08 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Tôn Đức Thắng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 410m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3,5m, một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HỒNG THÁI
HỒNG THÁI
Hồng Thái là tên của Đình Hồng Thái, thuộc địa phận làng Kim Trận (nay là Thôn Cả), xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đình được xây dựng năm 1919, có kiến trúc thuần gỗ, mái lợp lá cọ, đình gồm 3 gian, 2 chái, dáng dấp nhà sàn miền núi. Đình Hồng Thái cũng như những ngôi đình của Việt Nam, với chức năng tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng làng, Thần sông, Thần núi và các vị thần xung quanh vùng. Ngoài ra, đình còn thờ một vị thần là Ngọc Dung công chúa… Ngoài giá trị văn hóa, đình Hồng Thái có giá trị về mặt lịch sử; bởi đây là nơi dừng chân đầu tiên của vị lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi người từ Pác Pó, Cao Bằng đến căn cứ địa cách mạng Tân Trào ngày 21-5-1945, đồng thời, đình còn sử dụng làm trạm giao liên, nơi huấn luyện quân sự trong suốt thời kỳ kháng chiến, điểm dừng chân của các đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội, là trạm thường trực của “An toàn khu của Trung ương đóng ở Tân Trào”.
* Tài liệu tham khảo: Di tích và Danh thắng Việt Nam 2010, Nhà xuất bản Thông tấn, năm 2010.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nam Trân, điểm cuối là đường Trung Nghĩa 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 1
Trung Nghĩa là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, nay là phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trung Nghĩa 3 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Mộng Tuân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 2
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trung Nghĩa 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 15m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 3
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m chưa đặt tên, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 290m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 4
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trung Nghĩa 4, điểm cuối là đường Hồng Thái (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 5
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 6
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Tân Trào, điểm cuối là đường Đồng Khởi: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRUNG NGHĨA 7
VI. Sơ đồ số 12: KHU DÂN CƯ PHỐ CHỢ HÒA KHÁNH (QUẬN LIÊN CHIỂU): 06 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Vũ Ngọc Phan và đường Đặng Dung, điểm cuối là đường Nam Cao: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 330m, chiều rộng 6m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: ĐẶNG DUNG
2. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Vũ Ngọc Phan và đường Nguyễn Đình Trọng, điểm cuối là đường Nam Cao: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: NGUYỄN ĐÌNH TRỌNG
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Đình Trọng, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 6m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỒNG BÀI 1
 Đồng Bài là tên xứ đất, trước đây thuộc xã Hòa Khánh, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đặng Tất, điểm cuối là đường Nam Cao: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 6m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỒNG BÀI 2
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đồng Bài 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Đình Trọng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 6m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỒNG BÀI 3
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Văn Sở, điểm cuối là đường Nguyễn Cảnh Dị: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 6m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỒNG BÀI 4
VII. Sơ đồ số 13/1 và 13/2: KHU DÂN CƯ HÒA MINH, KHU DÂN CƯ THANH LỘC ĐÁN (QUẬN LIÊN CHIỂU VÀ QUẬN THANH KHÊ): có 27 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Thái Tông, điểm cuối là đường Nguyễn Sinh Sắc: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGỌC HỒI
NGỌC HỒI
Trận Ngọc Hồi - Khương Thượng (hay Chiến thắng Kỷ Dậu) là tên gọi do các nhà sử học Việt Nam dành cho loạt trận đánh chống ngoại xâm thắng lợi của nước Đại Việt thời Tây Sơn, do vua Quang Trung lãnh đạo vào đầu năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan hàng vạn quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy.
Trận Ngọc Hồi - Khương Thượng khẳng định sự tồn tại của nước Đại Việt trước họa xâm lược, chấm dứt sự tồn tại của nhà Hậu Lê. Chiến thắng này còn đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong quan hệ với nhà Thanh.
* Tài liệu tham khảo: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Thái Tông, điểm cuối là đường Phùng Hưng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 710m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HÀ HỒI
HÀ HỒI
Hà Hồi là tên làng thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Trận Hà Hồi là trận đánh lớn đầu tiên của Nguyễn Huệ (lúc này đã là Quang Trung Hoàng Đế) trước quân Thanh trong cuộc Bắc tiến chống lại sự can thiệp của Đại Thanh ở phía Bắc Đại Việt, Tết Kỷ Dậu (1789). Đây là một trận chiến ít đổ máu, có ý nghĩa là nền tảng cho trận tiếp theo là trận Trận Ngọc Hồi.
* Tài liệu tham khảo:
- Giang Quân, Tự điển đường phố Hà Nội, Nhà xuất bản Thời đại, năm 2010.
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Sinh Sắc, điểm cuối là đường Trần Đình Tri: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 900m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHÚC ĐỘNG
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Sinh Sắc, điểm cuối là đường Trần Đình Tri: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 900m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TỐT ĐỘNG
TỐT ĐỘNG - CHÚC ĐỘNG
Trận Tốt Động - Chúc Động là trận đánh diễn ra trong các ngày 5-7-11-1426, giữa nghĩa quân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với quân nhà Minh đóng ở Đông Quan (tức là Thăng Long, Hà Nội). Đây là một chiến thắng quân sự lớn của nghĩa quân Lam Sơn và được nhắc đến trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
Kết quả 5 vạn quân Minh bị tiêu diệt, 1 vạn quân Minh bị bắt sống. Một lực lượng lớn tháo chạy qua sông Ninh Giang bị chết đuối nhiều đến mức “làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang”. Các chỉ huy của quân Minh là Trần Hiệp, Lý Lượng, Lý Đằng bị giết tại trận, Vương Thông bị thương. Trận Tốt Động - Chúc Động đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông, đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về cố thủ và chấp nhận đàm phán. Do mất rất nhiều vũ khí trong trận này, quân Minh buộc phải tìm cách chế tạo vũ khí. Trong khi đó, quân Lam Sơn có thêm rất nhiều vũ khí và có thể đã tiếp thu thêm công nghệ chế tạo súng của quân Minh. Đây là một trong những thắng lợi quyết định toàn cục của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trận đánh này đánh dấu bước chuyển quan trọng về thế của nghĩa quân: từ phòng ngự bị động sang chủ động tiến công lực lượng chủ lực của quân Minh.
* Tài liệu tham khảo: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
5. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Trần Anh Tông và đường Dũng Sĩ Thanh Khê, điểm cuối là đường Nguyễn Sinh Sắc: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 300m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: DŨNG SĨ THANH KHÊ
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Vũ Quỳnh, điểm cuối là đường Nguyễn Thị Thập: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 320m, chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHAN NHU
PHAN NHU (1926 - 1967)
Ông quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Khi hoạt động ở vùng đồng bào dân tộc, bà con gọi ông là A Ma-Lê.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ông nhập ngũ và tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Nam. Năm 1950, theo yêu cầu nhiệm vụ, ông được điều về tỉnh Đắc Lắc trực tiếp làm Bí thư đảng ủy xã Ta Bôl huyện MaĐrăc. Năm 1959, ông là Tỉnh ủy viên, phụ trách huyện Buôn Hồ. Thời kỳ này địch tăng cường chính sách tố cộng, ông sống chung với đồng bào (từ ăn, mặc, nói như người dân địa phương), được đồng bào che chở, đùm bọc; nhờ vậy, ông đã tổ chức xây dựng được nhiều đội du kích mật, chuẩn bị xây dựng lực lượng vũ trang.
Tháng 11-1967, trên đường đi công tác, ông bị địch phục kích và đã anh dũng hy sinh. Khi hy sinh, ông là Bí thư Huyện ủy huyện 5, tỉnh Đắc Lắc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông được truy tặng liệt sĩ và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1994.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
 7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hồ Quý Ly, điểm cuối là đường Dũng Sĩ Thanh Khê: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 320m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN THỊ BẢY
NGUYỄN THỊ BẢY (1948 - 1970)
Bà quê ở thôn Phú Mỹ, xã Đại Minh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Bà tham gia cách mạng năm 1965, nhập ngũ tháng 2-1967.
Trong quá trình chiến đấu từ năm 1965 đến tháng 10-1970, bà đã tham gia nhiều trận đánh và lập nên những chiến công oanh liệt, tiêu diệt 101 tên Mỹ và 51 tên ngụy, bắn cháy 1 máy bay HU.34, thu được 51 súng các loại, 2 khẩu M79, 1 máy PRC.
Ngày 21-10-1970, khi địch tiếp tục mở nhiều đợt hành quân càn quét vào vùng B, tiểu đội do bà chỉ huy đã chiến đấu vô cùng quả cảm, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, giữ vững trận địa. Trong một đợt đánh trả quân địch quyết liệt, bà đã anh dũng hy sinh khi bước vào tuổi 22. Khi hy sinh, bà là tiểu đội trưởng nữ thuộc Đại đội 2, bộ đội địa phương huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.
Bà đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 4 Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 Dũng sĩ diệt cơ giới, 3 Dũng sĩ cấp I, II, III, 2 danh hiệu Dũng sĩ ưu tú và được truy tặng liệt sĩ.
Ngày 30-8-1995, bà được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Thái Tông, điểm cuối là đường Phùng Hưng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 700m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN CHÍCH
NGUYỄN CHÍCH (1382 - 1448)
Ông quê ở xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông là danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và là trọng thần giữ phần đất phía Nam của triều Lê Sơ, được cho theo họ vua, nên còn gọi là Lê Chích.
Khi nhà Minh xâm chiếm nước ta, ông chiêu tập nghĩa quân hơn 1.000 người, lấy dãy núi Hoàng Nghiêu làm căn cứ kháng chiến. Sau đó, ông theo giúp Lê Lợi, hiến nhiều kế sách hay, giành thắng lợi ở nhiều trận, nhất là trận ải Lê Hoa (Hà Tuyên).
Sau khi giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, ông được phong công thần khai quốc, đứng hàng đầu trong số 14 nhân vật tước Đình Thượng hầu. Ông còn tham gia đánh dẹp Chiêm Thành, thanh danh lừng lẫy. Ông được trọng dụng và làm quan qua hai triều đại Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông.
Năm Mậu Thìn (1448), ông mất, thọ 66 tuổi, được truy tặng chức Tư Không Bình Chương Sự. Nhà Nguyễn sau này vẫn tưởng niệm ông là khai quốc công thần nhà Hậu Lê.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Vĩnh Phúc, Đường phố Hà Nội, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, năm 2004.
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Thái Tông, điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 360m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐẶNG MINH KHIÊM
ĐẶNG MINH KHIÊM (1456 - 1522)
Ông có tên tự là Trình Dự, hiệu Thoát Hiên; người huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Cha ông là Đặng Di, đậu Hoàng giáp đời Lê Nhân Tông. Ông đậu Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1478), được bổ chức Hàn lâm thị thư, sau thăng đến Thượng thư bộ Lễ, kiêm Phó Đô Tổng tài Quốc sử quán, coi việc ở Chiêu văn quán và Tú lâm cục. Theo Phan Huy Chú, ông là người có tiết tháo, là bậc danh nho đầu đời Lê. Hai lần đi sứ triều Minh (1501 và 1509). Năm 1522, ông theo vua Quang Thiệu (Lê Chiêu Tông) chạy vào Thanh Hóa lánh nạn rồi mất ở Hóa Châu (khoảng 1522 - 1526).
Tác phẩm của ông có Việt giám vịnh sử thi tập (gồm 3 quyển); Giang tông khúc thuyền thi tập. Ngoài ra, ông còn được Vua sai soạn sách Đại Việt lịch đại sử ký (nhưng hiện nay, sách này chưa tìm thấy.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Thái Tông, điểm cuối là đường Phùng Hưng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 700m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè một bên rộng 4m, một bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN XÍ
NGUYỄN XÍ (1397 - 1465)
Nguyễn Xí quê ở làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).
Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ đầu. Năm 1418, khi quân Minh đánh úp nghĩa quân tại núi Chí Linh (Lang Chánh, Thanh Hóa), ông đã cùng với Đinh Lễ bảo vệ Lê Lợi thoát khỏi vòng vây quân địch. Năm 1426, ông được phong Thượng tướng quân; cùng với Đinh Lễ, Lý Triện, Lê Chiến đánh thắng trận Tốt Động - Chúc Động. Năm 1428, ông được phong công thần khai quốc, chức Long Hổ Vệ Thượng tướng quân và được mang họ Vua. Năm 1445, ông cùng tư đồ Lê Thận dẹp loạn Chiêm Thành ở Châu Hóa (Quảng Trị). Năm 1459, ông chủ xướng cùng các đại thần Đinh Liệt, Lê Niệm, phế Nghi Dân (người đã giết Lê Nhân Tông để tiếm ngôi), tôn Tư Thành lên ngôi (tức Vua Lê Thánh Tông). Năm 1460, ông được xét công đứng bậc nhất, được phong Quỳ Quận công, Nhập nội Tả tướng quốc, Thái úy. Sau khi mất (1465), ông được truy tặng hàm Thái phó. Nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ ông.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Vĩnh Phúc, Đường phố Hà Nội, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, năm 2004.
11. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phùng Hưng, điểm cuối là đường Trần Anh Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 1
Phú Lộc là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu.
12. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Thị Thập, điểm cuối là đường Ngọc Hồi (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 260m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 2
13. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Thị Thập, điểm cuối là đường Ngọc Hồi (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 260m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 3
14. Đoạn đường có điểm đầu là đường Dũng Sĩ Thanh Khê, điểm cuối là đường Nguyễn Thị Thập: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 4
15. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phú Lộc 8, điểm cuối là đường Phú Lộc 3 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 5
16. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Thị Thập, điểm cuối là đường Phú Lộc 5 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 80m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 6
17. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phú Lộc 8, điểm cuối là đường Phú Lộc 6 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 2m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 7
18. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Thị Thập, điểm cuối là đường Kinh Dương Vương: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 8
19. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Thị Thập, điểm cuối là đường Kinh Dương Vương: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 9
20. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Đức Kế, điểm cuối là đường Phan Nhu (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông
nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 2,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 10
21. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Nhu (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Hồ Quý Ly: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 11
22. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Nhu (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Hồ Quý Ly: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 12
23. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hà Hồi, điểm cuối là đường Nguyễn Chích (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 14
24. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đặng Minh Khiêm (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Hồ Quý Ly: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 15
25. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hà Hồi, điểm cuối là đường Nguyễn Chích (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 16
26. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hà Hồi, điểm cuối là đường Nguyễn Chích (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 17
27. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hà Hồi, điểm cuối là đường Nguyễn Chích (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng
bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHÚ LỘC 18
C. QUẬN THANH KHÊ
Tổng số: 18 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 11 đường.
- Đặt theo tên địa danh/sự kiện lịch sử: 00 đường.
- Đặt tên địa danh làng/xóm xưa kèm số: 06 đường.
- Đường nối dài (đặt tiếp theo tên đã có): 01 đường.
I. Sơ đồ số 14: KHU DÂN CƯ PHẦN LĂNG VÀ ĐƯỜNG HÀ HUY TẬP NỐI DÀI (QUẬN THANH KHÊ): có 07 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Điện Điên Phủ và đường Hà Huy Tập, điểm cuối là đường Trường Chinh: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.800m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: HÀ HUY TẬP
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Điện Biên Phủ, điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.120m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 7,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN ĐÌNH TỰU
NGUYỄN ĐÌNH TỰU (1828 - 1888)
Ông còn có tên tự là Doãn Ngũ, Vọng Chi, quê ở làng Hội An, cư ngụ tại làng Phú Thị, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam).
Ông xuất thân từ một gia đình vọng tộc, đỗ cử nhân khoa Tân Dậu-Tự Đức (1861); đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn (1868). Ông được vua Tự Đức bổ giữ các chức vụ: Tu soạn tại Bộ Hộ, Đốc học Quảng Nam, Tế tửu Quốc tử giám (như Giám đốc Trường Đại học Quốc gia ngày nay), Thị giảng học sĩ. Ông còn được vua Tự Đức giao dạy học cho các hoàng tử Ưng Chân, Ưng Đăng. Năm 1886, triều Đồng Khánh bổ nhiệm ông giữ chức Sơn phòng sứ Quảng Nam thay Tiến sĩ Trần Văn Dư.
Ông là người mô phạm khuôn mẫu, uyên bác nổi tiếng, đào tạo được nhiều nhà khoa bảng yêu nước đương thời.
* Tài liệu tham khảo: Thạch Phương - Nguyễn Đình An (Chủ biên), Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2010.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Cù Chính Lan, điểm cuối là đường Nguyễn Đình Tựu (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 550m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ THỊ TÍNH
LÊ THỊ TÍNH (1940 - 1967)
Bà quê ở thôn Quang Hiện, xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bà tham gia cách mạng năm 1953, vào Đảng năm 1963 và nhập ngũ vào bộ đội tháng 3-1965.
Trong kháng chiến chống Pháp, bà liên lạc cho cán bộ, du kích xã Điện Hòa và trinh sát nắm tình hình địch phục vụ bộ đội, du kích đánh.
Trong kháng chiến chống Mỹ, từ tháng 7-1954 đến năm 1959, bà tham gia du kích mật, cơ sở liên lạc cho huyện ủy Điện Bàn; năm 1960 đến năm 1962, là cán bộ đội công tác vũ trang tuyên truyền của xã Điện Hòa; năm 1963 - 1964, là huyện ủy viên, Bí thư chi bộ thôn La Thọ, Bí thư Đảng bộ xã Điện Hòa; năm 1965 đến tháng 7-1967, là Huyện đội phó huyện đội Điện Bàn. Từ tháng 6-1967 đến tháng 11-1967, bà là Tỉnh ủy viên, Ủy viên Đặc khu ủy Quảng Đà, Bí thư Quận ủy quận Nhì Đà Nẵng.
Ngày 13-11-1967, trên đường đi công tác ở xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, bà bị địch phục kích, hy sinh.
Trong quá trình chiến đấu, bà đã tham gia nhiều trận đánh. Riêng bà đã tiêu diệt 280 tên, trong đó có 32 tên Mỹ, 60 sĩ quan, ác ôn, bắt sống 30 tên.
Bà đã góp nhiều công sức vào phong trào đồng khởi, diệt ác, phá kìm, mở rộng căn cứ bàn đạp của xã Điện Hòa, trực tiếp xây dựng, củng cố các đội công tác vùng ven chi khu quận lỵ Điện Bàn. Khi về quận Nhì - Đà Nẵng, bà đã củng cố và xây dựng các chi bộ hợp pháp, phát triển hàng trăm cơ sở bí mật, đào hàng chục hầm bí mật, chuẩn bị cất giấu lực lượng, vũ khí đạn dược phục vụ cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Bà đã được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, 10 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 3 lần được công nhận Chiến sĩ thi đua. Bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 5-12-2007.
* Tài liệu tham khảo: Báo cáo tóm tắt thành tích của liệt sĩ Lê Thị Tính của UBND huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thực hiện.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Huỳnh Ngọc Huệ, điểm cuối là đường Nguyễn Đình Tựu (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 350m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 7,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HỒ TƯƠNG
HỒ TƯƠNG (1930 - 1967)
Ông quê ở xã Duy Hòa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng năm 1958; khi hy sinh là Xã đội trưởng xã Duy Hòa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Trong thời gian 3 năm (1964 - 1967), ông đã chỉ huy nhiều trận đánh, đơn vị đã diệt 113 tên địch, bắn cháy 1 máy bay, thu 19 súng. Riêng ông diệt được 79 tên (có 49 tên Mỹ), thu 4 súng trung liên và M79, bắn cháy 1 máy bay. Trong trận đánh ngày 26-8-1967, sau khi bắn rơi 1 máy bay Mỹ, ông tiếp tục chiến đấu và anh dũng hy sinh.
Ông được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 9 Bằng khen, 3 lần được công nhận Chiến sĩ thi đua và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1994.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hồ Tương (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 340m, chiều rộng 8m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÝ TRIỆN
LÝ TRIỆN (? -1427)
Ông là danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, quê ở làng Bái Đô, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa); cùng cha là Lý Bá Lao tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu. Đầu năm 1423, khi quân Minh vây chặt Lê Lợi ở Sách Khôi (giữa Nho Quan, Ninh Bình và Thạch Thành, Thanh Hóa), ông cùng các tướng Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào xông lên trước phá trận, giết tướng Minh là Phùng Quý và hơn 1.000 quân giặc, buộc chúng phải rút chạy về Đông Quan. Năm 1425, ông cùng Lê Sát, Đinh Lễ, Lưu Nhân Chú, Lê Bí chỉ huy 200 quân tinh nhuệ, đánh úp thành Tây Đô (Thanh Hóa) giết 500 quân giặc, thanh thế nghĩa quân lên cao, Lê Triện phủ dụ, dân Thanh Hóa hăng hái tham gia nghĩa quân. Năm 1426, ông cùng Trịnh Khả, Đỗ Bí, Đinh Lễ chỉ huy đánh thắng các trận: Ninh Kiều (Chương Mỹ, Hà Tây); cầu Nhân Mục (Cống Mọc, Nhân Chính, Từ Liêm, Hà Nội); cầu Tam La (Ba La - Bông Đỏ, Hà Đông) và nổi bật là trận Tốt Động - Chúc Động từ ngày 5 đến ngày 7-11-1426. Do lập được nhiều chiến công, ông được phong đến chức Thiếu úy. Năm 1427, khi vây thành Đông Quan, ông bị tướng giặc là Phương Chính lừa đánh úp ở Tảo Động (Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) và tử trận tại đây. Năm 1428, ông được vua Lê Thái Tổ sắc phong công thần khai quốc, được vua ban quốc tính, nên còn có tên gọi là Lê Triện.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin, năm 2008.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hồ Tương (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 330m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐINH NÚP
ĐINH NÚP (1914 - 1999)
Ông là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1955), người dân tộc Ba Na, quê ở xã Nam, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động du kích. Năm 1947 - 1949, ông vận động nhân dân 5 lần thay đổi chỗ ở, phát triển sản xuất, phục vụ kháng chiến, tổ chức du kích, xây làng chiến đấu, làm tên nỏ, chông mìn, cạm bẫy, diệt 80 địch, bảo vệ buôn làng. Tháng 10-1952, ông chỉ huy trung đội du kích, 7 ngày đêm liên tục luồn rừng chiến đấu đánh lại cuộc càn của một trung đoàn địch, diệt nhiều quân. Ông từng giữ các trọng trách: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Gia Lai, Kon Tum (1976); ông là đại biểu Quốc hội và được tặng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất và hạng Nhì.
Ông là nhân vật nguyên mẫu trong tác phẩm “Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc.
* Tài liệu tham khảo: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 1996.
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Điện Biên Phủ, điểm cuối là đường Hồ Tương (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN XUÂN
An Xuân là tên xóm xưa, nay thuộc phường An Khê, quận Thanh Khê.
II. Sơ đồ số 15: KHU TÁI ĐỊNH CƯ NAM ĐƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (QUẬN THANH KHÊ): 01 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Tri Phương, điểm cuối là đường Bế Văn Đàn: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 680m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên 0m và một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ DUY ĐÌNH
LÊ DUY ĐÌNH (1938 - 1965)
Ông quê ở xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng năm 1962. Khi hy sinh, ông là Xã đội trưởng xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, trên quê hương có truyền thống cách mạng, ông sớm giác ngộ và tham gia vào đội du kích xã năm 1962.
Trong 3 năm làm Xã đội trưởng, ông đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Bản thân ông đã diệt 150 tên, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng
Ông được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, nhiều lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ quyết thắng và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1995.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
III. Sơ đồ số 16: KHU DÂN CƯ THANH LỘC ĐÁN 3 (QUẬN THANH KHÊ): 03 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 7,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Trần Cao Vân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 2m, một bên rộng 6m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: THANH HUY 1
Thanh Huy là tên xóm xưa, nay là khu phố Thanh Huy, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Thanh Huy 1, điểm cuối đường Thanh Huy 3 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: THANH HUY 2
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường 7,5m chưa đặt tên, điểm cuối đường Trần Cao Vân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: THANH HUY 3
IV. Sơ đồ số 17: KHU DÂN CƯ THANH KHÊ TÂY (QUẬN THANH KHÊ): 04 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m đang thi công, điểm cuối là đường Nguyễn Văn Huề (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN THANH TRUNG
TRẦN THANH TRUNG (1945 - 1971)
Ông quê ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, giữ chức vụ Tổ trưởng tổ biệt động, là một trong 7 dũng sĩ Thanh Khê.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã chỉ huy biệt động thành Đà Nẵng ẩn nấp trong nhà Mẹ Nhu, khi bọn địch đến vây bắt, Mẹ bị bắn và hy sinh ngay tại sân nhà. Căm thù giặc, các đồng chí Trung, Tám, Huề đều chuẩn bị tư thế chiến đấu đến cùng với kẻ thù. Khi địch xăm đụng nắp hầm bí mật. đồng chí Huề đã bật nắp hầm tung 2 quả lựu đạn tiêu diệt bọn địch trước miệng hầm làm chúng hốt hoảng trở tay không kịp; cả ba đồng chí đã nhảy lên miệng hầm, lợi dụng từng góc nhà, bờ tường, ngõ hẻm tiến công quyết liệt buộc địch phải lùi ra ngoài. Các chiến sĩ vừa chiến đấu vừa thu vũ khí địch, tiêu diệt địch. Ông còn tham gia nhiều trận đánh khác cùng các đồng chí trong tổ biệt động và đã hy sinh trong một trận quyết chiến với giặc đi càn tại Điện Sơn (nay là Điện Tiến), Điện Bàn (Quảng Nam) năm 1971.
* Tài liệu tham khảo: Do UBND và Ban Tuyên giáo quận Thanh Khê cung cấp và lưu tại Nhà truyền thống Mẹ Nhu.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Thanh Trung (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường bê-tông xi-măng rộng 8,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MẸ HIỀN
MẸ HIỀN (1901 - 1983)
Mẹ Hiền tên thật là Lê Thị Hiền, quê ở khối phố Thanh Khê 4, phường Thanh Lộc Đán cũ (nay là phường Thanh Khê Đông), quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Trong kháng chiến chống Mỹ, nhà mẹ Hiền là cơ sở nuôi giấu cán bộ, biệt động thành. Mẹ là nhà buôn lớn chuyên bán muối và nước mắm tại khu vực Thanh Khê 4 và Thanh Khê 5, Mẹ dùng Kho muối làm nơi ẩn nấp cho các cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Trong trận đánh của Mẹ Nhu và 7 Dũng sĩ Thanh Khê, cơ sở của nhà mẹ Hiền đã đóng góp không nhỏ vào trận chiến thắng lịch sử này. Các chiến sĩ biệt động ẩn nấp tại hầm bí mật nhà mẹ gồm có 4 đồng chí: Năm, Chi, Phương, Mười, đã cầm chân giặc phản kích tiêu diệt nhiều tên địch làm cho chúng không đột nhập được vào nhà. Lực lượng địch rất đông chúng chĩa súng nã đạn vào nhà mẹ, do tường rào và tường nhà xây kiên cố nên chúng không làm gì được. Các chiến sĩ ẩn nấp trong kho muối nhả đạn tiêu diệt địch, nhờ lượng vũ khí cất trong hầm nhà mẹ mà các chiến sĩ ở tại chỗ cầm chân địch để tiêu diệt. Đến 15 giờ chiều địch vẫn không đạt được mục tiêu, chúng tăng cường 3 tiểu đoàn gấp 80 lần lực lượng của chúng ta nhưng các chiến sĩ vẫn bám dân cầm cự, tiêu diệt địch.
* Tài liệu tham khảo: Do UBND và Ban Tuyên giáo quận Thanh Khê cung cấp và lưu tại Nhà truyền thống Mẹ Nhu.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Thanh Trung, điểm cuối là đường Nguyễn Văn Huề (2 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
NGUYỄN VĂN PHƯƠNG (1940 - 1969)
Ông quê ở phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Giữ chức vụ đại đội trưởng đặc công Quận đội Quận Nhì, là một trong 7 dũng sĩ Thanh Khê.
Trong trận chiến đấu tại nhà Mẹ Nhu, ông và đồng đội kiên cường bám sát mục tiêu, kề vai sát cánh cùng anh em dũng cảm chiến đấu, tiêu diệt và làm bị thương hơn 80 tên Mỹ - ngụy, thu nhiều súng và đạn dược để có vũ khí đánh địch. Sau trận đánh Thanh Khê (năm 1968), ông về công tác tại Quận đội Quận Nhì đóng trên Hòn Quắp (núi Hải Vân). Ông còn chỉ huy nhiều trận đánh khác cùng đội biệt động. Đến tháng 12-1969, khi ông đang ở trong hầm của đơn vị thì bị pháo kích trúng hầm và ông đã hy sinh.
* Tài liệu tham khảo: Do UBND và Ban Tuyên giáo quận Thanh Khê cung cấp và lưu tại Nhà truyền thống Mẹ Nhu.
4. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối đều là đường 5,5m đang thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 370m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN VĂN HUỀ
NGUYỄN VĂN HUỀ (1945 - 1968)
Ông còn có tên gọi là Đào Ngọc Huề, quê gốc ở phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, Đà Nẵng. Ông là chiến sỹ thuộc đội biệt động Quận Nhì, được đưa về khu phố Thanh Khê hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Đặng Đình Vân (tức Bảy Vân) - Quận đội trưởng. Đêm 23-12-1968, lực lượng biệt động của ta tập kích đồn Bảo an ở Phú Lộc, sau đó 7 chiến sỹ biệt động về trú tại nhà của bà Lê Thị Dãnh (mẹ Nhu) và mẹ Lê Thị Hiền ở khu phố Thanh Khê.   
Ngày 26-12-1968, đã diễn ra trận đánh của 7 Dũng sỹ Thanh Khê. Đây là trận đánh địch giữa ban ngày, ngay trung tâm thành phố, do vậy đã gây được tiếng vang lớn, thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh cao cả trong sự nghiệp cách mạng của quân và dân ta, trong đó nổi lên là sự hy sinh của Mẹ anh hùng Lê Thị Dãnh, góp phần tô đậm truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân thành phố Đà Nẵng.
Trận đánh diễn ra bất ngờ, không cân sức, 7 Dũng sỹ Thanh Khê đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 80 tên Mỹ, ngụy, thu nhiều súng và đạn dược. Trong trận chiến đấu oanh liệt này, ông là chiến sỹ duy nhất đã anh dũng hy sinh, làm nên tấm gương sáng về tinh thần kiên trung bất khuất.
* Tài liệu tham khảo: Do UBND và Ban Tuyên giáo quận Thanh Khê cung cấp và lưu tại Nhà truyền thống Mẹ Nhu.
V. Sơ đồ số 18: KHU DÂN CƯ 265B TRẦN CAO VÂN (QUẬN THANH KHÊ): 02 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Cao Vân, điểm cuối là đường Xuân Đán 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: XUÂN ĐÁN 1
Xuân Đán là tên xóm xưa, nay là khu phố Xuân Đán, thuộc phường Xuân Hà, quận Thanh Khê.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Xuân Đán 1, điểm cuối là đường Xuân Đán 2 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: XUÂN ĐÁN 2
VI. Sơ đồ số 19: ĐƯỜNG ĐỖ QUANG NỐI DÀI (QUẬN THANH KHÊ): 01 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Văn Cao, điểm cuối là giao lộ giữa đường Đỗ Quang và đường Tô Ngọc Vân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: QUANG DŨNG
QUANG DŨNG (1921 - 1988)
Ông tên thật là Bùi Đình Mậu (tức Diệm), quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây; thuở nhỏ học ở trường làng, sau ra Hà Nội học Trường Sư phạm. Sau khi tốt nghiệp, ông không đi dạy học mà làm nhạc công gánh hát rong và làm gia sư ở Hà Nội.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông làm phóng viên Phòng Quân vụ Bắc Bộ. Năm 1947, ông vào bộ đội, tham gia đoàn quân Tây tiến, rồi công tác văn nghệ trong quân đội; từ năm 1954, làm biên tập Báo Văn nghệ, rồi về công tác biên tập tại Nhà xuất bản Văn học.
Ông có nhiều tập Thơ - Văn được xuất bản như: Bài thơ sông Hồng (1956), Mùa hoa gạo (1950), Đường lên Châu Thuận (1964), Làng Đồi đánh giặc (1976), Mây đầu ô (1986)... Năm 1988, Nhà xuất bản Văn học đã tập hợp tuyển chọn in cuốn Quang Dũng - Tác phẩm chọn lọc.
Ông là một con người tài hoa, thơ hay, vẽ giỏi, hát hay. Quang Dũng nổi tiếng nhất với bài thơ Tây tiến (1948) bởi chất lãng mạn, hào hùng, bi tráng. Ông cũng là một cây bút văn xuôi có duyên với nhiều truyện kí, giàu chất thơ.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
 D. QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
Tổng số: 41 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 12 đường.
- Đặt theo tên địa danh/sự kiện lịch sử: 02 đường.
- Đặt theo tên địa danh làng/xóm xưa kèm số: 24 đường.
- Đường nối dài (đặt tiếp theo tên đã có): 03 đường.
II. Sơ đồ số 20: KHU DÂN CƯ THÉP VIỆT ÚC (CẠNH BỆNH VIỆN 600 GIƯỜNG), (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): có 04 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Yersin, điểm cuối là Khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 1
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đa Mặn 1, điểm cuối là đường Đa Mặn 4 (2 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 130m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 2
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đa Mặn 1 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là Khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 3
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Yersin, điểm cuối là đường Đa Mặn 3 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 4
I. Sơ đồ số 21: KHU DÂN CƯ PHÍA ĐÔNG SỐ 4, NAM CẦU TUYÊN SƠN (CẠNH ĐƯỜNG NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU), (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): có 05 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Văn Hiến, điểm cuối là đường 15m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.040m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÙI TÁ HÁN
BÙI TÁ HÁN (1496 - 1568)
Ông quê ở tỉnh Nghệ An.
Năm 1527, sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê, ông theo ngọn cờ phù Lê diệt Mạc của Nguyễn Kim, lập được nhiều công tích. Tương truyền ông là người có công lấy lại đất Quảng Nam từ tay nhà Mạc. Do lập được nhiều công lớn về sau ông được phong Bắc quân đô đốc Phủ chưởng phủ sự, trấn nhậm và lập nghiệp ở thừa tuyên (đơn vị hành chính như cấp tỉnh) Quảng Nam (tương đương với các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một phần tỉnh Phú Yên ngày nay), một trong 13 thừa tuyên của cả nước Đại Việt thời bấy giờ.
Ông là người có nhiều công lao trong việc khai hoang lập ấp, giữ trị an trong vùng. Ông đã cho xây dựng lũy đài “Tịnh Mao” chạy từ huyện Tư Nghĩa đến huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông được triều Lê Trang Tông (1546) phong Trấn quốc công và sau đó được sắc phong của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.
Ông mất năm 1568, chưa rõ nguyên nhân (có tài liệu viết ông bị quân Chiêm Thành giết). Huyền thoại trong dân gian cho rằng ông đã hiển thánh.
Ông được truy tặng hàm Thái bảo. Đến năm Minh Mạng thứ 13, ông được phong tặng Khuông quốc Tịnh biên Thọ phúc Thượng đẳng thần.
Hiện nay, ở Quảng Ngãi vẫn còn có bia mộ và đền thờ của ông được xây dựng ở nhiều nơi.
* Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Bùi Tá Hán (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là Nguyễn Đình Chiểu: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HOÀNG VĂN HÒE
HOÀNG VĂN HOÈ (1848 - 1885)
 Ông quê ở làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn (nay là xã Phù Lưu, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Tiến sĩ năm 1880, ra làm Tri phủ Kiến Xương (Thái Bình).
 Sau khi triều đình ký Hiệp ước năm 1883, ông bỏ quan, cùng Đề đốc Tạ Hiện khởi nghĩa chống quân Pháp. Hàm Nghi lên ngôi vua, ông vào kinh làm quan, rồi bị chết trong cuộc phản công giặc Pháp ở Huế (7-1885).
 Ông để lại tập Hạc Nhân tùng ngôn ghi lại tâm sự u uất, đau xót của mình trước cảnh nước mất nhà tan.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Bùi Tá Hán (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Đình Chiểu: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 5
Đa Mặn là tên làng xưa, trước đây thuộc phường Bắc Mỹ An, nay là phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Bùi Tá Hán (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Nguyễn Đình Chiểu: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 6
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Bùi Tá Hán (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là Nguyễn Đình Chiểu: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐA MẶN 7
III. Sơ đồ số 22: KHU DÂN CƯ NAM BẮC MỸ AN (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): 06 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là đường Hoàng Trọng Mậu (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 9m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN KHẮC VIỆN
NGUYỄN KHẮC VIỆN (1913 - 1997)
Ông quê ở xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1934, sau khi đỗ xuất sắc bằng Tú tài tại Trường Bưởi, ông học Đại học Y khoa Hà Nội, rồi qua Pháp học tiếp Đại học Y khoa Pari. Bị bệnh lao phổi, phải mổ cắt phổi, còn lại 1/3 lá phổi, nhưng ông đã kiên trì điều trị, điều dưỡng theo phương pháp “Yoga” và vẫn tiếp tục lao động sáng tạo bền bỉ. Ông cũng là người hoạt động tích cực trong phong trào Việt kiều, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, làm Tổng thư kí Hội liên hiệp Việt kiều yêu nước từ năm 1956 - 1962.
Trở về nước, từ năm 1963 - 1984, ông đã giữ các chức vụ: Ủy viên Ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài; Tổng biên tập tờ báo Tờ tin tức Việt Nam, tạp chí đối ngoại Nghiên cứu Việt Nam (tiếng Pháp và tiếng Anh); Tổng Biên tập Nhà xuất bản Ngoại văn Việt Nam; Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tâm sinh lí trẻ em.
Ông là dịch giả, soạn giả, đồng soạn giả nhiều công trình khoa học như: Tuyển tập văn học Việt Nam (3000 trang bằng tiếng Pháp); Việt Nam, Tổ quốc tìm lại được (tiếng Pháp); Lịch sử Việt Nam (tiếng Pháp) Từ điển tâm lí; Từ điển xã hội học Tâm lí trẻ em, Từ sinh lí đến dưỡng sinh; Truyện Kiều (dịch ra tiếng Pháp); Đạo Nho...
Nguyễn Khắc Viện là một tấm gương lớn chiến thắng bệnh tật, không chỉ để sống mà để cống hiến cho nền văn hóa dân tộc và cách mạng. Ông còn là một nhà truyền bá, giao lưu văn hóa Việt Nam với nước ngoài, dám chấp nhận đương đầu với những thiên kiến bảo thủ để kiên định giữ tiết tháo của một người trí thức chân chính.
Do những cống hiến to lớn của ông cho sự nghiệp văn hóa, ông đã được nhận Giải thưởng cao quý của nước ngoài và Huân chương Độc lập của Nhà nước ta.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Khắc Viện (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Lê Văn Hiến: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 400m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN ĐÌNH TRÂN
NGUYỄN ĐÌNH TRÂN (1919 - 1961)
Ông còn có bí danh là Tính, Bảy, tên thường gọi là Tấn, quê gốc ở xã Điện Quang, định cư tại xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Tham gia cách mạng năm 1936, vào Đảng năm 1937.
Từ năm 1940 đến tháng 3-1945, ông tham gia trong Ủy ban Việt Minh tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, đồng thời ở trong Ban khởi nghĩa dành chính quyền Phủ Điện Bàn trong Cách mạng Tháng
8-1945.
Tháng 10-1945, ông là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy huyện Điện Bàn; năm 1948, ông là Bí thư Huyện ủy huyện Điện Bàn.
Từ tháng 12-1949, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng điều ông về công tác tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy, phân công làm Bí thư huyện ủy Tiên Phước.
Năm 1951, tại Đại hội đại biểu tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, ông được bầu vào Tỉnh ủy viên và được phân công Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng và sau đó được bầu vào Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, Ủy viên Thường trực Tỉnh ủy.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông được Đảng phân công ở lại miền Nam hoạt động và được tổ chức giao nhiệm vụ ra thành phố Huế hoạt động hợp pháp. Vào đầu năm 1958, ông bị mật vụ Ngô Đình Cẩn bắt giam  tại Toà Khâm, rồi lao Thừa Phủ, sau chuyển vào Mang Cá nhỏ. Mỗi lần chuyển qua một nhà giam ông lại bị một kiểu tra tấn mới hành hạ, nhưng ông vẫn không khai báo và giữ trọn khí tiết của người cộng sản. Ngày 15-12-1960, chúng đưa ông đi giam ở Ngục Chín hầm. Ông bị chúng tra tấn nhiều lần bằng điện, bằng gậy và treo ngược lên xà nhà. Do sức lực không chịu đựng nổi sự tra tấn hiểm độc của tay chân Ngô Đình Cẩn, ông đã mất vào ngày 24/6/1961, tại căn hầm số 8, nhà ngục Chín Hầm và bọn chúng đưa xác ông ra vùi ngoài sườn đồi. Sau ngày đất nước thống nhất Tổng cục II, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế và Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng đã đưa thi hài ông về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Bàn.
* Tài liệu tham khảo: Dương Phước Thu, Tử ngục Chín hầm và những điều ít biết về Ngô Đình Cẩn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, năm 2006.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Khắc Viện (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 320m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HOÀNG TRỌNG MẬU
HOÀNG TRỌNG MẬU (1874 - 1916)
Ông tên thật là Nguyễn Đức Công, tự là Báu Thụ, người làng Cẩm Trường, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; xuất thân trong một gia đình Nho học, có tinh thần yêu nước.
Tháng 4/1908, theo tiếng gọi của Phan Bội Châu, ông sang Nhật, học trường Đồng văn thư viện, hoạt động cho Công hiến hội của tổ chức Đông Du trên đất Nhật. Khi tổ chức Đông Du bị giải tán, lưu học sinh Việt Nam bị trục xuất khỏi Nhật Bản, ông trở về Trung Quốc, tranh thủ học tập nghiên cứu các môn chính trị, kinh tế, quân sự.
Năm 1912, Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông được bầu giữ chức Ủy viên trưởng phụ trách quân vụ trong Bộ Chấp hành của hội. Ông được chỉ định khởi thảo (cùng với Phan Bội Châu) cuốn sách Việt Nam Quang phục quân phương lược. Ông còn tham gia việc chế định ra quốc kỳ và phát hành quân dụng phiếu cho Việt Nam Quang phục hội.
Năm 1915, ông đã chỉ huy một cánh quân từ Vân Nam đánh về Hà Khẩu, nhưng do sự phối hợp với cánh quân Nguyễn Hải Thần chỉ huy đánh Tà Lùng không tốt, nên không thành công. Ông rút quân về Long Châu, rồi định đi Thái Lan tìm cách giải quyết vấn đề tài chính cho Hội. Trên đường từ Ung Châu đến Hương Cảng ông bị giặc Pháp bắt. Tháng 5/1915, chúng đưa ông về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Trong tù, ông bị tra khảo cực hình, nhưng không chịu khuất phục. Giặc Pháp đã bắn ông tại trường bắn Bạch Mai.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là đường Nguyễn Đình Trân (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: VŨ DUY ĐOÁN
VŨ DUY ĐOÁN (1621 - 1688)
Ông có tên hiệu là Quế Am, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, trấn Hải Dương; là con Tiến sĩ Bạt Tụy. Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” có ghi lại một giai thoại ly kỳ về ông: “thuở nhỏ ông tối dạ, không học được; năm 17 tuổi toan đổi nghề, lại nằm mộng thấy thần mổ bụng nạo bỏ chất tối đục, từ đấy học hành rất tiến”. Thi Hương đỗ Giải nguyên, rồi đỗ Hội nguyên khoa Giáp Thìn năm Cảnh Trị thứ 2 (1664). Ông làm việc trong phủ Thế tử Trịnh Tạc. Khi Trịnh Tạc lên ngôi chúa (1657) và ông lại đỗ cao (1664), ông được thăng vượt bậc lên Thượng thư bộ Công. Ông hâm mộ tính nết cứng cỏi của Trương Cửu Linh (nhà thơ thời Đường, Trung Hoa, làm chức ngự sử, nổi tiếng về lời nói thẳng can vua). Ông dâng sách Kim giám lục, khuyên chúa giữ lòng chính để cai trị tốt, được khen là bề tôi ngay thẳng. Khoảng thời Dương Đức (1672 - 1673), ông được cử đi đón sứ thần nhà Thanh. Dọc đường từ sông Nhị về đến cửa điện, hoạ thơ với sứ thần hơn 20 bài, ứng đáp nhanh, được kính trọng. Sau đó, ông được cử lên Cao Bằng giải quyết công việc với nhà Thanh. Nhưng sau này, vì có việc xung đột với viên nội thần, ông bị Chúa bãi chức. Từ đấy, ông rong chơi ở quê, không để ý việc đời. Ông mất lúc 64 tuổi, ông có làm văn tự tế mình, trong đó nêu rõ chí mình giống như các ông Cao, Quỳ, Tắc, Tiết giúp các vua Nghiêu, Thuấn… ở Trung Hoa cổ.
Tác phẩm của ông có: Phong cảnh làng Mộ Trạch, Nông gia khảo tích, Dị văn ký, Lịch đai đăng khoa lục..
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Vũ Duy Đoán (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 240m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ VĂN TÂM
LÊ VĂN TÂM (1945 - 1968)
Ông quê ở xã Tam Mỹ, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông tham gia cách mạng từ năm 1962.
Năm 1962, ông tham gia du kích, trưởng thành từ chiến sỹ lên đội trưởng. ông đã chỉ huy đội du kích diệt gần 400 tên địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh của nhân dân trong xã, riêng ông diệt 49 tên. Ngày 15 - 5 -1968, trong khi đi nắm tình hình để đặt kế hoạch diệt ác, bị lọt vào ổ phục kích của địch, ông đã đánh trả quyết liệt, diệt 3 tên địch và anh dũng hy sinh, ông được truy tặng Liệt sĩ. Khi hy sinh, ông là Xã đội trưởng xã Tam Mỹ, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông đã được tặng thưởng các Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì và hạng Ba, 3 bằng khen, 1 lần là Chiến sỹ thi đua, 4 lần là Dũng sỹ.
Ngày 6-11-1978, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Vũ Duy Đoán (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 240m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRƯƠNG VĂN HIẾN
TRƯƠNG VĂN HIẾN (Thế kỷ XVIII)
 Ông còn gọi là Giáo Hiến, thầy học của ba anh em Tây Sơn, không rõ năm sinh, năm mất và quê quán của ông. Ông vốn là môn khách của Trương Văn Hạnh, đại thần của triều đình chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sau khi Trương Văn Hạnh bị Trương Phúc Loan giết hại, ông vào phủ Quy Nhơn mở trường dạy học ở ấp Yên Bái. Trong số học trò ông có ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Là người biết rõ tài năng của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, đã khuyến khích anh em Tây Sơn đứng lên khởi nghĩa.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
IV. Sơ đồ số 23: KHU DÂN CƯ NAM CẦU TRẦN THỊ LÝ (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): có 05 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Lê Văn Hưu và Hoài Thanh, điểm cuối là đường Mỹ An 22 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 320m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: HOÀI THANH
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh (đường dự kiến đặt tiếp đợt này), điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 22
Mỹ An là tên phường Mỹ An hiện nay, thuộc quận Ngũ Hành Sơn.
(Tại Khu dân cư này đã có đường từ Mỹ An 1 đến Mỹ An 21, nay đặt tiếp)
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Mỹ An 24, điểm cuối là đường Mỹ An 22 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 23
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh (đường dự kiến đặt tiếp đợt này), điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 24
 5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh (đường dự kiến đặt tiếp đợt này), điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 25
 V. Sơ đồ số 24: KHU PHỐ CHỢ HÒA HẢI MỞ RỘNG (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): 04 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ấp Bắc (đường dự kiến đặt tiếp đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 350m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHU LAI
CHU LAI
Chu Lai (tên địa danh chính là Châu Lai, thuộc huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) là một trong những vành đai diệt Mỹ ở miền Nam trong cuộc khánh chiến chống Mỹ, cứu nước.
Về phía địch, Chu Lai được xây dựng như một căn cứ quân sự liên hợp, có sân bay Chu Lai - một trong những căn cứ không quân chiến lược của Mỹ ở miền Nam - nằm trong hệ thống phòng thủ của Mỹ từ Quảng Nam đến Đà Nẵng.
Để đập tan âm mưu của địch, quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã tổ chức nhiều cuộc tiến công vào căn cứ quân sự Chu Lai, tiêu diệt hàng ngàn tên lính Mỹ và chư hầu, phối hợp với đấu tranh chính trị của nhân dân diệt bọn ác ôn bình định, phá thế kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ. Ngày 27-10-1965, Tiểu đoàn Đặc công 409 khu V đã tập kích sân bay Chu Lai. Tháng 3 và tháng 9-1965, lực lượng vũ trang Quảng Nam đã bắn pháo dữ dội Sân bay Chu Lai, phá hủy 82 máy bay phản lực chiến đấu, loại khỏi vòng chiến đấu 450 tên lính Mỹ. Kết hợp với đấu tranh quân sự, ngày 20-1-1967 hàng vạn đồng bào kéo vào căn cứ Chu Lai đấu tranh với bọn lính Pac Chung Hi (Đại Hàn). Tháng 1 và 4-1967, ta lại tấn công sân bay này, phá hủy 70 máy bay phản lực, 1 dàn rađa, tiêu diệt 640 tên Mỹ (phần lớn là sĩ quan), ngăn chặn nhiều cuộc hành quân bình định của địch. Đồng thời, các cứ điểm quan trọng khác của Mỹ nằm trong hệ thống phòng thủ của chúng ở Nam Đà Nẵng và Tây Bắc Chu Lai cũng bị tấn công dồn dập, tạo thế mạnh cho quân giải phóng của ta tấn công sâu vào các căn cứ của địch
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ấp Bắc (đường dự kiến đặt tiếp đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 460m, chiều rộng 7,5 m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LỘC NINH
LỘC NINH
Lộc Ninh là tên huyện Lộc Ninh, trước đây vốn là một tổng thuộc huyện Hớn Quản, tỉnh Thủ Dầu Một. Năm 1938, tổng Lộc Ninh có 6 làng. Ngày nay, Lộc Ninh là một huyện của tỉnh Bình Phước.
Năm 1957, khi tỉnh Bình Long được thành lập, thì Lộc Ninh là một trong 2 quận của tỉnh này. Lúc đó quận Lộc Ninh có 18 xã với 95 ấp. Năm 1960, do hợp nhất một số xã nên quận Lộc Ninh còn 10 xã. Lộc Ninh được hoàn toàn giải phóng ngày 7-4-1972 và trở thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (ngoài ra thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị cũng được coi như thủ đô tạm thời); căn cứ Bộ chỉ huy Quân ủy Miền; đoạn cuối của tuyến đường Hồ Chí Minh, một trong những nơi quan trọng nối liền huyết mạch hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam; nơi đặt Trụ sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Và cũng chính nơi đây đã chứng kiến giờ phút xúc động đón những người con ưu tú của Tổ quốc từ ngục tù Côn Đảo, Phú Quốc...  chiến thắng trở về.
* Tài liệu tham khảo:
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
- Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
3. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Thượng Đức và đường Ấp Bắc, điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 390m; chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè một bên rộng 4m và một bên 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: ẤP BẮC
4. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Thượng Đức và đường Tây Sơn, điểm cuối là đường Lộc Ninh (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 7,5 m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: TÂY SƠN
VI. Sơ đồ số 25: KHU DÂN CƯ TÂN TRÀ (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): có 02 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trường Sa, điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 670m; chiều rộng một đoạn 7,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè một bên rộng 4,5m và một bên 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRÀ LỘ
Trà Lộ là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Hải, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trường Sa, điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 490m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 7,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN NÔNG
An Nông là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn.
VII. Sơ đồ số 26: KHU DÂN CƯ ĐÔNG HẢI (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN): có 15 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m đang thi công, điểm cuối là đường 15m đang thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 730m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN PHẠM TUÂN
NGUYỄN PHẠM TUÂN (1842 - 1887)
Ông quê ở Bắc Cữ, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đậu cử nhân thời Tự Đức, được bổ làm Huấn đạo huyện Bố Trạch, rồi Tri huyện Tuyên Hóa, sau được thăng Tri phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh).
Năm 1883, được tin triều đình đầu hàng thực dân Pháp, ông treo ấn từ quan, rồi về nhà tự tử, nhưng người nhà đã kịp thời cứu.
Năm 1885, hưởng ứng Chiếu Cần vương, ông mộ binh khởi nghĩa chống Pháp, được vua Hàm Nghi phong chức Tán tương quân vụ quân thứ Quảng Bình.
Năm 1886, Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện, ông giữ chức Thượng tướng cùng Đề đốc Lê Trực và hai con trai của Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chống Pháp.
Ông lập căn cứ ở vùng Tuyên Hóa, nghĩa quân của ông chiến đấu rất dũng cảm và đã lập được nhiều chiến công, có lần đã đột nhập thành Quảng Bình giết Bố chánh Nguyễn Đình Dương.
Đầu năm 1887, quân Pháp do tên Đại úy Mutô (Mouteaux) cầm đầu, tổ chức hai đội biệt kích đánh vào căn cứ Yên Lương. Ông chống cự lại rất quyết liệt, nhưng bị trúng đạn ở ngực, rồi bị giặc bắt về đồn Minh Cầm. Giặc tìm mọi cách mua chuộc để tìm chỗ ở của Hàm Nghi, nhưng trước sau ông không chịu khai. Chúng tổ chức ca hát, lại cho thầy thuốc đến chữa thương, nhưng ông không cho băng bó, phun thuốc vào mặt chúng, rồi mất vì vết thương quá nặng. Giặc quẳng xác ông xuống sông, nhưng một nghĩa quân đã tìm vớt lên và đem mai táng trên núi Yên Phong.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trường Sa, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN THẦN HIẾN
NGUYỄN THẦN HIẾN (1856 - 1914)
Ông còn có tên gọi là Thành Hiến, quê ở tỉnh Hà Tiên, lập nghiệp ở tỉnh Cần Thơ. Ông giỏi chữ Hán, sớm có tinh thần yêu nước chống Pháp.
Năm 1905, hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, ông đã vận động thanh niên Nam Kỳ du học, quyên góp tiền bạc trợ giúp phong trào rất tích cực.
Năm 1908, ông xuất dương sang Nhật. Sau đó ông về Trung Quốc tham gia Việt Nam quang phục hội. Ông đã từng đi công cán cho hội tại Hương Cảng (Trung Quốc), Băng Cốc (Thái Lan), đóng góp phần công sức không nhỏ cho phong trào cách mạng.
Mùa hè năm 1913, đến Hương Cảng, ông cùng một số anh em đang chế tạo tạc đạn thì bị mật thám của chính quyền Anh bắt giao cho thực dân Pháp. Chúng giải ông về nước giam tại Hỏa Lò (Hà Nội) và tra tấn hết sức dã man, nhưng ông tỏ ra kiên cường bất khuất. Ông đã tuyệt thực và mất tại nhà tù ngày 26-1-1914, đúng vào ngày Tết Nguyên đán năm Giáp Dần.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trường Sa, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 240m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHAN TÒNG
PHAN TÒNG (1818 - 1870)
Ông quê ở làng Bình Đông, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông đã từng giữ chức Đốc binh nên thường gọi là Đốc binh Tòng. Ông đã tham gia chống Pháp trong cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm (con của Phan Thanh Giản) và chiến đấu liên tục suốt hai năm (1867-1868). Sau trận đánh ở Hương Điểm lần thứ 2 (15-11-1868), nghĩa quân bị thất bại nặng. Phan Tôn và Phan Liêm bỏ ra Huế, nhưng ông vẫn ở lại xây dựng lực lượng và tiếp tục chiến đấu. Ông chỉ huy khởi nghĩa ở Ba Tri năm 1868, đã thắng giặc nhiều trận oanh liệt. Ông hy sinh trong trận chiến đấu ở Giồng Gạch cuối năm 1870.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đông Hải 6 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 15m đang thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 340m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHAN ĐÌNH THÔNG
PHAN ĐÌNH THÔNG (Thế kỷ XIX)
Ông là anh ruột nhà yêu nước Phan Đình Phùng, tham gia phong trào Cần vương kháng Pháp. Không rõ năm sinh và năm mất của ông.
Năm Bính Tuất 1886, ông đóng quân ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Một đêm, bị thủ hạ là Nguyễn Sử mưu phản, đưa tay sai Pháp vào bắt sống ông, giải về tỉnh. Tổng đốc Nghệ An là Nguyễn Chính, vốn có thù với họ Phan, truyền giam ông rồi tìm cách bức tử.
Trong khi ông bị bắt, Tiểu phủ sứ là Lê Kính Hạp viết thư khuyên Phan Đình Phùng ra hàng để cứu anh (Lê Kính Hạp), Phan Đình Phùng không phúc đáp thư, nhắn kẻ đưa thư về bảo: “Nếu có ai làm thịt anh ta, nhớ gửi cho ta một bát canh”.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử (Tái bản lần thứ VIII), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Phạm Tuân (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 150m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 1
Đông Hải là tên làng xưa, trước đây thuộc xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đông Hải 1, điểm cuối là đường Đông Hải 5 (2 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 2
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đông Hải 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 100m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 3
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Thần Hiến, điểm cuối là đường Đông Hải 5 (2 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 4
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Phạm Tuân (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 5
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Phạm Tuân, điểm cuối là đường Đông Hải 8 (2 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 6
11. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đông Hải 6, điểm cuối là đường Đông Hải 9 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này) Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 7
12. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Tòng, điểm cuối là đường Đông Hải 9 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 8
13. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Đình Thông, điểm cuối là đường Đông Hải 8 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 80m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 9
14. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Đình Thông (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 90m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 10
15. Đoạn đường có điểm đầu là đường Phan Đình Thông (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 90m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG HẢI 11
E. QUẬN HẢI CHÂU
Tổng số: 13 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 06 đường.
- Đặt theo tên địa danh/sự kiện lịch sử: 02 đường.
- Đặt theo tên địa danh làng/xóm xưa kèm số: 03 đường.
- Đường nối dài (đặt tiếp theo tên đã có): 02 đường.
 I. Sơ đồ số 27: KHU D THUẬN PHƯỚC, KHU DÂN CƯ PHÍA NAM ĐƯỜNG 3 THÁNG 2 (QUẬN HẢI CHÂU): có 05 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là Cầu Thuận Phước, điểm cuối là đường Bạch Đằng: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1.550m, chiều rộng 15m; vỉa hè một bên rộng 7,5m, một bên rộng 12m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NHƯ NGUYỆT
NHƯ NGUYỆT
Trong cuộc kháng chiến chống Tống thời nhà Lý, trận Như Nguyệt là một trận đánh lớn diễn ra trên một khúc sông Như Nguyệt (hay sông Cầu) vào năm 1077 Đây là trận đánh có tính quyết định của cuộc Chiến tranh Tống - Việt giai đoạn 1075 -1077, và là trận đánh cuối cùng của quân Tống trên đất Đại Việt. Trận chiến diễn ra trong nhiều tháng, kết thúc bằng chiến thắng của quân Đại Việt và thiệt hại lớn của quân Tống, đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược Đại Việt, buộc họ phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia độc lập, tự chủ.
* Tài liệu tham khảo: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Như Nguyệt (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Xuân Diệu: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỖ XUÂN CÁT
ĐỖ XUÂN CÁT (1806 - 1864)
Ông có tên tự Bá Trinh, hiệu Dưỡng Hạo, Châu Tân; quê ở làng Yên Vực, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thời niên thiếu, ông theo học Nhữ Bá Sĩ. Năm 35 tuổi, đỗ Hương giải (Cử nhân) năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), không ra làm quan, ở ẩn dạy học, tự hiệu là Châu Tân cư sĩ. Khoảng những năm đầu triều Tự Đức, đê sông ở Bắc Kỳ vỡ, ông soạn dâng vua sách Hà phòng ngũ thuyết (5 thuyết về việc đề phòng sông nước), được đánh giá là có thực học về kinh tế, được đại thần trong triều tiến cử, nhưng ông viện cớ có bệnh xin cáo. Năm 1858, ông lại dâng sớ tâu việc trấn thủ, đối phó với “giặc biển”, được vua khen, lại sai tiến cử những người mình biết, nhưng ông từ chối. Ông mất lúc 59 tuổi, được tặng hàm Hàn Lâm viện Biên tu. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của triều Nguyễn chép truyện về Đỗ Xuân Cát trong phần Hạnh nghĩa (Q.42), biểu dương ông ở “tính hiếu cổ, giữ lễ”.
Tác phẩm của ông có: Châu Tân văn tập, Lâm hành tập lục, Nguyễn thị tộc phả…
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường 3 tháng 2, điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 2m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ KHẮC CẦN
LÊ KHẮC CẨN (1832 - 1874)
Ông còn có tên là Lê Khắc Nghị, tự Dụng Chi, hiệu Hải Hạnh, Miễn Trai; người làng Hành Thị, huyện An Lão, tỉnh Kiến An (nay thuộc thành phố Hải Phòng ). Năm 1862, ông đỗ Hoàng Giáp (Tiến sĩ), làm quan dưới triều Nguyễn từ chức Án sát đến chức Bố chính.
Thơ văn của ông được tâp hợp trong các sách chữ hán như: Hải Hạnh thi tập; Hải Hạnh Lê công văn tập; Hạnh Thị song nguyên Lê Phiên hầu thi văn; Miễn Trai văn tập…
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hàn Mặc Tử, điểm cuối là Ngô Chi Lan (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 460m, chiều rộng 8m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MAI AM
MAI AM (1826 - 1904)
Bà là Công chúa, con gái thứ 25 của Vua Minh Mạng, còn có tên gọi là Diệu Liên công chúa. Tên thật của bà là Nguyễn Thị Trinh Thận, tự là Thúc Khanh và Nữ Chi, hiệu là Mai Am.
Bà là người rất nổi tiếng về văn học và âm nhạc. Bà là tác giả của các thi phẩm Diệu Liên thi tập. Tác phẩm này được rất nhiều các nhà trí thức lớn thời đó như Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Nguyễn Thật… khen ngợi.
Trên lĩnh vực âm nhạc, Bà là tác giả của các điệu Nam bình, Nguyên tiêu, Hò quảng, Kim tiền, Xuân phong…
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
5. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối là đường Mai Am (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 500m, chiều rộng 5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGÔ CHI LAN
NGÔ CHI LAN (Thế kỷ XV)
Bà quê ở làng Phù Lỗ (tục gọi làng Sọ), huyện Kim Hoa, trấn Kinh Bắc; sau là huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên và chưa rõ năm sinh, năm mất; sống trong thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Tương truyền bà là con nuôi của Nguyễn Thị Lộ (vợ lẽ của Nguyễn Trãi). Chồng bà là Phù Thúc Hoành, nhà thơ, người làng Phù Xá, cùng huyện với bà; có sách nói ông không đỗ đạt gì nhưng có văn tài nên vẫn được mời dạy Kinh Dịch ở Quốc tử giám, sau sung Viện hàn lâm. Sách khác nói, ông làm quan đến chức Đông các đại học sĩ. Hiện còn có hai bài thơ chữ Hán của ông chép trong Trích diễm thi tập.
Bà thuở nhỏ thiên tư thông minh, đọc đâu biết đấy, khi trưởng thành, làm nhiều thơ ca, từ khúc, được xa gần truyền tụng. Thường được vua Lê Thánh Tông vời vào hầu thơ, lại được phong chức Phù gia nữ học sĩ, chuyên việc dạy lễ nghi, văn chương cho các cung nữ trong vương phủ. Nguyễn Dữ trong sách Truyền kỳ mạn lục đánh giá cao tài thơ văn của bà.
Tác phẩm của bà gồm: Mai Trang tập; một số bài thơ chép trong Trích diễm thi tập và Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh Nam chích quái.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
II. Sơ đồ số 28: KHU DÂN CƯ HỒ ĐẦM RONG (QUẬN HẢI CHÂU): có 03 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lương Ngọc Quyến, điểm cuối là đường Hải Hồ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 310m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè một bên rộng 1m, một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN ĐÔN TIẾT
NGUYỄN ĐÔN TIẾT (1836 - …?)
Ông quê ở làng Thọ Vực, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Không rõ năm mất của ông.
Năm 1879, ông đỗ Phó Bảng, rồi làm Tri phủ một thời gian. Khi giặc pháp xâm lược, ông hưởng ứng Chiếu Cần vương, mộ quân khởi nghĩa ở quê mình. Con trai ông là Nguyễn Hiệu Trì cũng chỉ huy một cánh quân tiếp ứng chiến đấu ở Ba Đình và hy sinh vào ngày 20-1-1887.
Tháng 3-1886, ông bị giặc Pháp bắt, đày đi giam ở Lao Bảo và chết ở đấy. Một người con trai nữa của ông là Nguyễn Đôn Tự cũng đỗ Giải nguyên, tham gia Phong trào Đông Du, khi chuẩn bị đi ra nước ngoài thì bị bắt và đày đi Côn Đảo.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
2. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối là đường Nguyễn Đôn Tiết (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐẦM RONG 1
Đầm Rong là tên gọi một hồ nước ở phường Thuận Phước, quận Hải Châu, nay hồ nước này đã bị lấp để xây dựng khu dân cư.
3. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối là đường Nguyễn Đôn Tiết (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 290m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 1m, một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐẦM RONG 2
 III. Sơ đồ số 29: ĐƯỜNG TRIỆU NỮ VƯƠNG NỐI DÀI (QUẬN HẢI CHÂU): có 01 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Duẩn, điểm cuối là đường Hùng Vương: Mặt bằng bê-tông nhựa, chiều dài 330m, chiều rộng một đoạn 10,5m, một đoạn 15,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: CHI LĂNG
CHI LĂNG
Đây là địa danh lịch sử thuộc tỉnh Lạng Sơn, gắn với chiến công phá Tống của Lê Đại Hành năm 981 và cũng là chiến công của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại quân xâm lược nhà Minh thế kỷ XV.
Đầu tháng 10-1427, 20 vạn viện binh từ Trung Quốc chia làm 2 đạo kéo vào nước ta. Một đạo 15 vạn viện binh do Liễu Thăng chỉ huy, từ Quảng Tây tiến vào theo hướng Lạng Sơn. Đạo thứ hai 5 vạn viện binh do Mộc Thạnh chỉ huy, từ Vân Nam tiến vào theo hướng Hà Giang. Bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt viện quân giặc, trước hết là đạo quân chủ lực của An Viễn hầu (An Đô Vương) Liễu Thăng, không cho chúng tiến sâu vào nước ta.
Ngày 8-10-1427, khi quân Liễu Thăng tiến đến Ải Chi Lăng (Lạng Sơn), nghĩa quân Lam Sơn do tướng Trần Lựu chỉ huy, được lệnh vừa đánh vừa lui, nhử địch vào trận địa phục kích ở Ải Chi Lăng. Liễu Thăng thúc quân đuổi theo, lọt vào trận địa mai phục của danh tướng Lê Khôi, lập tức bị quân ta phóng lao đâm chết (có sử liệu chép: chém bay đầu Liễu Thăng tại sườn núi Mã Yên), quân Minh hoảng hốt, rối loạn. Nghĩa quân mai phục, dưới sự chỉ huy của tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, thừa cơ hội đổ ra đánh, tiêu diệt trên 1 vạn tên giặc. Cùng lúc đó, Lê Lợi liền sai tướng đem các chiến lợi phẩm ở Chi Lăng đến doanh trại Mộc Thạnh. Mộc Thạnh trông thấy, biết Liễu Thăng đã bại trận nên vô cùng hoảng sợ, vội vàng rút quân về nước, lại bị đánh tan tác tại cửa Ải Lê Hoa (Hữu Nghị quan).
Nghe tin hai đạo quân Liễu Thăng và Mộc Thạnh bị tiêu diệt hoàn toàn, Vương Thông với hơn 10 vạn quân cố thủ ở thành Đông Quan vô cùng khiếp đảm, vội vàng cầu hòa, xin tha mạng sống và rút quân về nước qua hội thề Đông Quan. Đất nước ta sạch bóng quân thù kể từ tháng Chạp năm 1427.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
IV. Sơ đồ số 30: KHU DÂN CƯ NGUYỄN THIỆN THUẬT-PHAN THÀNH TÀI (QUẬN HẢI CHÂU): có 02 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường Nguyễn Thiện Thuật và Đào Tấn, điểm cuối là đường Nguyễn Thiện Thuật: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghi đặt tiếp tên đường: ĐÀO TẤN
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Quý Đôn, điểm cuối là đường Phan Thành Tài: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN BÁ HỌC
NGUYỄN BÁ HỌC (1857 - 1921)
Ông quê ở làng Nhân Mục (làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thuộc thành phố Hà Nội. Thời kỳ đầu, ông học chữ Hán, sau chuyển sang học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, rồi làm giáo học ở trường Tiểu học ở tỉnh lỵ Sơn Tây và Nam Định.
Năm 1907, ông tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phụ trách dạy môn Việt văn. Sau khi trường bị đóng cửa, ông trở lại nghề dạy học, ít lâu sau ông chuyển sang nghề viết văn theo khuynh hướng hiện thực phê phán. Ông là một trong những người ngoài Bắc đầu tiên viết truyện ngắn bằng chữ Quốc ngữ. Phần lớn những truyện của ông đều đăng trên tạp chí Nam phong như Câu chuyện gia đình (số 10), Có gan làm giàu (số 23), Câu chuyện một tối tân hôn (số 46), Truyện vui, Một nhà bác học, À chuyện chiêm bao (số 49) v.v… Ngoài ra, có một số cuốn sách đã được xuất bản như: Gia đình giáo dục ký (1930), Học sinh tu tri (1930), Lời khuyên học trò v.v…
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
V. Sơ đồ số 31: ĐƯỜNG LÊ ĐÌNH LÝ NỐI DÀI: có 01 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường giao lộ giữa đường Nguyễn Tri Phương và đường Lê Đình Lý, điểm cuối là đường Nguyễn Hữu Thọ: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 250m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: LÊ ĐÌNH LÝ
VI. Sơ đồ số 32: ĐƯỜNG GOM PHÍA NAM CẦU TUYÊN SƠN (QUẬN HẢI CHÂU): có 01 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường ven sông Tuyên Sơn – Túy Loan, điểm cuối là đường 2 Tháng 9: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 1070m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè chỉ có một bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: QUY MỸ
Quy Mỹ là tên làng xưa, trước đây thuộc phường Hòa Cường, nay thuộc phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu.
G. QUẬN SƠN TRÀ
Tổng số: 56 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 24 đường.
- Đặt theo tên địa danh/sự kiện lịch sử: 02 đường.
- Đặt theo tên địa danh làng/xóm xưa kèm số: 28 đường.
- Đề nghị đặt tiếp (đặt tiếp theo tên đã có): 02 đường.
I. Sơ đồ số 33: KHU DÂN CƯ AN HÒA (QUẬN SƠN TRÀ): có
26 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường tránh Ngô Quyền và đường Trần Thánh Tông, điểm cuối là đường Ngô Quyền: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 750m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 6m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: TRẦN THÁNH TÔNG
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Thế Lữ, điểm cuối là khu vực chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 530m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ
HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ (1628 - 1715)
Ông quê ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An (Nghi Lộc, Nghệ An). Tổ bốn đời của ông là Trung Lộc hầu, theo Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam giữ chức trông coi lính thợ. Năm 18 tuổi, ông đi thi đỗ Hương tiến, được bổ nhiệm Tri phủ Triệu Phong. Năm 25 tuổi, ông từ chức, xuất gia đi tu, rồi vượt biển đến núi Tiêm Bút La, biển Nam Hải, dựng am thiền, lấy hiệu là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải thiền sư. Sau một thời gian, ông lại trở về xã Bình An Thượng thuộc phủ Thăng Hoa, xứ Quảng Nam. Ngoài tu thiền, ông còn nghiên cứu y học. Ông chữa khỏi bệnh cho Tổng thái giám xứ Quảng Nam là Hoa Lễ Hầu. Chúa Hiền biết việc này đã mời vào triều làm lễ quy y cho vợ con chúa và vợ con các triều thần. Ông trụ trì ở chùa Thiên Tĩnh núi Quy Kinh. Thời gian ở Thuận Hóa, ông kết giao với Gia quận công, người xứ Kinh Bắc. Gia quận công là tướng của chúa Trịnh đánh Quảng Nam bị bắt làm tù binh, sau đó được tha, rồi dạy học ở xứ này. Vì thế, ông bị tình nghi là có mưu đồ phản nghịch. Hiền Vương bèn sai người đưa ông trở lại Quảng Nam.
Năm Nhâm Tuất (1682), ông cùng với hơn 50 đệ tử vượt biển ra Bắc, thuyền cập bến, được trấn thủ Nghệ An và châu Bố Chính là Yên quận công tiếp đón rất nồng hậu. Một tháng sau, chúa Trịnh Tạc cho thuyền đón ông về kinh và giao cho quan đại thần thẩm tra lai lịch. Sau khi biết rõ thực tình, chúa Trịnh ban thưởng cho ông rất hậu và sai người lập am ở Sơn Nam cho ông trụ trì ở chùa Nguyệt Đường (Phố Hiến, Hưng Yên). Ông mất tại chùa này, thọ 88 tuổi.
Ông là một cao tăng, đồng thời là nhà thơ, nhà văn, nhà triết học Phật giáo Đại thừa, sáng tác và trước tác rất nhiều.
Về thi phẩm: có 40 bài thơ đượm thiền học chép trong sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.
Về quân sự và địa lý học: Thuận Quảng nhị xứ sơn thủy lộ trình bản đồ.
Về văn phẩm: Hương Hải thiền sư ngũ lục
Về triết học: Cơ duyên vấn đáp tính giải - giải đáp về cơ duyên ngộ đạo; Lí sự dung thông - giải minh về mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng;
Giải minh ý nghĩa các kinh luật:
+ Về khóa nghi: Cúng Phật tam khoa, Cúng dược sư khoa, Cúng cửu phẩm khoa.
+ Dịch kinh ra quốc âm có: Quán vô lượng thọ kinh Quốc ngữ.
Phật tử Việt Nam coi Hương Hải thiền sư là một trong những cây đại thụ của thiền phái Trúc Lâm.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Quyền, điểm cuối là đường An Hải 5 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 370m, chiều rộng 11,25m; vỉa hè mỗi bên rộng 45m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỖ ANH HÀN
ĐỖ ANH HÀN (? - 782)
Ông quê ở làng Đường Lâm, thuộc Châu Phong (nay là xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) và là người cùng làng với Phùng Hưng.
Ông học giỏi, nhiều tài, được mọi người tôn trọng. Phùng Hưng đã từng xem ông là bậc thầy. Theo Phùng Hưng khởi nghĩa, ông lập được nhiều công lao. Năm 782, khi thấy nhân dân khắp nơi oán hận tên đô hộ Cao Chính Bình, ông khuyên Phùng Hưng mở rộng cuộc khởi nghĩa, tấn công phủ thành Tống Bình. Ông được giao chỉ huy một đạo quân và hy sinh trong chiến đấu.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2008.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Thánh Tông, điểm cuối là đường Dương Vân Nga: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỖ HÀNH
ĐỖ HÀNH (Thế kỷ XIII)
Ông quê ở làng Cổ Hoằng, lộ Thanh Hoa, nay là thôn Nhân Mỹ, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Không rõ năm sinh, năm mất của ông.
Trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, quân sĩ nhà Trần bày trận đón quân Nguyên - Mông tại sông Bạch Đằng. Thống soái Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Cùng ra trận, có Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông. Trận đánh dữ dội và quyết liệt. Đến tận lúc mặt trời đã lên cao, nước thủy triều rút mạnh, quân nhà Trần vờ thua rút chạy, chiến thuyền quân Nguyên ồ ạt đuổi theo. Bấy giờ, tướng Nguyễn Khoái chỉ huy đội quân Thánh Dực từ thượng nguồn đánh xuống cùng với Thống soái Trần Hưng Đạo đánh dồn ép quân địch, làm nhiều thuyền chiến của quân Nguyên bị cọc nhọn đâm thủng, nước ồ ạt chảy vào thuyền, nhiều binh lính bị chết chìm và bị bắn chết vô kể. Lúc này, ông chỉ huy toán quân bảo vệ Thượng hoàng và nhà vua. Đứng ở mũi thuyền, ông nhìn thấy một tướng quân Nguyên cao lớn, mặc áo giáp dày, đội mũ trụ, nhảy khỏi thuyền, đang ngụp lặn. Vốn là tay bơi giỏi, ông lao xuống sông và bắt được hai tên chủ tướng là Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ đưa về dâng cho Thượng hoàng Trần Thánh Tông. Ngày thưởng công, ông được phong tước Quan Nội hầu.
* Tài liệu tham khảo:
 - Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008;
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Tôn Quang Phiệt, điểm cuối là khu vực chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 490m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÀO DUY KỲ
ĐÀO DUY KỲ (1916 - 1980)
Ông quê gốc ở Khúc Thủy, Hà Tây, sinh ngày 4-9-1916, tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Tốt nghiệp Thành chung trường Quốc học Huế năm 1934, Đào Duy Kỳ ra Hà Nội học Ban Tú tài (1935), hoạt động cách mạng trong thanh niên học sinh và thanh niên lao động.
Ông tham gia phong trào Đông Dương đại hội đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ở Hà Nội, được Đảng cử ra làm chủ bút báo Bạn Dân để hoạt động công khai cho phong trào thanh niên cả nước.
Từ đầu năm 1936 đến cuối năm 1939, Đào Duy Kỳ chủ yếu tham gia các hoạt động báo chí của Đảng. Ngoài các báo nói trên, Đào Duy Kỳ còn tổ chức và biên tập các báo Thời thế, Tin tức, Le travail (Lao động) và Notre voix (Tiếng nói chúng ta) những cơ quan công khai của Đảng ở Hà Nội. Ông cũng phối hợp viết các báo Dân chúng và Lao động những cơ quan công khai của Đảng tại Sài Gòn.
Cuối năm 1939, Đào Duy Kỳ rút vào hoạt động bí mật, làm quyền Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940 - 1941, kiêm Bí thư khu Đ (gồm các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái). Cuối năm 1941 đầu năm 1942, ông lên Cao Bằng tham gia biên soạn một số tài liệu và giảng bài cho các lớp huấn luyện cán bộ tại vùng căn cứ. Tháng 6 năm 1942, ông trở về gần Hà Nội, bị mật thám Pháp bắt tại làng Cổ Nhuế, rồi bị Tòa án quân sự kết án chung thân khổ sai, giam tại Hỏa Lò, đầu năm 1944 bị đày ra Côn Đảo.
Sau khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, Đào Duy Kỳ ra khỏi nhà tù, trở về đất liền, được Đảng cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến miền Đông Nam Bộ. Giữa năm 1946, ông được Trung ương Đảng gọi ra Hà Nội phụ trách Đoàn Thanh niên Việt Nam. Từ cuối năm 1948 đến cuối năm 1949, ông được cử làm Trưởng ban Huấn học của Trung ương Đảng, kiêm Phó Giám đốc trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; từ năm 1951 - 1952, là Thường trực Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng.
Năm 1955, trở về Hà Nội, ông làm Vụ trưởng Vụ Văn hoá đại chúng (Bộ Văn hóa), đặc trách việc tổ chức và chỉ đạo các hoạt động buổi đầu của Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đào Duy Kỳ là tác giả quyển Những người sống mãi, giới thiệu tóm tắt cuộc đời hoạt động của những chiến sĩ cộng sản đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc. Ông còn là tác giả kịch bản viết về Lý Tự Trọng, đã được Lưu Quang Vũ chuyển thành Tuổi mười bảy.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường An Hải 14 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 270m, chiều rộng một đoạn 3,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÙI LÂM
BÙI LÂM (1896 - 1984)
Ông quê ở làng Gia Hòa, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Thời còn trẻ, ông làm thủy thủ tuyến đường Hải Phòng - Marseille (Pháp). Tại Pháp, ông cùng với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền hợp tác làm báo Người cùng khổ (Le Paria). Sau đó, ông bỏ nghề thủy thủ và được cử sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông.
Năm 1929, ông về nước tham gia tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, hoạt động ở miền Bắc.
Năm 1933, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án khổ sai chung thân rồi bị đày đi Côn Đảo. Đến năm 1936, ông được tha. Năm 1939, ông lại bị bắt giam và đày đi Sơn La, đến năm 1945 mới được ra tù.
Trong kháng chiến chống Pháp (1946 -1954), ông làm Chánh án Tòa án Quân sự Quân khu III. Sau năm 1954, ông giữ các chức vụ Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Công hòa Dân chủ Đức.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hương Hải Thiền Sư (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là khu vực chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 170m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: DƯƠNG THANH
DƯƠNG THANH (? - 820)
Ông là tù trưởng địa phương, người Hoan Châu, giỏi võ nghệ, được nhà Đường phong làm Thứ sử châu Hoan (Nghệ - Tĩnh). Bấy giờ, tên đô hộ Lý Tượng Cổ tham lam, tàn bạo bị nhân dân ta oán ghét. Y sợ Dương Thanh làm loạn, bèn đưa ông về Tống Bình để dễ kiềm chế. Cuối năm 819, người Man ở Hoàng Động (Tây Bắc) nổi loạn chống quân đô hộ. Lý Tượng Cổ cử ông đem quân lên đàn áp. Biết dân ta căm thù tên đô hộ tàn bạo, ông đang đêm dẫn quân quay về đánh úp phủ thành, giết Lý Tượng Cổ. Sau khi làm chủ Tống Bình, ông cho quân đánh các nơi khác. Nhà Đường lo sợ, một mặt phong ông làm Thứ sử Quỳnh Châu (Hải Nam), mặt khác sai Quế Trọng Vũ đem quân sang đánh. Ông đã chống lại kịch liệt, nhà Đường phải điều Quế Trọng Vũ về, cử Lý Nguyên Gia sang làm đô hộ. Năm 820, sau một thời gian chiến đấu, một số tướng hàng giặc, ông phải chạy lên Tây Bắc rồi chết tại đó.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
8. Đoạn đường có điểm đầu là giao lộ giữa đường tránh Ngô Quyền và đường Tôn Quang Phiệt, điểm cuối là đường Bùi Dương Lịch: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 60m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tiếp tên đường: TÔN QUANG PHIỆT
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường An Hải 20 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 4m chưa đặt tên: Mặt bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NẠI THỊNH 1
Nại Thịnh là tên một xóm xưa của làng Nại Hiên Đông, nay là phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà.
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nại Thịnh 1, điểm cuối là đường An Hải 15 (2 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NẠI THỊNH 2
11. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đỗ Anh Hàn (đường dự kiến đặt tên trong đợt này), điểm cuối là đường Lưu Hữu Phước: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 350m, chiều rộng 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 5
An Hải là tên làng xưa (ngày nay bao gồm các phường An Hải Bắc, An Hải Đông, An Hải Tây), nay thuộc quận Sơn Trà.
12. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Thánh Tông (đường dự kiến đặt tiếp đợt này), điểm cuối là đường Đỗ Anh Hàn (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 360m, chiều rộng một đoạn 3,5m, một đoạn 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 6
13. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Đạo Thành, điểm cuối là đường Trần Nhân Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 130m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 7
14. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Đạo Thành, điểm cuối là đường Trần Nhân Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 130m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 8
15. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Đạo Thành, điểm cuối là đường Trần Nhân Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 130m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 9
16. Đoạn đường có điểm đầu là đường An Hải 14, điểm cuối là đường Hương Hải Thiền Sư (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 110m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 10
17. Đoạn đường có điểm đầu là đường An Hải 10 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Lê Chân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 11
18. Đoạn đường có điểm đầu là đường An Hải 10 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Lê Chân: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 12
19. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lý Đạo Thành, điểm cuối là khu vực chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 430m, chiều rộng 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 14
20. Đoạn đường có điểm đầu là đường Thế Lữ, điểm cuối là đường Đào Duy Kỳ (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 480m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 15
21. Đoạn đường có điểm đầu là đường 3,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Trần Nhân Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 16
22. Đoạn đường có điểm đầu là đường Khúc Hạo, điểm cuối là đường An Hải 16 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 17
23. Đoạn đường có điểm đầu là đường Khúc Hạo, điểm cuối là đường An Hải 16 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 230m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 18
24. Đoạn đường có điểm đầu là đường Trần Nhân Tông, điểm cuối là đường An Hải 21 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 19
25. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường An Hải 19 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 240m, chiều rộng một đoạn 5,5m, một đoạn 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 20
26. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nại Thịnh 1, điểm cuối là đường An Hải 15 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 220m, chiều rộng 4m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN HẢI 21
II. Sơ đồ số 34: KHU TÁI ĐỊNH CƯ BÀU GIA PHƯỚC VÀ NHÁNH 2 ĐƯỜNG NGUYỄN VĂN THOẠI (QUẬN SƠN TRÀ): có
01 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Công Trứ, điểm cuối là đường 7,5m chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 480m, chiều rộng 7,5m; không có vỉa hè.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÂM HOÀNH
LÂM HOÀNH (1824 - 1883)
Ông còn có tên là Lâm Chuẩn, sau đổi là Hoành, là tướng đời Tự Đức, quê xã Gia Bình, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Năm Đinh Mão (1867), ông đỗ Cử nhân; năm 1868, ông đỗ Phó Bảng, sau đó được bổ chức vụ Tham tri Bộ Công. Ông từng đi sứ Trung Quốc năm 1880.
Năm 1883, khi thực dân Pháp đánh chiếm cửa Thuận An, ông giữ nhiệm vụ trấn giữ ở Trấn Hải đài cửa biển Thuận An. Do thế yếu không chống đỡ nổi, ông đã nhảy xuống biển tuẫn tiết. Đương thời, ông được các sĩ phu và nhân dân kính trọng, được triều đình truy phong hàm Thượng thư.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
III. Sơ đồ số 35: KHU DÂN CƯ AN CƯ 3, AN CƯ 3 MỞ RỘNG VÀ KHU DÂN CƯ AN CƯ 4 (QUẬN SƠN TRÀ): có 17 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là 21m đang thi công, điểm cuối là đường Đông kinh Nghĩa thục (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 540m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỖ THẾ CHẤP
ĐỖ THẾ CHẤP (1922 - 1991)
Ông còn có bí danh là Đỗ Thế Mười, Đỗ Thế Diệm, tên thường gọi là Mười Chấp, sinh ngày 10-12-1922 ở xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông đã từng bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Vĩnh Điện, Hội An. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông trải qua các chức vụ: Ủy viên huyện ủy Tam Kỳ, Ủy viên Thường vụ Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc Quảng Nam.
Sau Hiệp đinh Giơnevơ (20-7-1954), ông được phân công ở lại miền Nam, xây dựng phong trào cách mạng. Trong suốt 21 năm chống Mỹ, ông đã giữ các trọng trách: Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ, Trưởng Ban công tác vùng hậu địch, Chính trị viên Tỉnh đội, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam.
Ông là một cán bộ lãnh đạo giàu mưu lược, dũng cảm, đặc biệt là tài vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong chỉ đạo chiến tranh du kích, diệt ác, phá kềm. Ông đã đưa được đồng chí Nguyễn Lương Y vào làm thư ký riêng cho tướng ngụy Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh vùng 1 chiến thuật, để khai thác nguồn tin tình báo của địch; xây dựng được 12 chi bộ Đảng hợp pháp hoạt động trong lòng địch suốt những năm chống Mỹ. Bản thân ông đã nhiều lần cải trang đột nhập vào tận sào huyệt của địch để nắm tình hình và tổ chức nhiều trận đánh bất ngờ, giành thắng lợi đáng kể. Ông đã góp phần vào trận tấn công đốt kho xăng của địch gần 2 triệu lít, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Tháng
5-1967, ông chỉ huy lực lượng bộ đội chống càn dài ngày của địch ở các xã Tam Trà, Kỳ Yên, Kỳ Quốc phối hợp với du kích đánh địch liên tục, loại khỏi vòng chiến đấu 750 tên, phá hủy hai khẩu pháo 105 ly, bắn cháy 5 máy bay HU1A và “tàu rọ”, phá huỷ 40 xe M113. Trong trận tổng Tấn công mùa Xuân 1975, ông là một trong những người chỉ huy giải phóng Tỉnh đường Quảng Tín.
Năm 1982, ở vào tuổi 60, ông vẫn xung phong đi làm nhiệm vụ quốc tế ở nước bạn Campuchia và được nước bạn tặng thưởng Huân chương Ăngko.
Ông được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba.
Ngày 10-4-2001, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
* Tài liệu tham khảo: Thạch Phương - Nguyễn Đình An (Chủ biên), Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2010.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đỗ Thế Chấp (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Hồ Nghinh: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 130m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGÔ QUANG HUY
NGÔ QUANG HUY (Thế kỷ XIX)
Ông quê ở thôn An Hải, xã Trưng Trắc, huyện văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; không rõ năm sinh và năm mất của ông.
Ông đỗ Cử nhân và làm quan đến Đốc học, cùng em ruột là Ngô Quan Chước hợp tác với Nguyễn Cao và Nguyễn Thiện Thuật chống giặc Pháp ở Bãi Sậy. Vua Hàm Nghi phong ông là Hồng lô tự khanh, sung Tán lý quân vụ. Ông chỉ huy một vùng bao gồm miền Nam Bắc Ninh, Bắc Hưng Yên và Bắc Hải Dương, nên thường gọi ông là Tán Bắc và xem ông như là thủ lĩnh thứ hai của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.
Khi Nguyễn Thiện Thuật bị giặc Pháp bao vây và phải lánh sang Trung Quốc, ông tiếp tục chỉ huy cuộc khởi nghĩa một thời gian và sau phải rút lực lượng về ẩn náu ở vùng thượng du phía Bắc.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Sa, điểm cuối là đường 7,5m chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 500m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN ĐÌNH ĐÀN
TRẦN ĐÌNH ĐÀN (1903 - 2001)
Ông quê ở làng Đông Thành (nay thuộc xã Quế Xuân), huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán, sau ra Huế học bậc tiểu học, rồi trung học. Năm 1926, ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, được bổ về dạy ở Quốc học và Trường bồi dưỡng học sinh của Huế (dành cho con em các quan lại ở triều đình).
Ông dạy văn, sử, địa bằng tiếng Pháp, nhưng vẫn mặc y phục Việt Nam, khăn đen, áo dài, chân đi dày hạ. Với học sinh, trong các bài giảng ông ca gợi tinh thần cách mạng Pháp, nhưng không quên liên hệ đến tính lịch sử oai hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc, khơi dậy trong học sinh niềm tự hào, tự tôn dân tộc.
Sau vụ học sinh bãi khóa ở Trường Quốc học (1927), Chánh mật thám Pháp là Reynaud cho rằng ông có liên quan, nên đuổi ông ra dạy ở Quốc học Vinh, dưới sự theo dõi, giám sát của lưới mật thám Pháp tại đây. Năm 1930, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp tìm mọi cớ để trục xuất ông về nguyên quán và quản thúc tại quê nhà từ năm 1930 đến 1935. Ông đã tìm cách liên lạc với một số bạn bè, nhân sĩ tiến bộ lúc bấy giờ như Tôn Quang Phiệt, Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trần Hữu Duẩn... vận động thành lập Trường trung học tư thục Thuận Hóa (Huế) và tham gia giảng dạy tại trường này từ năm 1936 đến Cách mạng Tháng 8 năm 1945.
Sau Cách mạng thành công, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Ủy viên Giáo dục UBND tỉnh Quảng Nam, Hiệu trưởng Trường Đào tạo giáo viên trung học các tỉnh Trung Bộ, Giám đốc Nha Bình dân học vụ Trung Bộ, rồi Hiệu trưởng Trường Trung học Phan Đình Phùng trong nhiều năm liền cho đến khi nghỉ hưu (1965).
Sau ngày đất nước thống nhất, ông về lại quê hương sống ở Đà Nẵng, tham gia Hội Khuyến học, Hội Trưởng danh dự Câu lạc bộ tiếng Pháp của thành phố, tiếp tục đọc và dịch sách, sống thanh bạch và giản dị như xưa.
Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Ngày 26-12-2001, “cây đại thụ hiếm hoi của Ngành giáo dục” (như cách gọi của tạp chí Thế giới mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ra đi ở tuổi 99 trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình, đồng nghiệp và những thế hệ học trò của ông.
* Tài liệu tham khảo: Thạch Phương - Nguyễn Đình An (Chủ biên), Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2010.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Sa, điểm cuối là đường Hồ Nghinh: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 280m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 6m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: THÍCH PHƯỚC HUỆ
THÍCH PHƯỚC HUỆ (1870 - 1945)
Ông có tên húy là Chơn Luận, thuộc phái Thiền Lâm Tế đời thứ 40, tên thật là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm 1870, con ông Nguyễn Chánh Niệm và bà Nguyễn Thị Lãnh, quê ở Quảng Nam, do chiến tranh đã vào sinh sống ở ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Năm 12 tuổi, ông xuất gia vào chùa Thập Tháp (Bình Định), thọ giới với Hòa thượng Chí Tịnh, được ban pháp danh là Phước Huệ. Sau, theo học với Hòa thượng Chơn Long ở chùa Tịnh Lâm (Bình Định), vào Hoà thượng Diệu Nghiêm ở chùa Từ Quang (Sông Cầu). Năm 1889, thọ giới và đắc pháp với Hòa thượng Luật Truyền.
Vốn bẩm chất thông minh lại chuyên tâm tự học, nên ông thông kinh luận Tam Tạng, Bách gia Chư tử, am hiểu cả tam giáo (Phật - Lão - Nho).
Năm 1905, sau khi Tăng cang Chơn Châu - Vạn Thành viên tịch, sư Phước Huệ về trụ trì tổ đình Thập Tháp. Năm 1906, được vua Thành Thái phong chức Tăng cang và mời ra kinh đô Huế thuyết giảng Phật pháp cho nội cung (vua, hoàng thái hậu, vương phi, công chúa).
Từ 1907 đến 1940, các vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại đều mời Phước Huệ vào cung thuyết giảng, và được suy tôn là Quốc sư, kiêm chức Tăng cang chùa Bảo Quốc ở Huế. Hòa thượng Phước Huệ là người có công trong phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung (1920 - 1945). Phần lớn những tăng ni, cư sĩ nổi tiếng trong Phật giáo Việt Nam thời cận đại và hiện đại đều có thụ huấn Hòa thượng Phước Huệ như các danh tăng Trí Quang, Trí Thủ, Thiện Minh, Thiện Siêu, Trí Thanh... (Phật học đường Báo Quốc); Mật Thể, Mật Hiển, Mật Nguyện... (Phật học đường Trúc Lâm, Tây Thiên); Phước Trí, Huyền Tân... (Phật học đường Long Khánh); Thiện Hoa, Thiện Hòa... các cư sĩ như Lê Đình Thám, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Khoa Toàn, ni sư Diệu Không, ni sư Diệu Huệ.
Ngày 18 tháng Giêng năm Ất Dậu (1945), Hòa thượng Phước Huệ viên tịch tại tổ đình Thập Tháp.
* Tài liệu tham khảo: Thạch Phương - Nguyễn Đình An (Chủ biên), Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2010.
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Phạm Thiều (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 530m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ MẠNH TRINH
LÊ MẠNH TRINH (1896 - 1983)
Ông quê ở xã Hoằng Đức, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông học chữ Hán từ rất sớm và thi đỗ Tú tài, nên được gọi là Tú Trinh. Có tinh thần yêu nước, ông đã từng tham gia phong trào Duy Tân đầu thế kỉ XX ngay tại tỉnh nhà. Sau khi phong trào bị thực dân Pháp đàn áp và tan rã, ông xuất dương (năm 1926), tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), sau đó được phái về hoạt động ở Thái Lan và có thời gian công tác bên cạnh Hồ Chí Minh. Năm 1948, về nước, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng ở Trung ương, các địa phương và ở nước ngoài: Ủy viên Chấp hành Hội Liên Việt Liên khu 4, Khu ủy viên Liên Khu ủy 4, công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc.
Năm 1953, ông làm Phó Giám đốc Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, từ năm 1960 là Phó Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Loseby: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 360m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: TRẦN THANH MẠI
TRẦN THANH MẠI (1911 - 1965)
Ông quê ở làng Tân Nội, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên - Huế).
Ông sinh trưởng trong một gia đình quan lại. Thủa nhỏ, ông học chữ Hán, thi đỗ bằng Thành chung, rồi bỏ học, làm công chức và viết văn.
Từ năm 1930, ông làm báo, viết văn và là cộng sự của tờ Phụ nữ tân văn. Năm 1932, ông cho in tập truyện ngắn đầu tay: Ngọn gió rừng. Cách mạng tháng Tám thành công, rồi toàn quốc kháng chiến, ông đều tích cực tham gia hoạt động giáo dục.
Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), ông là một trong những người phụ trách Tạp chí Giáo dục nhân dân. Sau đó, ông về công tác ở Viện Văn học Việt Nam, phụ trách tổ Văn học Việt Nam cổ cận đại.
Ông còn là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957), và là một trong những người có công gây dựng Viện Văn học Việt Nam ngay từ những ngày đầu.
Ông để lại nhiều tác phẩm văn học, như: Ngọn gió rừng (truyện ngắn, 1932); Trông dòng sông Vị (phê bình, truyện ký, 1935); Tuy Lý Vương (ký sự lịch sử, 1938); Đời văn (Phê bình-tiểu luận, 1942); Hàn Mặc Tử (phê bình-truyện ký 1941); Ngô Vương Quyền (tiểu thuyết lịch sử, 1944); Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích (1955);. Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương (tiểu luận, 1957); Tú Xương, con người và nhà thơ (tiểu luận, 1964).
Ngoài ra, ông là Chủ biên bộ sách Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1858 - 1900, và là tác giả của nhiều bài nghiên cứu đã đăng trên báo, viết về: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Lê Quý Đôn, Tùng Thiện Vương...
* Tài liệu tham khảo:
 - Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
7. Đoạn đường có điểm đầu là đường 5,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Morrison: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 580m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: DƯƠNG TRÍ TRẠCH
DƯƠNG TRÍ TRẠCH (1586 - 1662)
Ông quê ở làng Bạt Trạc, huyện Thiên Lộc (nay là xã Nhân Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), đỗ Tiến sĩ năm 1619. Năm 1630, ông được cử sang sứ nhà Minh (Trung Quốc), khi về được đưa vào làm Bồi tụng ở phủ Chúa. Sau đó ông, được thăng đến chức thượng thư bộ Lễ, làm việc ở Viện Hàn lâm, Dực vận tán trị công thần, tước Bạt quận công. Tuy đã 67 tuổi, ông vẫn xin Chúa cho dựng bia ghi danh 25 khoa thi Hội từ năm 1554-1625. Khi làm xong, ông thăng Thượng thư bộ Hộ, Tham tụng ở phủ Chúa.
Năm 75 tuổi, ông xin về hưu, thăng Thượng thư bộ Lại, gia Quốc lão thái bảo.
Ông là người thẳng thắn, giữ luật pháp của triều đình, công bằng, ngay thẳng. Khi mất, ông được truy tặng Thái phó.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
8. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đông Kinh Nghĩa Thục (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Morrison: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 430m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: VÕ NGHĨA
VÕ NGHĨA (1930 - 1962 )
Ông quê ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nên ông đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia vào Ban chấp hành Thanh niên cứu quốc. Ông rất năng nổ với công việc, lôi cuốn được nhiều tầng lớp thanh niên lên đường tòng quân diệt giặc.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), ông được phân công ở lại miền Nam hoạt động đấu tranh đòi tổng tuyển cử, hiệp thương hai miền đất nước. Với trọng trách là Huyện ủy viên, ông đã mưu trí khôn ngoan linh hoạt để móc nối, gây dựng cơ sở làm chỗ dựa cho phong trào đồng khởi diệt ác, phá kiềm theo tinh thần của Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 8-1960, trong lần đi công tác xây dựng phong trào cách mạng với các đồng chí Nguyễn Đức An, Đặng Nhơn, ông bị bao vây tại vùng cát Điện Bàn. Ông đã dùng dao tự sát nhưng không chết, bọn địch bắt ông và đưa vào nhà lao Vĩnh Điện. Địch dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ ông để khai thác thông tin, nhưng vẫn không khai thác được gì. Biết dụ dỗ không thành, địch quay ra dùng mọi hình thức tra tấn dã man nhưng ông vẫn không khuất phục. Hơn một năm chín tháng, đêm ngày bị đánh đập dã man, chịu mọi cực hình tra tấn nhưng ông vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản.
Ngày 5-6-1962, ông bị địch hành quyết tại Sân vận động Cẩm Sa.
Ông được Nhà nước khen thưởng: Bằng Tổ quốc ghi công; Huân chương Giải phóng hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân năm 2005.
* Tài liệu tham khảo: UBND và Ban Tuyên giáo huyện Điện Bàn cung cấp.
9. Đoạn đường có điểm đầu là đường Đông Kinh Nghĩa Thục (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Loseby: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 210m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ BÌNH
LÊ BÌNH (1924 - 1945)
Ông quê ở làng Xa Lang (nay là xã Sơn Tân), huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng gia đình dời vào cư trú tại Thị xã Hà Tĩnh.
Sớm giác ngộ cách mạng, từ tháng 1-1945, ông gia nhập Mặt trận Việt Minh thị xã, sau đó được tổ chức đưa vào Sài Gòn hoạt động. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được cử phụ trách lực lượng an ninh quận Tận Bình, rồi tỉnh Cần Thơ. Ngày 23-9, Pháp được quân Anh, Nhật yểm trợ đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, rồi đánh rộng ra ngoài thành.
Sáng ngày 12-11-1945, lực lượng tự vệ cảm tử quốc gia do Lê Bình trực tiếp chỉ huy, được sự phối hợp của dân quân tự vệ và của vệ binh cộng hòa, đóng giả những người Hoa Kiều vào đồn xin giấy phép đi lại các làng để mua lợn về mổ thịt bán. Lừa khi bọn Pháp sơ ý, Lê Bình cùng đồng đội đã rút súng bắn vào tên đại úy đồn trưởng cùng bọn chỉ huy. Nhưng khi leo lên cột cờ, hạ cờ giặc xuống, kéo cờ đỏ sao vàng của tổ quốc lên, ông bị trúng đạn và hy sinh. Bốn chiến sĩ cảm tử cũng đều dũng cảm hy sinh.
Câu chuyện “năm anh hàng thịt” sau đó đã có tiếng vang rộng lớn trong nhân dân cả nước, báo chí nước Pháp cũng có nhiều bài tường thuật. Đây là trận đánh của quân và dân Nam Bộ ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ông đã được Nhà nước truy tặng Liệt sĩ và danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
10. Đoạn đường có điểm đầu là đường Lê Bình (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 21m chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 280m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ TẤN TOÁN
LÊ TẤN TOÁN (? - 1887)
Ông quê ở làng Hà Lộc, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, không rõ năm sinh của ông. Ông thi đỗ cử nhân khoa Tân Dậu, năm Tự Đức thứ 14 (1861), nhưng không chịu ra làm quan mà về quê mở trường dạy học, chăm sóc mẹ già.
Trường Hà Lộc của thầy Lê Tấn Toán, tuy nằm ở giữa một vùng nông thôn xa phố thị, nhưng được nhiều người biết đến vì đã góp phần đào tạo những tú tài, cử nhân như Nguyễn Duy Hiệu, Châu Thượng Văn…
Vào cuối năm 1887, Nghĩa hội Quảng Nam bị quân Nam triều phối hợp với quân Pháp đánh tan rã. Phan Bá Phiến uống thuốc độc hy sinh, Nguyễn Duy Hiệu bị bắt giải về Huế và bị xử trảm rạng sáng ngày 1-10-1887 tại pháp trường An Hòa gần Huế. Ở Quảng Nam chính quyền tay sai tiếp tục mở chiến dịch truy lùng, bắt bớ đàn áp những thân hào, nhân sĩ, nghĩa quân yêu nước. Theo chỉ dụ của Đồng Khánh, Lê Tấn Toán bị can tội là đã dạy học trò (Nguyễn Duy Hiệu) “khởi ngụy”, do đó, ông bị ghép vào tội làm quân sư cho “Nguỵ hội” (Nghĩa hội Cần vương), chống lại triều đình Huế. Tuy nhiên, vì ông thuộc hàng khoa hoạn nên được đặc ân xử tử theo “Tam ban triều điển”.
Để giữ tròn tiết tháo, ông đã chọn chén thuốc độc để kết liễu đời mình. Chứng kiến cái chết của người thầy khả kính lúc bấy giờ có nhiều học trò ở trường Hà Lộc. Người “trưởng tràng” đã kêu gọi bạn đồng môn đem tiền ra chợ Vĩnh Điện ở gần đấy, mua một cây khăn nhiễu bện thành chiếc võng khiêng thi thể của thầy về Hà Lộc để làm lễ mai táng.
Từ đó hàng năm, cứ đến ngày kỵ giỗ ông, các khóa sinh, tú tài, cử nhân, kẻ đi bộ, người đi thuyền, cưỡi ngựa tập trung về Hà Lộc để dự đám giỗ người thầy đáng kính của mình.
* Tài liệu tham khảo: Thạch Phương - Nguyễn Đình An (Chủ biên), Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2010.
11. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hồ Nghinh, điểm cuối là đường Dương Trí Trạch (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 290m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN CÔNG SÁU
NGUYỄN CÔNG SÁU (1953 - 1974)
Ông quê ở thôn Bộ Nam, xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng tháng 3-1969. Khi hy sinh, ông là Xã đội phó xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ông đã trực tiếp đánh nhiều trận, tiêu diệt 150 tên địch, thu được 31 súng các loại, phá hủy 6 xe cơ giới. Trong quá trình chiến đấu, ông đã được tặng thưởng: 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần là Dũng sĩ diệt cơ giới, 4 lần là Chiến sĩ thi đua, 3 lần là Dũng sĩ diệt Mỹ, 3 lần là Dũng sĩ Quyết thắng và 7 Bằng khen.
Ngày 30-8-1995, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
* Tài liệu tham khảo: Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng cung cấp.
12. Đoạn đường có điểm đầu là đường Võ Nghĩa (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 340m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM THIỀU
PHẠM THIỀU (1904 - 1986)
Ông quê ở xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Thuở nhở, ông học chữ Hán, sau đó chuyển sang Tây học. Tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, ông được bổ nhiệm vào Nam dạy học. Ông có tham gia viết báo ở Sài Gòn, năng lực chuyên môn (giảng dạy, nghiên cứu) và đức độ của ông gây được cảm tình, mến mộ đối với giới tri thức.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông giữ các chức vụ: Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính liên khu miền Đông, Vụ trưởng Vụ Sư phạm Bộ Giáo dục, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Tiệp Khắc và Hunggari, chuyên viên nghiên cứu Viện Văn học, Trưởng ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông có nhiều luận văn nghiên cứu (về Văn học, Hán Nôm học…) đăng trên các tạp chí khoa học. Ông đã có công góp phần đào tạo, dẫn dắt nhiều thế hệ nghiên cứu về di sản Hán- Nôm của dân tộc.
Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 1-12-1986. Do công lao đóng góp cho sự nghiệp chung của dân tộc, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
13. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hồ Nghinh, điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 200m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN HỮU THÔNG
NGUYỄN HỮU THÔNG (1930 - 1968)
Ông quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông còn có tên là Nguyễn Hữu Nỳ.
Ông tham gia cách mạng từ rất sớm; tháng 2-1950, khu Đông Điện Bàn tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ Nhất tại thôn 4, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn và ông được bầu làm Đảng ủy viên trực tiếp phụ trách khu đội dân quân.
Từ tháng 1-1964 đến tháng 12/1966, Ông là Ủy viên Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng và trực tiếp làm Bí thư Quận ủy quận III.
Từ năm 1967 đến năm 1968, ông là Đặc Khu ủy viên (Đặc Khu ủy Quảng Đà), Bí thư Quận ủy Quận III, kiêm Bí thư khu Sông Đà, Đà Nẵng. Ngày 29-1-1968, Quận uỷ Quận III đã tổ chức một cuộc họp quan trọng, truyền đạt mệnh lệnh tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Ông phân công các đồng chí quận ủy viên trực tiếp vào bên trong nội thành để chỉ đạo phong trào và đã giành nhiều thắng lợi.
Chiều ngày 19-8-1968, trong một trận càn của địch tại xóm Đa Phước, địch đã phát hiện được công sự bí mật của ta, dưới công sự có ông, 01 đồng chí Bí thư Chi bộ và 01 tự vệ. Khi địch vừa khui miệng hầm, 3 đồng chí đã tung nắp hầm và dũng cảm nổ súng đánh trả, tiêu diệt địch và cả 3 đồng chí đều hy sinh.
* Tài liệu tham khảo: UBND và Ban Tuyên giáo Quận Sơn Trà cung cấp.
14. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Sa, điểm cuối là đường 21m chưa thi công: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 590m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
Đông kinh Nghĩa thục được lập ra từ tháng 3-1907 và chấm dứt vào tháng 11-1907, là một phong trào nhằm thực hiện cải cách xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX trong thời Pháp thuộc. Mục tiêu của phong trào là:
- Xóa bỏ các tư tưởng Khổng giáo, Tống nho, Hán nho. Du nhập những tư tưởng mới, phát triển văn hoá, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục (dịch, viết sách giáo khoa). Mở những lớp dạy học không lấy tiền (để đúng với cái tên là nghĩa thục) và tổ chức những cuộc diễn thuyết để trao đổi tư tưởng cùng cổ động trong dân chúng.
- Chấn hưng thực nghiệp. Mở tiệm buôn, phát triển công thương.
Các sáng lập viên chủ yếu của phong trào là Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Dương Bá Trạc, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí…
* Tài liệu tham khảo: Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Sự, Lịch sử Việt Nam (1877-1914), Nhà xuất bản Xây dựng, năm 1957.
15. Đoạn đường có điểm đầu là đường 21m đang thi công, điểm cuối là đường Trần Đình Đàn (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHƯỚC TRƯỜNG 1
Phước Trường là tên làng xưa của phường Phước Mỹ hiện nay.
16. Đoạn đường có điểm đầu là đường 21m đang thi công, điểm cuối là đường Trần Đình Đàn (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 180m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHƯỚC TRƯỜNG 2
17. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Quang Huy, điểm cuối là đường Trần Đình Đàn (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHƯỚC TRƯỜNG 3
IV. Sơ đồ số 36: KHU DÂN CƯ THỌ QUANG 2 (QUẬN SƠN TRÀ): có 06 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m chưa đặt tên, điểm cuối là đường tránh Ngô Quyền: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 640m, chiều rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN PHỤC
NGUYỄN PHỤC
Ông quê ở xã Đoàn Tùng, huyện Gia Phúc, nay là xã Phượng Bằng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Không rõ năm sinh và mất của ông.
Ông là bậc lương tướng, đỗ Hoàng giáp khoa Quý Dậu (1453), làm quan từng giữ các chức: Chuyển vận sứ, Hành khiển đạo Thanh Hoa, Hàn lâm kiêm Vương phó, Trưởng viện Hàn lâm, Đại lý Tự khanh, Hữu tham nghị, trông coi việc binh chính. Khi vua Lê Thánh Tông chưa lên ngôi, ông là thầy dạy của vua. Đến khi vua đi đánh Chiêm Thành (1470 - 1471), ông giữ chức Phi Vận tướng quân, Tán lý đội chuyên thâu… Đoàn thuyền quân lương khi đến cửa Tư Khách (cửa Tùng) bị gió bão, sĩ tốt cứ mãi gắng chèo, ông bảo rằng, dừng lại tìm nơi trú ẩn, nếu trái quân lệnh, thà để mình ta chịu chết, chứ ta không nỡ để đoàn thuyền quân lương chìm sâu dưới đáy biển, không chỉ ta chết, các khanh chết mà đại quân ta cũng sẽ chết vì thiếu lương thực. Vì thế, đoàn quân lương đến nơi bị chậm trễ, ông phải chịu oan hình theo quân pháp. Vua Lê Thánh Tông nhận thấy chính khí của ông qua sớ tấu, lấy làm thương tiếc, sắc ban ông làm “Phúc thần”. Năm Kỷ Mùi (1499), đời vua Lê Hiến Tông sắc ban “Minh Đao Hiển Ứng” và “Văn Trung Chính Nghị”, rồi “Thượng đẳng Phúc Thần” đồng thời cho lập đền thờ.
* Tài liệu tham khảo: Dương Văn An, “Ô Châu cận lục”, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, năm 2001.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường lên cầu Thuận Phước, điểm cuối là đường Mân Quang 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 160m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè chỉ có một bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MÂN QUANG 1
Mân Quang là tên làng xưa, nay thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Yết Kiêu, điểm cuối là đường Nguyễn Phục (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MÂN QUANG 2
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Mân Quang 2, điểm cuối là đường Mân Quang 5 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 140m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MÂN QUANG 3
5. Đoạn đường có điểm đầu là đường Mân Quang 2 (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường tránh Ngô Quyền: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 270m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MÂN QUANG 4
6. Đoạn đường có điểm đầu là đường Yết Kiêu, điểm cuối là đường Nguyễn Phục (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 190m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: MÂN QUANG 5
V. Sơ đồ số 37: ĐƯỜNG TRÁNH NGÔ QUYỀN (QUẬN SƠN TRÀ): có 02 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Yết Kiêu, điểm cuối là đường 15m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 580m; chiều rộng một đoạn 10,5m, một đoạn 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: BÙI QUỐC HƯNG
BÙI QUỐC HƯNG (? - 1448)
Ông quê ở Cống Khê (Hà Tây), là danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Không rõ năm sinh của ông.
Ông đỗ Tam trường thời Trần Duệ Tông (1373 - 1377), từng tham gia hội thề Lũng Nhai. Trong thời gian đầu của cuộc khởi nghĩa, ông phụ trách các công việc văn thư. Cuối năm 1426 đầu năm 1427, ông được cử chỉ huy đạo quân bao vây và dụ hàng quân địch ở các thành Thị Cầu, Điêu Diêu (Bắc Giang). Ngày toàn thắng, ông được phong Bảo chính công thần, Nhập nội thiếu phó, Trang nghĩa hầu, sau thăng lên Nhập nội tư đồ. Năm 1448, ông mất. Thời Lê Thánh Tông, ông được truy phong Trang quận công.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Trần Hưng Đạo: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 2.560m, chiều rộng 15m; vỉa hè một bên rộng 9m, một bên rộng 10m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: VÂN ĐỒN
VÂN ĐỒN
Vân Đồn là một vùng cảng biển nổi tiếng, thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Năm 1149, vua Lý Anh Tông chính thức lập trang Vân Ðồn, đồng thời biến thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt, trong giao thương với các nước trong khu vực Đông Á và Thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia... Thương cảng Vân Đồn thịnh vượng suốt 3 triều đại là: Lý - Trần - Hậu Lê (Lê sơ) rồi suy thoái và bị lãng quên vào thời nhà Mạc.
Năm 1288, tại đây đã diễn ra trận thủy chiến do tướng Trần Khánh Dư chỉ huy, đánh chìm 400 thuyền lương của quân Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta.
* Tài liệu tham khảo:
- Giang Quân, Từ điển đường phố Hà Nội, Nhà xuất bản Thời đại, năm 2010.
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
VI. Sơ đồ số 38: KHU TÁI ĐỊNH CƯ KHU CÔNG NGHIỆP AN ĐỒN (QUẬN SƠN TRÀ): có 04 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Đức Lương, điểm cuối là đường An Đồn 2 (02 đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 330m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: ĐỖ HUY UYỂN
ĐỖ HUY UYỂN (1816 - 1882)
Ông có tên tự là Viên Khuê, hiệu Tân Giang; người làng La Ngạn, huyện Đại An (nay là huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định). Đậu phó bảng khoa Tân Sửu năm Thiệu Trị thứ 1(1841), được bổ chức Kiểm thảo ở Hàn lâm viện. Năm 1848, ông được bổ Đồng tri Bình Giang, sau về triều làm Giám sát ngự sử, có dâng điều trần (về 4 khoản: 1. ít bàn luận; 2. bớt sai phái; 3. tại chức được lâu; 4. ngăn cấm kẻ kiêu hãnh), được vua Tự Đức khen thưởng, sau bổ làm Đốc học ở Vĩnh Long. Năm 1856, ông được triều thần tiến cử, về triều làm Lang trung Bộ Lễ, thường khởi thảo các bài chiếu dụ, được vua khen; sau đó, làm Thái thường thiếu khanh, Biện lý bộ Hộ. Về sau, ông bị đau mắt, cáo lão về làng và mất ở quê.
Tác phẩm của ông được tập hợp trong các cuốn: La Ngạn Đỗ đại gia thi văn, La Ngạn Đỗ đại gia phú tập, Tân Giang văn tập, Nam Định chúc hỗ ca cách, Tự học cầu tinh ca, Văn công gia lễ tồn chân.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường 7,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Lý Thánh Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 490m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: HOÀNG ĐỨC LƯƠNG
HOÀNG ĐỨC LƯƠNG (Thế kỷ XV)
Ông quê ở Cửu Cao, Văn Giang (Châu Giang, Hưng Yên), sau dời sang làng Ngọ Kiều (Gia Lâm, Hà Nội). Không rõ năm sinh và năm mất của ông.
Ông đậu Hoàng giáp năm 1947, từng được cử đi sứ Trung Quốc, làm quan đến Tả Thị lang bộ Hộ. Công trình có giá trị nhất mà ông sưu tập, biên soạn và đề tựa là bộ Trích diễm thi tập năm 1497, 15 quyển, nay chỉ còn 6 quyển. Dụng ý sưu tập của ông là thể hiện tấm lòng trân trọng di sản văn hóa quá khứ, bổ cứu kịp thời tình trạng sách vở cũ bị mất.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Đức Lương (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 7,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 120m, chiều rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN ĐỒN 1
An Đồn là tên xóm xưa, nay là khu phố An Đồn, thuộc phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà.
4. Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoàng Đức Lương (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường Lý Thánh Tông: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 270m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: AN ĐỒN 2
 H. HUYỆN HÒA VANG
Tổng số: 07 đường, trong đó:
- Đặt theo tên nhân vật lịch sử: 07 đường.
I. Sơ đồ số 39/1, 39/2, 39/3: KHU DÂN CƯ NAM CẦU CẨM LỆ (HUYỆN HÒA VANG): có 07 đường.
1. Đoạn đường có điểm đầu là cầu Cẩm Lệ, điểm cuối là đường Quốc Lộ 1A: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 3.000m, chiều rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 6m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM HÙNG
PHẠM HÙNG (1912 - 1988)
Ông tên thật là Phạm Văn Thiện, quê ở xã Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1946, ông được bầu làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ. Năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1952, ông được chỉ định làm Ủy viên Trung ương Cục Miền Nam, sau đó làm Phó Bí thư Trung ương Cục Miền Nam kiêm Bí thư và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính Phân liên khu Miền Đông Nam Bộ. Năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ông làm Trưởng đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ. Năm 1956, tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa (II), ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Năm 1957, được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Năm 1958, ông được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Năm 1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ông được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị. Năm 1967, ông được Bộ Chính trị phân công làm Bí thư Trung ương Cục Miền Nam và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam. Năm 1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông làm Chính ủy Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Năm 1980, kiêm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982) của Đảng, ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiếp tục làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị.
Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ nhất (6-1987) đã bầu ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III, khóa VI, khóa VII và khóa VIII.
Do những cống hiến to lớn của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp tăng cường đoàn kết quốc tế, ông đã được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều Huân chương khác.
* Tài liệu tham khảo: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư, Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa, năm 2001.
2. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m chưa đặt tên, điểm cuối là đường Nguyễn Huy Oánh (đường dự kiến đặt tên đợt này): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 580m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGÔ MÂY
NGÔ MÂY (1924 - 1947)
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Cách mạng Tháng 8 thành công, ông hăng hái tham gia du kích xã, sau đó nhập ngũ và là đội viên đội quyết tử.
Đầu 10-1947, đơn vị nhận lệnh phục kích quân địch trên đường An Khê đi Plâyku, ông có nhiệm vụ ôm bom phá xe tăng để tạo điều kiện cho đồng đội diệt bộ binh địch. Không may trận địa bị lộ, địch nổ súng tấn công trước và dồn quân ta vào thế bất lợi. Lực lượng quá chênh lệch, đơn vị phải vừa đánh vừa yểm hộ cho từng bộ phận rút lui để bảo toàn lực lượng.
Ông bình tĩnh chờ một toán đông quân giặc tới gần rồi mới rút chốt bom. Một tiếng nổ dữ dội vang lên, làm một trung đội quân Âu - Phi tan xác. Ông đã hy sinh oanh liệt.
Ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Hai và được Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
3. Đoạn đường có điểm đầu là đường Ngô Mây (đường dự kiến đặt tên đợt này), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 320m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÊ ĐÌNH DIÊN
LÊ ĐÌNH DIÊN (1819 - 1887)
Ông có tên tự là Cúc Linh, hiệu Cúc Hiên; người làng Mọc, nay là xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Ông là học trò của Vũ Tông Phan. Đậu Hoàng Giáp (Tiến sĩ) năm 1849, vào làm ở viện Hàn Lâm, rồi được bổ đi làm Tri phủ Tân An, sau đó mất chức, về nhà, rồi trở vào nội các làm sách. Năm 1858, ông được khôi phục chức Kiểm thảo, sau đó tăng Biên tu. Năm 1860, ông làm Đốc học Nghệ An, sau đổi ra Đốc học Hà Nội, rồi về triều làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1870, ông cáo quan về làng; sau lại được cử làm Tế tửu Quốc tử giám nhưng ông lấy cớ ốm rồi từ chối.
Thơ văn của ông được tập hợp trong các sách viết tay chữ Hán như: Cúc Hiên tiên sinh thi văn tập; Cúc Hiên tiên sinh văn thảo; Cúc Hiên tiên sinh thi thảo; Cúc Hiên tiên sinh văn loại…
Ngoài ra, ông còn soạn nhiều sách phục vụ cho việc luyện thi học trò theo Nho học như: Lịch triều sử ký văn tuyển, Cúc Hiên tứ lục, Cúc Hiên chiếu tuyển, Cúc Hiên luận tuyển…
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
4. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối đều là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 580m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: LÝ THIÊN BẢO
LÝ THIÊN BẢO (? - 555)
Ông quê ở Thái Bình (Sơn Tây - Hà Tây), là anh trai của Lý Bí, không rõ năm sinh của ông, ông tham gia cuộc khởi nghĩa, giành độc lập năm 515. Cuối năm 545, quân Lương kéo sang, Lý Bí chống không nổi phải chạy lên phía Gia Ninh (Bạch Hạc - Phú Thọ), Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử đem một đạo quân chạy vào Cửu Chân. Quân Trần Bá Tiên (nhà Lương) truy đuổi, ông phải chạy sang vùng Di Lão ở giáp Ai Lao. Sau đó, ông đến đóng quân ở động Dã Năng, đầu nguồn sông Đà, đắp thành cố thủ, tự xưng là Đào Lang Vương.
Năm 555, ông mất, Lý Phật Tử lên thay.
* Tài liệu tham khảo: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Việt Nam các nhân vật lịch sử -văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, năm 2008.
5. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối đều là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 340m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN HUY OÁNH
NGUYỄN HUY OÁNH (1713 - 1789)
Ông có tên tự là Thư Hiên, hiệu Thạc Đình; người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh.
Dòng họ nổi tiếng vì có nhiều người đỗ đạt khoa bảng. Thuở bé, ông nổi tiếng thần đồng, đọc sách rất nhiều; đậu Thám hoa năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748); làm quan đến các chức Đông các đại học sĩ, Tả thị lang Bộ Lại, Thượng thư Bộ Hộ, tước Thạc Lĩnh hầu. Năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765), ông làm Chánh sứ sứ bộ nhà Lê sang triều cống nhà Thanh.
Ông còn là một nhà giáo, có tới mấy nghìn học trò, trong đó có hàng chục người đỗ đạt và làm quan đồng triều. Khi về trí sĩ ở quê (khoảng 1779), ông mở trường dạy học, thu thập tài liệu đồng thời in hàng nghìn bản sách cho học trò học tập.
Các tác phẩm của ông gồm có: Tính lý toản yếu, Ngũ kinh toản yếu, Tứ thư toản yếu, Quốc sử toản yếu, Sơ học chỉ nam, Bắc dư tập lãm, Danh thắng toàn chí, Lai Thạch khoa danh ký, Hoàng hoa sứ trình đồ bản, Phụng sứ yên đài tổng ca, Huấn nữ tử ca…
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
6. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối đều là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 800m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: VŨ MIÊN
VŨ MIÊN (1718 - 1782)
Ông quê ở làng Xuân Lan, huyện Lang Tài (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Năm 31 tuổi, đỗ Hội nguyên tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748). Làm quan triều Lê-Trịnh qua các chức Tri Quốc tử giám, Quốc sử tổng tài, Hành Tham tụng, tước Liên Khê hầu; khi mất được truy tặng chức Thượng thư và được ban tên thụy là Ôn Cẩn.
Ông là người rất giỏi về thơ phú. Thơ chữ Hán của ông được tuyển khá nhiều trong sách Việt thi tục biên. Ông còn có tác phẩm Bắc sứ tự thuật ký. Ông còn được giao đồng chủ trì biên soạn Quốc sử tục biên (cùng với Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn…), Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (viết cùng Uông Sĩ Lãng, Phan Trọng Phiên), Tam thiên tự lịch đại văn giải âm (dịch chung với Nguyễn Lê, Ninh Tốn, Phạm Khiêm).
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
7. Đoạn đường có điểm đầu và điểm cuối đều là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài 420m, chiều rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM CÔNG TRỨ
PHẠM CÔNG TRỨ (1599 - 1675)
Ông quê ở làng Liêu Xuyên, huyện Đường Hào (nay huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Ông đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628); làm quan, giữ nhiều trọng trách trong triều Lê - Trịnh các đời Lê Thần Tông (1649- 1662) và Lê Huyền Tông (1663 - 1671): Tán lý đạo Sơn Nam, Đô ngự sử, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Lại, Tham tụng. Năm 69 tuổi (1668), ông về hưu, được thăng Thái bảo, gia Quốc lão, tước Yến quận công. Năm 1673, ông lại được mời ra làm Tể tướng kiêm Tham tán cơ mật. Khi mất, ông được truy phong Thái tể, tên thụy là Trung Cần. “Ông là người thâm trầm, giản dị chắc chắn, được đời khen là bậc tể tướng có tiếng tốt, là bậc hiền tể thứ nhất sau đời Trung hưng” (Phan Huy Chú).
Ông là người có nhiều đóng góp về sử học. Vào năm 1665, được giao đứng đầu nhóm văn thần khảo đính quốc sử (tức những bộ thông sử đã được soạn trước đấy) và chép tiếp từ đời Lê Trang Tông (1533 - 1548) đến Lê Thần Tông (1649 - 1662). Ông đã hiệu đính bộ sử của Ngô Sĩ Liên, viết tiếp Bản kỷ thực lục và viết mới phần Bản kỷ tục biên.
* Tài liệu tham khảo: Lại Nguyên Ân (Chủ biên), Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999.
PHẦN II: ĐẶT TÊN CẦU
I. Sơ đồ số 40: CÔNG TRÌNH CẦU HÒA XUÂN (QUẬN CẨM LỆ VÀ QUẬN HẢI CHÂU)
1. Cầu bắc qua sông Cẩm Lệ, có điểm đầu là đường Ven sông Tuyên Sơn - Túy Loan, điểm cuối là đường đang thi công (Khu đô thị sinh thái Hòa Xuân): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài toàn cầu 303,55m, khổ cầu: rộng 14,5m.
- Đề nghị đặt tên cầu: HÒA XUÂN
Hòa Xuân là tên xã Hòa Xuân, trước đây thuộc huyện Hòa Vang, nay là phường Hòa Xuân, thuộc quận Cẩm Lệ; Hòa Xuân cũng là tên gọi của dự án xây dựng cầu.
II. Sơ đồ số 41: CÔNG TRÌNH CẦU TIÊN SƠN (QUẬN NGŨ HÀNH SƠN VÀ QUẬN HẢI CHÂU)
1. Cầu bắc qua sông Hàn, có điểm đầu từ cuối đường dẫn phía Đông (giao lộ đường Ngũ Hành Sơn - Hồ Xuân Hương), điểm cuối là đường dẫn phía Tây (từ cầu đến giao lộ đường 2 Tháng 9 - Xô Viết Nghệ Tĩnh): Mặt đường bằng bê-tông nhựa, chiều dài toàn cầu 529,80m; khổ cầu: rộng 25,05m.
- Đề nghị đặt tên cầu: TIÊN SƠN
Tiên Sơn là tên của làng xưa, nay thuộc phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu.
PHẦN III: ĐẶT TÊN CÔNG VIÊN
I. Sơ đồ số 42: CÔNG VIÊN ĐẦU ĐƯỜNG PHẠM VĂN ĐỒNG
1. Địa điểm công viên: ở phía Đông đường Hoàng Sa (nút cảnh quan đường Hoàng Sa - Phạm Văn Đồng):
- Đề nghị đặt tên: CÔNG VIÊN BIỂN ĐÔNG
Đặt tên Biển Đông cho công viên ở bên cạnh tuyến đường Hoàng Sa cũng nhằm thể hiện chủ quyền của đất nước, vì từ trước đến nay nhiều sách báo trong nước và trên thế giới ghi vùng biển này là China Beach.

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Bổ nhiệm Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng

Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng trao quyết định bổ nhiệm Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng cho bà Lâm Thị Phương Thanh. Ảnh: TTXVN
(PLVN) - Sáng 1/7, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức công bố quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ dưới hình thức trực tuyến tại 3 điểm cầu Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM.

Giảm tải mật độ, hạn chế lây nhiễm trong khu cách ly

làm thủ tục tiếp nhận công dân vào khu cách ly tại Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô. Ảnh: báo Lao động (chụp tháng 2/2020)
(PLVN) - Những ngày vừa qua, số ca F1 chuyển biến thành F0 tăng nhanh nên TP Hà Nội đã chỉ đạo xét nghiệm toàn bộ số F1 đang cách ly để sàng lọc, rà soát mà không cần chờ đủ thời gian 7 ngày theo quy định. Qua xét nghiệm đã xác định thêm 27 ca bệnh chuyển từ F1 thành F0.

Những nữ Công an tỉnh Phú Thọ nhiệt huyết trong công việc

Chiến sỹ Cảnh sát nhập dữ liệu thông tin của người dân.
(PLVN) - Trong bất kể lĩnh vực công tác nào, thì những “bông hồng thép”- nữ cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an Phú Thọ đều luôn nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần mang lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.