Dự thảo Đề án đặt tên đường thành phố Đà Nẵng năm 2009

Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố , Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố đã xây dựng Dự thảo Đề án đặt tên đường để trình HĐND thành phố tại kỳ họp vào đầu tháng 7 năm 2009. Để lấy ý kiến cán bộ nhân dân thành phố, Báo Đà Nẵng Điện tử đăng nội dung Dự thảo Đề án này. Các ý kiến đóng góp cho nội dung Dự thảo Đề án, xin vui lòng gửi về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (cơ quan thường trực Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố), số 102, đường Lê Lợi, Đà Nẵng, trước ngày 6-6-2009.


DỰ THẢO ĐỀ ÁN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2009

Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố , Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố đã xây dựng Dự thảo Đề án đặt tên đường để trình HĐND thành phố tại kỳ họp vào đầu tháng 7 năm 2009. Để lấy ý kiến cán bộ nhân dân thành phố, Báo Đà Nẵng Điện tử đăng nội dung Dự thảo Đề án này. Các ý kiến đóng góp cho nội dung Dự thảo Đề án, xin vui lòng gửi về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (cơ quan thường trực Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố), số 102, đường Lê Lợi, Đà Nẵng, trước ngày 6-6-2009.

I- KHU DÂN CƯ NAM CẦU TRẦN THỊ LÝ (Phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn): 20 đường, đặt tên là Mỹ An kèm theo số thứ tự. Mỹ An là tên phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn; đồng thời, Mỹ An là một từ có ý nghĩa tốt. Mỹ có nghĩa là đẹp; An có nghĩa là bình an. Mỹ An hàm nghĩa sự tốt đẹp và bình an.

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường Phạm Hữu Kính, điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 120m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 1

2- Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh, điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 110m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 2

3- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Nguyễn Tư Giản: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 120m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 3

4 - Đoạn đường có điểm đầu là đường số 3 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 3), điểm cuối là đường Dương Khuê: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 130m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 4

5- Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh, điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 114m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 5

6- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Nguyễn Tư Giản: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 98m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 6

7- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 5 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 5), điểm cuối là đường số 8 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 8): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 275m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 7

8- Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh, điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 125m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 8

9- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Chương Dương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 100m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 9

10- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Chương Dương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 150m, rộng 5,5m; vỉa hè bằng mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 10

11- Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh, điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 124m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 11

12- Đoạn đường có điểm đầu là đường Hoài Thanh, điểm cuối là đường An Dương Vương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 124m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 12

13- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Hồ Huân Nghiệp: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 121m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 14

14- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Hồ Huân Nghiệp: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 146m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 15

15- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 14 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 15), điểm cuối là đường số 16 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 17): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 140m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 16

16- Đoạn đường có điểm đầu là đường An Dương Vương, điểm cuối là đường Chương Dương: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 238m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 17

17- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 16 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 17), điểm cuối là đường 7,5m đang thi công: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 255m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 18

18- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 17 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 18), điểm cuối là đường Hồ Huân Nghiệp: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 120m, rộng 3,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 19

19- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 17 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 18), điểm cuối là đường Hồ Huân Nghiệp: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 132m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 20

20- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 17 (dự kiến đặt tên là Mỹ An 18), điểm cuối là đường Hồ Huân Nghiệp: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 155m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: MỸ AN 21

II- KHU TÁI ĐỊNH CƯ THANH LỘC ĐÁN - HÒA MINH (phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê và phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu): 05 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Tất Thành, điểm cuối là đường 5,5m đang thi công: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 820m, rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 6m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: LÝ THÁI TÔNG

LÝ THÁI TÔNG (1000 - 1054)
Vua Lý Thái Tông, tên thực là Lý Phật Mã, sau đổi là Lý Đức Chính, là con của vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn).

Ông là người đặt ra nhiều phép tắc, luật lệ và có công trong việc mở mang bờ cõi. Là người có tài và tinh thông Phật học, ông thường họp với các nhà sư ở chùa Thiên Phúc để bàn về đạo Phật.

Tác phẩm của ông còn lại có: “Hình thư”; Bài kệ chép ở sách "Thiền uyển tập anh ngữ lục".

(Nguồn: 1- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Văn hoá; 2- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

2- Đoạn đường có điểm đầu là đường Dũng sĩ Thanh Khê (cũ), điểm cuối là đường số 4 (dự kiến đặt tên là Dương Bích Liên): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 250m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGÔ ĐỨC KẾ

NGÔ ĐỨC KẾ (1878 – 1929)
Ông có hiệu là Tập Xuyên, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1901, ông thi đậu Tiến sĩ, nhưng không ra làm quan. Năm 1907, ông cùng với Đặng Nguyên Cẩn mở "Chiêu Dương thương quán" ở Vinh (Nghệ An) để tuyên truyền và vận động cách mạng. Năm 1908, ông bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Đảo. Năm 1921, ông ra tù về làm nghề viết báo, trở thành cây bút xuất sắc trong tạp chí Hữu Thanh.

Tác phẩm của ông gồm có: “Thiên nhiên học hiệu ký”; “Thất nhật quang phục ký”; “Sở Am tập”; “Phan Tây Hồ di thảo”; “Dân quyền”; “Luận về chính học và tà thuyết” và nhiều tác phẩm khác.

(Nguồn: 1- Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh: Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, NXB Văn hóa - Thông tin; 2- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

3- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 2 (dự kiến đặt tên là Ngô Đức Kế), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 243m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: ĐÀO NGUYÊN PHỔ

ĐÀO NGUYÊN PHỔ (1861 – 1908)
Ông người làng Thương Phán, tổng Đồng Trực, huyện Quỳnh Côi (nay là thôn Thượng Phán, xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông đỗ Hoàng giáp khoa thi Mậu Tuất, niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1898) và thụ chức Hàn lâm thừa chỉ, làm quan được 1 năm.

Ông là một trong những người thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại phố Hàng Đào, Hà Nội để đào tạo nhân tài, tập hợp lực lượng yêu nước và là trung tâm của phong trào vận động văn hóa mang tính chất dân tộc dân chủ. Đến khi phong trào Duy Tân ở miền Trung bùng nổ, ông cũng là một trong những nhân sĩ miền Bắc ủng hộ Phan Châu Trinh trong kế hoạch duy tân. Sau khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, tiếp đến, kế hoạch đầu độc lính Pháp ở Hà thành bị tiết lộ, Đào Nguyên Phổ càng bị truy lùng ráo riết, đến mức ông phải quyên sinh để khỏi bị sa vào tay kẻ địch, nhằm bảo toàn danh tiết và tránh di lụy cho gia đình, bạn bè, đồng chí...

(Nguồn: 1- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia; 2- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Văn hoá)

4- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 1 (dự kiến đặt tên là Lý Thái Tông), điểm cuối là đường 5,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 310m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: DƯƠNG BÍCH LIÊN

DƯƠNG BÍCH LIÊN (1924 - 1988)
Dương Bích Liên quê phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).

Học hết bậc Trung học tại trường Bưởi, ông thi đỗ vào trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khoá tuyển sinh cuối cùng của trường này.

Năm 1946, ông rời Thủ đô lên Chiến khu Việt Bắc, công tác tại Báo Vệ quốc đoàn, tiền thân của Báo Quân đội Nhân dân ngày nay. Năm 1949, tại Chiến khu Việt Bắc, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời gian này, ông được gần gũi, có điều kiện sáng tác nhiều tác phẩm hội họa về Bác Hồ.

Hòa bình lập lại, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam, tham gia thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam đầu năm 1957.

Ông có nhiều tác phẩm giá trị về hình ảnh Bác Hồ, đặc biệt là tác phẩm “Bác Hồ đi công tác ở Việt Bắc” đã giành được giải A tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980 - một cuộc triển lãm lớn từ sau khi nước nhà được thống nhất.

Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật và nhiều Huân chương cao quý khác.

(Nguồn: 1- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia; 2- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Văn hoá)

5- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 1 (dự kiến đặt tên là Lý Thái Tông), điểm cuối là đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 2111m, rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: KINH DƯƠNG VƯƠNG

KINH DƯƠNG VƯƠNG
Theo truyền thuyết, Kinh Dương Vương là Tổ thứ nhất của dân tộc Việt Nam, Ngài huý danh Lộc Tục, xưng đế hiệu là Kinh Dương Vương, được tôn miếu hiệu là Hùng Vương đời thứ nhất. Đời thứ hai huý danh Sùng Lãm, đế hiệu là Lạc Long Quân… Quốc hiệu nước ta lúc ấy là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay).

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

III- KHU DÂN CƯ BẮC VÀ NAM PHAN BÁ PHIẾN (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà): 08 đường. Trong đó, 03 đường đặt tên danh nhân, 05 đường đặt tên địa danh Nam Thọ kèm theo số thứ tự. Nam Thọ, nguyên là tên làng được ghi trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), nay thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà. Hiện nơi đây còn ngôi đình làng Nam Thọ được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố.

1. Đoạn đường có điểm đầu là đường EC cũ đang thi công, điểm cuối là đường 5,5m: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 404m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: VŨ ĐÌNH LONG

VŨ ĐÌNH LONG (1896 -1960)
Vũ Đình Long quê ở thôn Mục Xá, xã Cao Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Ông làm việc ở Sở Học chánh Hà Nội, mở hiệu sách và Nhà xuất bản Tân Dân.

Năm 1936, ông thôi việc ở Sở Học chánh, chuyên lo việc xuất bản và viết cho các báo: Tiểu thuyết Thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Tạp san Tao Đàn, Tuần báo Thiếu nhi.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Hội Văn hoá cứu quốc. Năm 1954, ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Các tác phẩm chính của ông: “Chén thuốc độc”, “Toà án lương tâm”, “Đàn bà mới”, “Tổ quốc trên hết”, “Tây sương tân kịch”, “Công Tôn nữ Ngọc Dung”, “Tình trong khói lửa”, “Thờ nước”…

(Nguồn: 1- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá; 2- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)


2. Đoạn đường có điểm đầu là đường EC cũ đang thi công, điểm cuối là đường số 8 (dự kiến đặt tên Vũ Tông Phan): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 178m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NAM THỌ 1

3. Đoạn đường có điểm đầu là đường EC cũ đang thi công, điểm cuối là đường số 8 (dự kiến đặt tên Vũ Tông Phan): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 178m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NAM THỌ 2

4. Đoạn đường có điểm đầu là đường số 10 (đang thi công), điểm cuối là đường số 8 (dự kiến đặt tên Vũ Tông Phan):
Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 180m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NAM THỌ 3

5. Đoạn đường có điểm đầu là đường đang thi công, điểm cuối là đường số 8 (dự kiến đặt tên Vũ Tông Phan): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 180m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NAM THỌ 4

6. Đoạn đường có điểm đầu là đường đang thi công, điểm cuối là đường số 8 (dự kiến đặt tên Vũ Tông Phan): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 180m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NAM THỌ 5

7. Đoạn đường có điểm đầu là đường 10,5m đang thi công, điểm cuối cũng là đường số 10,5m đang thi công: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 250m, rộng 7,7m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,6m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: HỒ HỌC LÃM

HỒ HỌC LÃM (1884 - 1942)
Ông tên tự là Hinh Sơn, quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, là chí sĩ giàu lòng yêu nước. Năm 1908, ông sang Nhật trong cuộc vận động của phong trào Đông Du. Khi các học sinh của phong trào bị Nhật trục xuất, ông sang Trung Quốc học trường Võ bị Bắc Kinh.

Tại đây, ông một lòng hướng về tổ quốc, làm Uỷ viên huấn luyện của Việt Nam Quang Phục hội, thường xuyên liên lạc, đón tiếp các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Ông từ trần tại Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc) năm 1942.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

8. Đoạn đường có điểm đầu là đường số 1 (dự kiến đặt tên Vũ Đình Long), điểm cuối là đường số 7 (dự kiến đặt tên là Hồ Học Lãm): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 414m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: VŨ TÔNG PHAN

VŨ TÔNG PHAN (1800-1851)
Ông tên tự là Hoán Phủ, hiệu là Lỗ Am, biệt hiệu Đường Xuyên, quê xã Tự Tháp, huyện Thọ Xương, nay là quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Năm 1826, ông đậu Tiến sĩ, được bổ làm Tham hiệp tỉnh Thái Nguyên, rồi làm Đốc học tỉnh Bắc Ninh. Sau đó ông từ quan về nhà dạy học.

Tác phẩm của ông gồm có: “Tô Khê tùy bút”, “Lỗ an di cảo thi tập”, “Cổ văn hợp tuyển”, “Hoán phủ thi tập”, “Thăng Long cổ tích vịnh”, “Hoa đường chi tác” và nhiều tác phẩm khác.

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

IV- KHU DÂN CƯ TRUNG NGHĨA (phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu): 12 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là đường Tôn Đức Thắng: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 405m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN NHÀN

NGUYỄN NHÀN (1951 - 1970)
Ông còn có tên là Nguyễn Ánh, quê ở xã Hòa Đa, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng, tham gia cách mạng năm 1968. Khi hi sinh, ông là Đội trưởng Đội biệt động quận Nhì, thành phố Đà Nẵng (cũ), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trưởng thành từ chiến sĩ lên đội trưởng đội biệt động, ông đã tham gia và chỉ huy đơn vị đánh 27 trận trong thành phố Đà Nẵng. Dù ở cương vị nào ông cũng chiến đấu dũng cảm, mưu trí, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Năm 1970, bị địch bắt và tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ khí tiết cho đến hơi thở cuối cùng và được truy tặng Liệt sĩ.

Ông được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1995.

(Nguồn: Ban Tuyên giáo Thành ủy cung cấp)

2- Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là đường Tôn Đức Thắng: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 405m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3,5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: TÂN TRÀO

TÂN TRÀO
Tân Trào là địa danh thuộc tỉnh Tuyên Quang, nơi diễn ra sự kiện Đại hội Quốc dân, quyết định Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945.

Đại hội Quốc dân gồm đại biểu 3 xứ thuộc đủ các giới, các đoàn thể, các dân tộc, tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân. Đại hội tán thành quyết định tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức là Chính phủ lâm thời sau này) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

3- Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là đường số 10 (dự kiến đặt tên là Nguyễn Thái Bình): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 388m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: ĐỒNG KHỞI

ĐỒNG KHỞI
Đồng Khởi là tên gọi một phong trào nổi dậy của nhân dân Nam Bộ bắt nguồn từ tỉnh Bến Tre, trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Theo Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 về chấm dứt chiến tranh Việt - Pháp, sau hai năm, hai miền Nam - Bắc Việt Nam sẽ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Lúc đó, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam không thi hành Hiệp định đình chiến, lại đàn áp những người kháng chiến cũ. Trước tình hình đó, nhân dân huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre đã nổi dậy ngày 17.01.1960 chống lại Chính quyền Ngô Đình Diệm, mở màn cho phong trào Đồng Khởi diễn ra ở nhiều tỉnh ở miền Nam, tạo tiền đề cho việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Phong trào Đồng Khởi đã tạo khí thế cho cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam, đưa tới chiến thắng ngày 30.4.1975, thống nhất đất nước.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

4- Đoạn đường có điểm đầu là đường sắt thống nhất, điểm cuối là đường Tôn Đức Thắng: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 730m, rộng 15m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NAM TRÂN

NAM TRÂN (1907 - 1967)

Nam Trân, tên thật là Nguyễn Học Sĩ là một nhà thơ, quê làng Phú Thượng, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng từ năm 1945, làm Chánh Văn phòng Ủy ban kháng chiến hành chính Liên Khu V.

Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, công tác ở ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1957, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1959, ông về công tác tại Viện Văn học chuyên về dịch thuật, ông cũng là một trong những cán bộ giảng dạy lớp Đại học Hán Nôm đầu tiên ở miền Bắc do Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức. Ông mất tại Hà Nội vào ngày 21 tháng 12 năm 1967, thọ 60 tuổi.

Các tác phẩm chính của ông: “Huế, Đẹp và Thơ”, “Ca dao thi đua”, “Vườn hạnh phúc”.

Ông là người chủ trì dịch tập “Ngục trung nhật ký” của Bác Hồ, xuất bản lần đầu vào năm 1960. Ngoài ra, ông còn là người tuyển và tham gia dịch “Thơ Đường” (2 tập), “Thơ Tống”...

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

5- Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là Khu dân cư: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 690m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN ĐỖ CUNG (1912 - 1977)
Ông là con của danh sĩ và học giả nổi tiếng Nguyễn Đỗ Mục, quê ở làng Thư Trai, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông vừa sáng tác vừa tham gia hoạt động cách mạng và giữ các chức vụ: Uỷ viên Ban Thường vụ Hội Mỹ thuật Việt Nam. Viện trưởng Viện Mỹ thuật, là đại biểu Quốc hội khoá 1
Ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhất và Huân chương Kháng chiến hạng Ba.
Ông là một hoạ sĩ xuất sắc trong thế hệ Hoạ sĩ tạo hình đầu tiên của đất nước.
6- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 11 (dự kiến đặt tên là Nguyễn Mộng Tuân), điểm cuối là đường 10,5m đang thi công: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 360m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: ĐỖ NHUẬN

ĐỖ NHUẬN (1922- 1991)

Đỗ Nhuận quê ở huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương, là nhạc sĩ nổi tiếng với các ca khúc Du kích sông Thao, Việt Nam quê hương tôi. Tác phẩm Chiến thắng Điện Biên của ông được chọn làm đài hiệu của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Ông tham gia Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng tháng Tám. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông gia nhập quân đội, làm công tác văn nghệ. Sau năm 1954, ông về công tác tại Hà Nội, từng giữ chức Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật và nhiều Huân chương cao quý khác.

(Nguồn: 1- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá; 2- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

7- Đoạn đường có điểm đầu là Khu dân cư, điểm cuối là đường số 5 (dự kiến đặt tên là Nguyễn Đỗ Cung): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 550m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: TỐNG DUY TÂN

TỐNG DUY TÂN (1837 - 1892)
Tống Duy Tân quê ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Năm 1870, ông đỗ Cử nhân. Năm 1875, ông đỗ Tiến sĩ, lần lượt làm Tri huyện Vĩnh Tường, Đốc học Thanh Hóa, Án sát Sơn Tây, Chánh sứ Sơn phòng Thanh Hoá. Năm 1885, ông cùng con là Tống Nhữ Mai lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Sau đó, ông cùng với Đinh Công Tráng thành lập chiến khu Ba Đình làm căn cứ kháng chiến.

Sau khi chiến luỹ Ba Đình bị hạ vào năm 1887, ông chạy ra Bắc. Đến năm 1889, ông lại trở về Thanh Hóa lãnh đạo cuộc kháng chiến tại vùng Nông Cống. Hơn một năm, thế lực tan rã, quân kháng chiến bị quân Pháp tiêu diệt, ông bị bắt và bị hành hình tại Thanh Hóa.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

8- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 12 (dự kiến đặt tên Bình Giã), điểm cuối là đường số 7 (dự kiến đặt tên là Tống Duy Tân): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 625m, rộng 10,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: THANH TỊNH

THANH TỊNH (1911 - 1988)
Ông là thi sĩ, nhà văn, tên thật là Trần Văn Ninh (sau đổi thành Trần Thanh Tịnh), ngoài ra còn có các bút danh: Thinh Không, Thanh Thanh, Trịnh Thuần…

Ông quê ở làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc TP.Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế).

Tuổi trẻ ông học ở các trường Đông Ba, Pellerin (Huế), đậu bằng Thành Chung, rồi dạy học tại các trường Trung học tư thục Huế. Ông từng cộng tác với các báo và tạp chí ở Hà Nội như Phong Hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết Thứ Năm, Tinh Hoa…

Năm 1946, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, phụ trách Đoàn Kịch Quân đội ở Liên khu IV. Sau 1954, làm Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội cho đến khi về hưu.

Ông để lại nhiều tác phẩm thơ có giá trị như: Hận chiến trường (1937), Quê mẹ (1941), Chị và em (1942), Ngậm ngải tìm trầm (1943), Xuân và Sinh (1944), Những giọt mưa biển (1956), Đi giữa một mùa sen (1973)…

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

9- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 2 (dự kiến đặt tên là Tân Trào), điểm cuối là đường số 7 (dự kiến đặt tên là Đỗ Nhuận): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 560m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.

Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN VIẾT XUÂN

NGUYỄN VIẾT XUÂN (1934 - 1964)
Nguyễn Viết Xuân quê ở xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, là thiếu uý, Chính trị viên Đại đội pháo cao xạ, tham gia các trận đánh trả cuộc chiến phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ. Trong trận đánh ngày 18-11-1964 tại Quảng Bình, ông chỉ huy đơn vị bắn rơi 2 máy bay của địch. Trong trận chiến đấu này, ông bị thương nặng nhưng không rời trận địa, vẫn tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu với lời động viên nổi tiếng “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”.

Ông đã hy sinh vì vết thương quá nặng trong trận chiến đấu này, được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” năm 1967.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

10- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 2 (dự kiến đặt tên là Tân Trào) , điểm cuối là đường số 7 (dự kiến đặt tên là Tống Duy Tân): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 560m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN THÁI BÌNH

NGUYỄN THÁI BÌNH (1948 – 1972)
Nguyễn Thái Bình quê ở làng Trường Bình, nay thuộc Thị trấn Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ông học rất giỏi và được nhận học bổng sang Hoa Kỳ học tại Đại học Washington.

Tại đây, ông tham gia phong trào phản chiến của nhân dân tiến bộ Hoa Kỳ nên bị cắt học bổng; năm 1972, bị buộc phải về nước. Khi máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhứt, ông liền bị bọn tình báo Hoa Kỳ cùng đi trên chuyến bay hạ sát.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

11- Đoạn đường có điểm đầu là đường số 4 (dự kiến đặt tên là Nam Trân), điểm cuối là đường số 7 (dự kiến đặt tên là Tống Duy Tân): Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 355m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN MỘNG TUÂN

NGUYỄN MỘNG TUÂN (Thế kỷ XV)
Ông nguyên tự là Văn Nhược, hiệu là Cúc Pha, quê làng Vân Khuê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh. Khi giặc Minh sang xâm lược nước ta, ông lui về ở ẩn. Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đời Lê Thái Tông, ông làm Trung thư lịnh, rồi làm Đô uý. Đến đời Lê Nhân Tông, ông làm Tả nạp ngôn, Tri quân dân Bắc đạo rồi được phong Vinh Lộc đại phu. Ông là người nổi tiếng văn thơ. Thơ văn của ông được ghi trong Quần hiền phú, Việt Âm thi tập, Tinh tuyển chư gia thi tập, Cúc pha thi tập, Chí linh thi tập….

(Nguồn: 1- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia; 2- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Văn hoá)

12- Đoạn đường có điểm đầu là đường 15m đang thi công, điểm cuối là đường 10,5m đang thi công: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 210m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: BÌNH GIÃ

BÌNH GIÃ
Bình Giã là một địa danh thuộc huyện Long Khánh, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hoà (cũ), nay thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Nơi đây đã diễn ra chiến dịch Bình Giã vào cuối năm 1964 - đầu năm 1965. Bộ đội ta đã vận dụng linh hoạt phương pháp tác chiến chiến dịch, phát huy sức mạnh ba thứ quân, thực hiện tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn, từng chi đoàn thiết giáp của địch. Đây là những kinh nghiệm quý cho các chiến dịch tiếp sau, trong giai đoạn đánh phá chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

V- ĐƯỜNG 7,5m SONG SONG ĐƯỜNG 30 THÁNG 4 (phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu): 01 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu nối với đường 30 Tháng 4, điểm cuối là đường Lương Nhữ Hộc: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 1050m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4,5m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: Ỷ LAN NGUYÊN PHI

Ỷ LAN NGUYÊN PHI ( 1044 - 1117)
Ỷ Lan là người họ Lê, tục danh Lê Thị Khiết (thường quen gọi là Khiết Nương), quê làng Thổ Lỗi, nay là làng Thuận Quang, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Bà được vua Lý Thánh Tông chọn vào cung, lập làm Nguyên phi và đặt hiệu là Ỷ Lan Phu nhân.

Năm 1069, Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, Bà ở lại triều làm Giám Quốc. Năm 1073, Bà được phong làm Linh Nhân Hoàng hậu.

Năm 1117, Bà mất và làm lễ hoả táng, thờ tại Thọ Lăng, phủ Thiên Đức; Thuỵ Hiệu là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái hậu.

Miếu thờ Bà hiện còn ở hai xã Cẩm Đới và Cẩm Cầu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, và còn được gọi là Cung Quỳnh Hoa.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)

VI- KHU DÂN CƯ KHUÊ TRUNG - ĐÒ XU - HÒA CƯỜNG (phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu và phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ): 01 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường Núi Thành, điểm cuối là đường Nguyễn Hữu Thọ: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 1520m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: HỒ NGUYÊN TRỪNG

HỒ NGUYÊN TRỪNG (1374 - 1447)
Hồ Nguyên Trừng là con trưởng của Hồ Quý Ly, quê Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Âu, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Ông là nhà kỹ thuật quân sự nổi tiếng thời nhà Hồ.

Khi Hồ Quý Ly làm vua, Hồ Nguyên Trừng nhường chức Thái tử cho em là Hồ Hán Thương. Năm 1401, ông được phong Tả tướng quốc và trông coi việc chế tạo súng và đóng thuyền, chế tạo thành công súng thần cơ, đóng thuyền lớn hai tầng (tầng dưới để chèo thuyền, tầng trên chiến đấu). Năm 1405, khi nhà Minh chuẩn bị xâm lược nước ta, Hồ Nguyên Trừng thấy trước nguy cơ thất bại của nhà Hồ: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Năm 1407, khi quân Minh xâm lược, ông chỉ huy chiến đấu ở Giao Thủy (Xuân Thủy, Nam Hà) và cửa Hàm Tử. Tháng 6-1407, ông bị bắt ở cửa biển Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), rồi giải sang Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc).

(Nguồn: 1- Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh: Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, NXB Văn hóa - Thông tin; 2- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

VII- ĐƯỜNG VÀO TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN CẨM LỆ (phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ): 01 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường Cách mạng Tháng Tám, điểm cuối là Quốc lộ 1A: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 850m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 4m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: NGUYỄN VĂN HƯỞNG

NGUYỄN VĂN HƯỞNG (1910-1998)
Nguyễn Văn Hưởng quê làng Mỹ Chánh, huyện Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang).
Sau khi đỗ tú tài, ông học ngành y. Năm 1933, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa chuyên ngành vi trùng học.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông tham gia vào các hoạt động của giới trí thức Sài Gòn. Năm 1947, ông rời Sài Gòn lên chiến khu và được Chính phủ bổ nhiệm làm Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính kiêm Giám đốc Sở Y tế Nam Bộ về sau đổi tên Sở Quân dân y Nam Bộ.

Năm 1954, tập kết ra Bắc, ông được phân công làm Viện trưởng Viện Vi trùng học, Viện trưởng Viện Đông y và Chủ nhiệm bộ môn Y học dân tộc đầu tiên của Trường Đại học Y khoa. Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ cán bộ Đông y mà hiện nay đang giữ nhiều trọng trách trong ngành Y học cổ truyền. Năm 1969, ông là Bộ trưởng Bộ Y tế.

Ông được tuyên dương Anh hùng Lao động, phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân và được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ.

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

VIII- ĐƯỜNG CẠNH BỆNH VIỆN C17 (phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu): 01 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường Nguyễn Tri Phương, điểm cuối là khu dân cư: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 460m, rộng 7,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: ĐẶNG THUỲ TRÂM

ĐẶNG THUỲ TRÂM (1942 - 1970)
Đặng Thùy Trâm quê ở Hà Nội.

Tốt nghiệp Trường Đại học Y khoa năm 1966, Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm xung phong vào công tác tại chiến trường miền Nam, được phân công phụ trách Bệnh viện huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi). Với tất cả tấm lòng yêu thương, chí khí kiên cường, vượt qua mọi khó khăn thử thách, chị đã góp phần to lớn trong việc cứu chữa các thương binh, bệnh binh và để lại những tình cảm sâu sắc đối với các chiến sĩ. Ngày 27 - 9 - 1968, chị được kết nạp vào Đảng. Ngày 22 - 6 - 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh anh dũng lúc chưa đầy 28 tuổi đời.

Cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm (do Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam phát hành) đã ghi lại những hình ảnh của cuộc chiến tranh, tinh thần chiến đấu kiên cường, sự hy sinh anh dũng của quân đội và nhân dân ta đã gây xúc động mạnh mẽ tại Việt Nam, Hoa Kỳ và nhiều nước khác.

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

IX- ĐƯỜNG NỐI TỪ TRƯNG NỮ VƯƠNG SANG KHU DÂN CƯ SỐ 1 NGUYỄN TRI PHƯƠNG (phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu): 01 đường

1- Đoạn đường có điểm đầu là đường Trưng Nữ Vương, điểm cuối đường 10,5m chưa đặt tên: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 240m, rộng 5,5m; vỉa hè một bên rộng 3m.
Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.

Đề nghị đặt tên đường: TRƯNG NHỊ

TRƯNG NHỊ
Trưng Nhị và Trưng Trắc là hai chị em ruột, nhân dân ta thường gọi là Hai Bà Trưng.

Hai Bà là con gái của quan Lạc tướng huyện Mê Linh, thuộc dòng dõi vua Hùng. Trưng Trắc là chị, có chồng là Thi Sách - con trai Lạc tướng huyện Chu Diên, cũng là người yêu nước, có chí khí quật cường. Thi Sách bị viên quan đô hộ người Hán là Tô Định giết chết. Năm 40 sau công nguyên, Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phát động khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, quyết tâm "đền nợ nước, rửa thù nhà". Nhân dân khắp nơi cùng hưởng ứng. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền đô hộ bị sụp đổ. Trưng Trắc được suy tôn làm vua, gọi là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh (Vĩnh Phú). Trưng Nhị được phong mỹ hiệu là “Bình Khôi công chúa”, hay “Bình Khôi tướng quân” hoặc “Trưng nữ tướng quân”, giữ chức Chưởng quản toàn quân.

Đến năm 43, nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang tấn công. Hai Bà Trưng anh dũng chỉ huy nghĩa quân chống giặc, cuối cùng vì sức yếu, quân ta tan vỡ, Hai Bà đã trầm mình xuống sông Hát (Hà Tây cũ – nay thuộc thành phố Hà Nội) tự vẫn.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thể hiện ý chí bất khuất của người Việt nói chung và là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam nói riêng.

(Nguồn: Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá)