Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng

Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng được tiến hành sau 13 năm xây dựng và phát triển, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

­ĐOÀN KẾT, ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ, TIẾP TỤC XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, XỨNG ĐÁNG LÀ TRUNG TÂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA MIỀN TRUNG

(Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đà Nẵng khóa XIX trình Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố)

Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng được tiến hành sau 13 năm xây dựng và phát triển, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2005-2010); quyết định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng thành phố giai đoạn 2010 - 2015, tạo nền tảng để xây dựng thành phố cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020; thảo luận, đóng góp ý kiến vào các Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng; bầu BCH Đảng bộ thành phố và bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đại hội được Bộ Chính trị chọn thực hiện thí điểm chủ trương trực tiếp bầu bí thư Thành ủy, nhiệm kỳ 2010 - 2015. 

5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX (2005-2010), kinh tế-xã hội thành phố phát triển, chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế mở rộng, vị thế thành phố được nâng cao

5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX (2005-2010), kinh tế-xã hội thành phố phát triển, chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế mở rộng, vị thế thành phố được nâng cao

Với nhiệm vụ nêu trên, Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với chặng đường phát triển mới của thành phố trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI.

Phần thứ nhất: KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIX (2005 – 2010)

Năm năm qua, sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng; kinh tế-xã hội thành phố phát triển, chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế mở rộng, vị thế thành phố được nâng cao, tạo thế và lực mới cho thành phố đẩy mạnh phát triển và hội nhập.

Tuy nhiên, tình hình thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp; nhiều thách thức mới nảy sinh trong quá trình phát triển; đặc biệt, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, gây khó khăn lớn đối với phát triển kinh tế và đời sống nhân dân thành phố.

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, quân và dân thành phố đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội X của Đảng và Đại hội XIX Đảng bộ thành phố đề ra; đạt được những kết quả to lớn, tương đối toàn diện trên các mặt, nhưng cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần được khắc phục.

A- THÀNH TỰU VÀ NGUYÊN NHÂN

I. Về phát triển kinh tế và hạ tầng kỹ thuật đô thị

1. Kinh tế phát triển tương đối toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng khá; hiệu quả và sức cạnh tranh được nâng lên

Tổng sản phẩm nội địa (GDP) ước tăng bình quân 11%/năm. GDP bình quân đầu người nâng lên rõ rệt, năm 2010 ước đạt 33,2 triệu đồng (2.015 USD (1)), gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung cả nước(2).

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp-nông nghiệp, phù hợp với Nghị Quyết Đại hội XIX và Nghị Quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2010 ước đạt 50,5%; công nghiệp-xây dựng: 46,5% và nông nghiệp: 3,0% (3). Cơ cấu lao động chuyển biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản-nông-lâm) ước còn 9,6%, lao động công nghiệp: 35,1%, dịch vụ: 55,3%.

Các ngành dịch vụ phát triển mạnh về quy mô và đa dạng về loại hình, đạt tốc độ tăng trưởng 15,6%/năm (4), góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của kinh tế thành phố. Hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch được đầu tư đồng bộ, hoàn thiện và đưa vào sử dụng các cơ sở du lịch lớn, góp phần nâng dần sức hấp dẫn, từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng (5). Hạ tầng thương mại được đầu tư đồng bộ, hiện đại với 24 Trung tâm thương mại và siêu thị, 88 chợ các loại theo hướng văn minh, lịch sự, an toàn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 21,1%/năm.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20%/năm (6). Các dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng, vận tải, tư vấn, bưu chính, viễn thông, y tế, đào tạo... phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất, đời sống và hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống ngân hàng được mở rộng với 54 chi nhánh, tổ chức tín dụng và 193 phòng giao dịch, chi nhánh giao dịch, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông phát triển cao; đến cuối năm 2009, thành phố có 266 điểm phục vụ bưu chính công cộng; mật độ điện thoại cố định đạt 26 máy/100 dân; thuê bao internet ước đạt 13,3 thuê bao/100 dân; 100% thôn có dịch vụ Internet. Hoạt động vận tải phát triển khá, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa, với chất lượng phương tiện và dịch vụ ngày càng cao.

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,1%/năm (7); sản phẩm phong phú, đa dạng; tỷ trọng chế biến, chế tác trong sản phẩm được nâng lên; các sản phẩm chủ lực được đầu tư phát triển; một số ngành đạt tốc độ tăng trưởng cao, như sản xuất vật liệu kim loại, phi kim loại, điện-điện tử, hóa chất... Thành phố đã rà soát, điều chỉnh quy hoạch các khu công nghiệp; tích cực di dời, xử lý các cơ sở sản xuất cũ, từ chối các dự án mới có thể gây ô nhiễm môi trường; hạ tầng 6 khu công nghiệp được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh, diện tích hơn 1.576ha, thu hút trên 349 dự án, vốn đăng ký của các dự án đầu tư nước ngoài trong khu công nghiệp ước đạt 618 triệu USD và hơn 9,6 nghìn tỷ đồng.

Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng theo hướng tăng dần giá trị chế biến, giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu GDP. Chăn nuôi từng bước được tổ chức lại theo phương thức tập trung, với quy mô hợp lý. Chú trọng công tác quản lý, bảo vệ rừng, kiểm tra, phòng chống chặt phá rừng; tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2010 đạt 41%; đã hoàn thành quy hoạch 3 loại rừng với tổng diện tích đất lâm nghiệp là 60.988,7ha. Diện mạo nông thôn đổi thay rõ rệt; các hình thức dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn được khuyến khích phát triển mạnh; hệ thống điện, đường, trường, trạm được đầu tư khá đồng bộ; cơ bản đã bê-tông hóa đường giao thông, 100% số hộ có điện sinh hoạt, hơn 83% số hộ được dùng nước sạch. Đời sống nông dân được cải  thiện đáng kể; nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn phát huy hiệu quả.

Kinh tế biển phát triển, đóng góp ngày càng lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của thành phố. Nhận thức về vai trò và tiềm năng của kinh tế biển ngày càng đầy đủ hơn, gắn với bảo vệ an ninh và chủ quyền trên biển. Thủy sản được quan tâm đầu tư cả đánh bắt, nuôi trồng và chế biến. Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng bình quân 8,2%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng 11% - 12%/năm; tỷ trọng so với toàn ngành nông nghiệp tăng từ 61% năm 2006 lên 66% năm 2010.

Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ kinh tế biển, như cảng biển, khu công nghiệp dịch vụ chế biến thủy sản, cảng cá, âu thuyền trú bão, các khu du lịch cao cấp, resort, các tuyến đường ven biển... được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới theo hướng hiện đại và đưa vào sử dụng, đáp ứng tốt cho yêu cầu phát triển kinh tế biển. Cảng Đà Nẵng tổ chức lại sản xuất theo hướng văn minh, hiện đại; đẩy mạnh khai thác nguồn hàng; tổ chức tốt dịch vụ cảng, dịch vụ hàng hải, vận tải biển, hậu cần logistics, nâng sản lượng xếp dỡ lên 5 triệu tấn/năm, từng bước vươn lên khẳng định vai trò cảng biển lớn trong khu vực (8).

Quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng đến nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới; chủ động thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của thành phố đối với khu vực và thế giới. Các hoạt động hữu nghị, giao lưu, đối ngoại nhân dân được đẩy mạnh. Đến giữa năm 2010, thành phố có 175 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 2,69 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện ước đạt 1,36 tỷ USD, chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư, góp phần tăng cường nguồn lực tài chính cho các nhu cầu phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Chủ động, tích cực hợp tác, liên kết với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và một số địa phương khác về xây dựng mạng lưới giao thông liên vùng, du lịch, giáo dục, y tế... để phát triển kinh tế-xã hội thành phố. 

Trong giai đoạn cả nước chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới, thành phố đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp cấp bách và đã đạt được mục tiêu ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

2. Phát triển khá nhanh và đồng bộ kết cấu hạ tầng; tăng cường quản lý đô thị, tạo chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

Trong nhiệm kỳ qua, chủ trương xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị tiếp tục được đầu tư phát triển đồng bộ. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhất là về giao thông, thông tin liên lạc, cấp điện, cấp thoát nước, thu gom và xử lý rác thải, nước thải... phát triển mạnh. Nhiều công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp; nhiều khu đô thị có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, được khởi công xây dựng, hoàn thành, đưa vào sử dụng, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, cải tạo môi trường, cải thiện chất lượng sống của nhân dân và tạo diện mạo mới cho thành phố (9). Trong 5 năm qua (2006-2010), thành phố đã bố trí tái định cư khoảng 18.340 lô; thực hiện công tác đền bù, giải tỏa, tái định cư cho nhân dân đúng chính sách, chế độ và tiến độ các công trình.

Hưởng ứng chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhân dân đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng và hàng chục ngàn mét vuông đất để triển khai các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đến nay, hầu hết các kiệt hẻm đã được bê-tông hóa và có điện chiếu sáng công cộng. Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản được chú trọng, đầu tư có trọng điểm, phù hợp với quy hoạch. Công tác chuẩn bị đầu tư, thẩm định dự án, quản lý chất lượng công trình thực hiện tốt.

Tiếp tục nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch; hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố, quận, huyện, một số ngành và quy hoạch không gian đô thị đến năm 2020, điều chỉnh đến năm 2025; triển khai phủ kín quy hoạch chi tiết 1/500 toàn địa bàn; lập quy hoạch chiều cao và thoát nước toàn thành phố; tổ chức khớp nối quy hoạch đúng hệ tọa độ quốc gia; gắn kết quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội với quy hoạch phát triển đô thị. Không gian đô thị được mở rộng đáng kể, tỷ lệ dân cư thành thị chiếm 86,83%.

Tăng cường công tác quản lý trật tự đô thị; ý thức chấp hành pháp luật về xây dựng từng bước được nâng cao; hạn chế tình trạng xây dựng trái phép tại các khu đô thị, khu dân cư. Các dịch vụ đô thị được cải thiện, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Hệ thống chiếu sáng, vườn hoa, cây xanh được tăng cường; quan tâm quản lý kiến trúc đô thị, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm về quy hoạch; trật tự, mỹ quan đường phố, vỉa hè, lòng đường, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường... có chuyển biến bước đầu.

Công tác bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên, nhất là quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, mặt nước được tăng cường. Thành phố đã tập trung giải quyết cơ bản các “điểm nóng” về môi trường; xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, xây dựng và cải thiện hệ thống xử lý nước thải ở các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất. Tích cực vận động và đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, các hoạt động cung ứng dịch vụ vệ sinh, môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Tập trung triển khai thực hiện Đề án xây dựng thành phố Đà Nẵng - thành phố môi trường nhằm hướng đến mục tiêu năm 2020 Đà Nẵng trở thành thành phố môi trường.

3. Thực hiện cơ chế, chính sách linh hoạt; tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nguồn lực cho phát triển

Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ban hành nhiều chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư; triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư; 3 năm liên tiếp (2005, 2006, 2007) đứng nhì và 2 năm 2008, 2009 được công nhận dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Đến giữa năm 2010, thành phố có trên 12.813 doanh nghiệp dân doanh, tổng vốn đăng ký đạt 35 ngàn tỷ đồng, góp phần tăng cường nguồn lực tài chính cho các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội thành phố.

Công tác quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, góp phần thực hiện tốt các mục tiêu phát triển. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 12,8%/năm, năm 2010 tăng gấp 1,5 lần so với năm 2006 (10). Tổng chi ngân sách địa phương tăng 11,1%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 6,4%/năm, chi thường xuyên tăng 18,8%/năm.

Cơ cấu đầu tư chuyển dịch tương đồng với thực tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tỷ trọng đầu tư dự kiến năm 2010 so với năm 2006, nhóm ngành dịch vụ giảm từ 62,7% xuống còn 60,2%; công nghiệp tăng từ 34,9% lên 38%; nông nghiệp giảm từ 2,4% xuống còn 1,8%. Hệ số ICOR đạt 3,6, phù hợp với thực tế đầu tư trong những năm qua. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước tăng 18,3%/năm, chiếm 64,7% GDP; đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 3,6%/năm.

Các thành phần kinh tế phát triển lành mạnh; cơ cấu thành phần kinh tế chuyển biến tích cực, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo (11). Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp được chú trọng và đã cơ bản hoàn thành cả về mục tiêu và nội dung một cách toàn diện. Kinh tế tập thể phát triển mạnh trong các lĩnh vực công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải, nông nghiệp... Kinh tế trang trại phát triển theo hướng đầu tư thâm canh, mở rộng quy mô, chú trọng chất lượng, hiệu quả. Đã xử lý dứt điểm những hợp tác xã không còn khả năng chuyển đổi mô hình hoạt động, không còn những hợp tác xã chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Khu vực kinh tế dân doanh phát triển mạnh, cùng với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế thành phố. Vai trò quản lý nhà nước về kinh tế có tiến bộ trên nhiều mặt.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được vận dụng thực hiện có hiệu quả; các thị trường cơ bản (hàng hóa - dịch vụ, tài chính, bất động sản, sức lao động, khoa học và công nghệ...) có bước phát triển.

II. Về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội

Lĩnh vực giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ và văn hóa-xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; chủ trương gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội thực hiện có kết quả.

Giáo dục và đào tạo được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng. Mạng lưới trường, lớp các ngành học, bậc học không ngừng mở rộng; cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm. 100% phường, xã duy trì chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và trung học cơ sở đúng độ tuổi; 94,64% phường, xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học. Toàn thành phố có 25 (21%) trường mầm non, 66 (64,7%) trường tiểu học, 10 (19,2%) trường THCS và 03 (15%) trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục, đào tạo cải thiện đáng kể, thành tích các kỳ thi quốc gia và quốc tế nâng cao qua từng năm. Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng tăng (12). Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; củng cố các trung tâm giáo dục thường xuyên; khuyến khích và tạo điều kiện cho các hoạt động khuyến học, khuyến tài, giáo dục hướng nghiệp, đào tạo nghề phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố. Tỷ lệ lao động qua đào tạo được nâng cao, đến cuối năm 2009 ước đạt 50%.

Đại học Đà Nẵng, với 7 trường thành viên và phân hiệu trực thuộc, không ngừng lớn mạnh, từng bước khẳng định vai trò của một đại học vùng, một trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Đại học Đà Nẵng cùng với Học viện Chính trị - Hành chính khu vực 3 và 5 trường Đại học, 10 trường Cao đẳng, 48 cơ sở dạy nghề và các Viện nghiên cứu chuyên ngành, với đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao trên địa bàn, ngày càng khẳng định vai trò, vị trí  Đà Nẵng là trung tâm giáo dục-đào tạo lớn của khu vực miền Trung-Tây Nguyên và cả nước.  

Hoạt động khoa học và công nghệ có chuyển biến tích cực và đúng hướng;  nguồn lực về khoa học và công nghệ được đầu tư tăng cường; ưu tiên nghiên cứu triển khai các đề tài khoa học có khả năng ứng dụng thực tế cao. Một số lĩnh vực công nghệ cao, như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học... được chú trọng đầu tư và phát triển khá; việc triển khai ứng dụng và chuyển giao công nghệ có tiến bộ. Công tác quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ, về tiêu chuẩn, đo lường chất lượng, về an toàn và bức xạ có bước tiến đáng kể. Khoa học xã hội và nhân văn có nhiều đóng góp quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách phát triển thành phố.

Đời sống văn hóa của nhân dân được nâng lên. Thành phố chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể; đầu tư xây dựng nhiều công trình văn hóa lớn (13); nghiên cứu, phục dựng một số lễ hội dân gian; phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Hệ thống các thiết chế văn hóa được củng cố và tăng cường, góp phần tạo nền tảng tinh thần, động lực mới cho phát triển. Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu. Hoạt động văn học-nghệ thuật có nhiều chuyển biến tích cực; báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình tiếp tục phát triển, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và đóng góp tích cực vào việc nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân thành phố.

Phong trào thể dục-thể thao quần chúng phát triển trên diện rộng. Thể thao thành tích cao đạt nhiều thành tích mới (14); mùa giải 2008-2009, đội bóng đá SHB Đà Nẵng đoạt giải vô địch quốc gia và cúp quốc gia.

Các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, gắn với từng bước thực hiện công bằng xã hội, tạo chuyển biến rõ nét trong việc giải quyết những vấn đề trọng tâm, bức xúc. Ngoài ngân sách do Trung ương cấp mỗi năm gần 200 tỷ đồng, thành phố đã trích ngân sách địa phương để hỗ trợ cải thiện nhà ở; tăng định mức hỗ trợ trong dịp lễ, Tết cho các đối tượng chính sách; cấp bù đủ 500.000 đồng/tháng để phụng dưỡng Mẹ VNAH; giải quyết kịp thời các chế độ trợ cấp đột xuất, thường xuyên cho các đối tượng xã hội. Nhiều chính sách an sinh xã hội mang đậm tính nhân văn được triển khai thực hiện và đạt kết quả tốt (15). Phong trào đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ VNAH, xây nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm, cùng với các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện phát triển rộng khắp.

Chương trình “5 không” cơ bản hoàn thành, được duy trì thực hiện và phát huy kết quả đạt được. Mục tiêu không có hộ đói được thực hiện đồng thời với mục tiêu giảm nghèo, thành phố không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,7% cuối năm 2006 ước còn 0% cuối năm 2010 (chuẩn Quốc gia) và từ 7,67% cuối năm 2006 ước còn 0,77% cuối năm 2010 (chuẩn cũ của thành phố). Từ năm 2009, mục tiêu “không có hộ đói” và “không có người mù chữ” được điều chỉnh thành “không có hộ đặc biệt nghèo” và “không có học sinh bỏ học”.

Hằng năm, giải quyết việc làm mới cho 3,24 vạn người; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 4,9%. Chương trình “3 có” đạt một số kết quả tích cực. Đã cơ bản hoàn thành “xóa nhà tạm” cho hộ nghèo có đất ở ổn định; đồng thời tích cực triển khai thực hiện Chương trình xây dựng 7.000 căn hộ chung cư cho người thu nhập thấp và xây dựng ký túc xá cho học sinh, sinh viên. Công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội thực hiện có hiệu quả. Mô hình xây dựng cụm dân cư, phường, xã không có tội phạm ma túy và tệ nạn xã hội được triển khai nhân rộng.

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, đến cuối năm 2007, 100% phường, xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đến năm 2010, ước đạt 8,2 bác sĩ, 44,25 giường bệnh/10.000 dân; 100% xã, phường có trạm y tế, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh, y tá, điều dưỡng. Hệ thống y tế tư nhân, dịch vụ y tế chuyên sâu, chất lượng cao có bước phát triển. Quyền lợi của người khám và chữa bệnh BHYT được bảo đảm. Công tác tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình đạt nhiều kết quả quan trọng.

Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được quan tâm triển khai thực hiện, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, hỗ trợ thiết thực (16). Công tác xây dựng gia đình; phòng, chống bạo lực gia đình; thực hiện bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ có chuyển biến tích cực. Hoạt động tôn giáo, đời sống tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng phù hợp với chính sách tôn giáo của Nhà nước. Công tác dân tộc được đẩy mạnh, đã tổ chức thành công Đại hội các dân tộc thiểu số; chăm lo cải thiện đời sống các hộ gia đình đồng bào dân tộc đặc biệt nghèo; sửa chữa, xây dựng cầu cống, đường giao thông đến các vùng miền núi...

III. Về quốc phòng, an ninh và cải cách tư pháp

Công tác quốc phòng và quân sự địa phương được tăng cường chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả. Củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Hoàn thành xây dựng các công trình quốc phòng, các khu vực phòng thủ theo kế hoạch. 100% phường, xã, quận, huyện và thành phố tổ chức diễn tập cơ chế đạt kết quả tốt. Thực hiện có hiệu quả chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, nhất là trong xây dựng, thực hiện các quy hoạch, dự án đầu tư. Công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh được triển khai sâu rộng. Chỉ tiêu tuyển chọn, gọi thanh niên nhập ngũ hoàn thành 100% với chất lượng tốt. Thực hiện nghiêm túc công tác đăng ký, quản lý lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ và công tác hậu phương quân đội. Các lực lượng vũ trang, các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn phối hợp làm tốt công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị, giữ vững ổn định từ cơ sở.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm có chuyển biến tốt. Giải quyết có hiệu quả các vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, khiếu kiện đông người, các vụ đình công, lãn công, gây rối; bảo vệ an toàn các mục tiêu trọng điểm về an ninh quốc gia. Tăng cường lực lượng và biện pháp quản lý về trật tự xã hội, quản lý nhân khẩu chặt chẽ, đúng quy định. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng; kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông cả về số vụ tai nạn, số người chết và bị thương.

Tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với vùng biển và huyện đảo Hoàng Sa; ngăn chặn có hiệu quả các hành động xâm phạm chủ quyền vùng biển. Bộ đội biên phòng thành phố phát huy tốt vai trò nòng cốt, chuyên trách trong xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh trật tự khu vực biên giới biển thành phố.

Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng lực lượng quân đội, công an, biên phòng thành phố vững mạnh, nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. 

Công tác nội chính và cải cách tư pháp được tập trung thực hiện, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Đã thực hiện tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án cấp quận, huyện đi đôi với củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và các hoạt động tố tụng, nhất là tranh tụng tại tòa; xã hội hóa hoạt động công chứng. Chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân; củng cố, kiện toàn các cơ quan tư pháp và các tổ chức bổ trợ tư pháp. Quan tâm thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu kiện của công dân.

IV. Phát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân

Pháp lệnh dân chủ và Quy chế dân chủ được chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc ở các loại hình cơ sở; hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được áp dụng rộng rãi, đã đem lại kết quả tích cực. Đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chương trình hành động về xây dựng giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, thanh niên, công tác dân tộc, tôn giáo... gắn với việc cụ thể hóa, đưa chủ trương, chính sách của Đảng đi vào cuộc sống. Thường xuyên tổ chức tiếp xúc, đối thoại với các giới, các ngành để nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ và quyền dân chủ của nhân dân; tính chủ động, sáng tạo và tính tích cực của nhân dân được phát huy; đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường.

 Xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh; phát huy hiệu lực, hiệu quả trong lãnh đạo, điều hành. Tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII đơn vị thành phố. Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố có nhiều cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động. Vai trò của HĐND thành phố được phát huy. Việc triển khai thực hiện chủ trương thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường đạt kết quả tích cực (17). Thành phố đã tiến hành điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập quận Cẩm Lệ và 9 phường mới, đồng thời tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố hợp lý hơn, hiện còn 18 sở, ngành, 14 chi cục và tương đương. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chính quyền từng bước nâng lên. 

Cải cách hành chính giai đoạn 2005-2010 có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được kết quả rõ nét trên những lĩnh vực liên quan đến dân sinh và đơn giản hóa thủ tục hành chính (18), góp phần đưa thành phố trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2008, 2009. Việc thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” ở cả 3 cấp từ phường, xã đến sở, ngành đạt kết quả bước đầu, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tạo thuận lợi cho nhân dân trong các quan hệ dân sinh.

Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa X về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm được tập trung chỉ đạo, gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng chống tham nhũng, lãng phí, gắn với quán triệt và thực hiện nghêm túc các quy định của luật pháp về minh bạch tài sản và thu nhập; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra...

Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; có nhiều hình thức phù hợp trong việc vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, góp phần thiết thực phát triển kinh tế-xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, phát huy vai trò nòng cốt trong việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận xã hội trong các tầng lớp nhân dân; phát huy vai trò là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng và chính quyền các cấp.

V. Xây dựng Đảng và thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị, coi trọng đổi mới nội dung, hình thức và phương thức hoạt động để nâng cao chất lượng, hiệu quả. Chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước gắn với đẩy mạnh công tác tuyên truyền định hướng dư luận xã hội, thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ thành phố, kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị quan trọng, góp phần tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội. Coi trọng nhiệm vụ giáo dục đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đấu tranh chống các quan điểm sai trái; âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, khoa giáo. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ các cấp, lịch sử ngành gắn với đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống cách mạng và địa phương.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân thành phố. Cuộc vận động đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng về ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; có tác dụng tích cực đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của các đơn vị, địa phương.

Qua học tập và triển khai sâu rộng Cuộc vận động, đã tạo được những chuyển biến tích cực về tư tưởng, có nhiều mô hình hay, cách làm mới, sáng tạo về xây dựng Đảng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí; xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở các cấp, các ngành (19), góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Công tác cán bộ được quan tâm chỉ đạo với nhiều cách làm mới, có tính  đột phá và đạt được kết quả tích cực, như thí điểm thi tuyển để bổ nhiệm chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý; triển khai các Đề án đào tạo cán bộ để chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cao cho thành phố (20); mô hình tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ Cán bộ trẻ, Trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bước đầu có hiệu quả. Nhiều chủ trương, giải pháp lớn về công tác cán bộ của Trung ương được cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả; công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ thực hiện đúng các quy định, đặc biệt đã chú trọng bổ nhiệm cán bộ trẻ, cán bộ nữ (21) và thực hiện nghiêm túc chủ trương thí điểm Bí thư Đảng ủy đồng thời là chủ tịch UBND cùng cấp.

Hằng năm cử trên 300 lượt cán bộ, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Việc đánh giá cán bộ được tiến hành công khai, khách quan; coi trọng hiệu quả công việc của cán bộ; đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Chủ trương thu hút nhân tài thực hiện đạt kết quả tích cực; đến nay, thành phố đã thu hút được 711 đối tượng, trong đó có 1 phó giáo sư, 5 tiến sĩ và 112 thạc sĩ về công tác lâu dài tại thành phố. 

Chú trọng sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Củng cố các cơ quan tham mưu giúp việc của Thành uỷ và các đảng ủy trực thuộc; thành lập mới Đảng bộ các Khu Công nghiệp; ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở phường, xã và dưới phường, xã (22).

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đảng viên được tiến hành thường xuyên, đạt được nhiều kết quả tích cực; các cơ sở yếu kém được tập trung củng cố, kiện toàn; chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng lên; vai trò của bí thư chi bộ và cấp ủy được coi trọng. Qua đánh giá, phân loại hằng năm, có gần 78% tổng số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó có 18% đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; 99,5% tổng số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có 10% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, mỗi năm phát triển được 1.800 đảng viên mới, bảo đảm yêu cầu về chất lượng. Hơn 97,7% đảng viên đang công tác được giới thiệu tham gia sinh hoạt với cấp uỷ nơi cư trú. Cơ sở dữ liệu đảng viên được cập nhật thường xuyên và khai thác, sử dụng có hiệu quả.
Thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần bảo vệ Đảng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ và phát triển đảng viên mới.

Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp được tăng cường, nhất là kiểm tra việc chấp hành chủ trương, nghị quyết, Điều lệ Đảng; chính sách về quản lý tài chính, tài sản của cấp ủy Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm. Tổ chức quán triệt nghiêm túc các nghị quyết, quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và các hướng dẫn thực hiện của UBKT Trung ương. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các cuộc kiểm tra theo kế hoạch của Trung ương và Thành ủy; kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm và tổ chức Đảng cấp dưới về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, khiếu nại; xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên sai phạm, được dư luận đồng tình.

Công tác dân vận được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện và đạt nhiều kết quả cụ thể. Các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương về công tác dân vận được quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đã góp phần củng cố sự đồng thuận xã hội; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ có nhiều đổi mới theo hướng vừa nâng cao năng lực đề ra chủ trương, vừa tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện; chú trọng các khâu trọng tâm, trọng điểm và các giải pháp đột phá để thực hiện thắng lợi chủ trương đã đề ra. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đi đôi với phát huy trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Phong cách, lề lối làm việc được cải tiến theo hướng sâu sát cơ sở, tăng cường các hình thức đối thoại với nhân dân, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm cá nhân và vai trò người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, xử lý các công việc được giao.

VI. Nguyên nhân thành tựu:

Một là, Đảng bộ luôn phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đề ra được nhiều chủ trương, chính sách phù hợp; tạo được nhiều nguồn lực cho sự phát triển thành phố.

Hai là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy, chính quyền ngày càng được nâng cao; những chủ trương đầu tư phát triển đúng hướng và những kinh nghiệm lãnh đạo, điều hành trong nhiều năm trước đã được tổng kết, phát huy trong nhiệm kỳ qua, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của kinh tế thành phố; nâng cao hiệu quả lãnh đạo, điều hành của các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đề ra.

Ba là, đường lối đổi mới của Đảng; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương; sự phối hợp, hỗ trợ của các bộ, ban, ngành và Quân khu 5; cùng với nhiều chủ trương, chính sách mới ban hành, phù hợp thực tiễn, có tác dụng giải phóng sức sản xuất, khai thác các tiềm năng, thúc đẩy và tạo thuận lợi cho thành phố đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội.

B. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, yếu kém

Kinh tế tăng trưởng khá, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố; quy mô còn nhỏ, tích lũy còn hạn chế; sức cạnh tranh và hiệu quả trên một số lĩnh vực còn thấp. Công nghiệp chủ yếu vẫn là gia công, sơ chế, giá trị gia tăng thấp. Các ngành du lịch, dịch vụ chưa phát huy được vai trò mũi nhọn; chưa hình thành các ngành công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, ngang tầm khu vực và quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế chuyển biến chậm. Công nghiệp phụ trợ phát triển chậm; sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng còn ít. Nguồn thu ngân sách tăng nhanh, nhưng chưa thật vững chắc. Kinh tế biển chưa được đầu tư, khai thác hợp lý; công tác phối hợp liên ngành trong kinh tế biển còn hạn chế; chưa phát huy tốt vai trò thành phố cảng biển, đầu mối trung chuyển, quá cảnh, giao lưu hàng hóa của khu vực miền Trung-Tây Nguyên.

Tiến độ triển khai thực hiện các công trình, dự án do Trung ương quản lý trên địa bàn còn chậm (23). Chất lượng xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển một số ngành, lĩnh vực còn yếu; công tác quản lý đô thị vẫn còn những mặt bất cập; còn để xảy ra những “điểm nóng” về môi trường. Các thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế dân doanh, kinh tế tập thể chưa được quan tâm, tạo điều kiện phát triển đúng mức.

Lĩnh vực văn hóa-xã hội có mặt còn bức xúc do chưa được quan tâm đầu tư đúng mức; đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn khó khăn. Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa (tổ chức biểu diễn, lễ hội, xuất bản, văn hóa phẩm, các dịch vụ vui chơi giải trí, internet...) có mặt còn buông lỏng. Giáo dục và đào tạo chưa chú trọng chất lượng toàn diện; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học - công nghệ chưa gắn chặt với sản xuất, đời sống; tỷ lệ đổi mới, ứng dụng công nghệ hiện đại trong các ngành kinh tế, các doanh nghiệp còn thấp. Chủ trương xã hội hóa, đổi mới quản lý trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục-thể thao triển khai chưa đồng bộ, kết quả còn hạn chế. Văn minh đô thị chuyển biến chậm, có mặt còn bức xúc.

Công tác quốc phòng, an ninh, nhất là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân chưa thật vững chắc, xây dựng khu vực phòng thủ chưa đáp ứng yêu cầu. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều nhân tố phức tạp.

Công tác xây dựng chính quyền, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện của một số cơ quan chính quyền còn bất cập so với yêu cầu. Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc trên một số lĩnh vực còn chậm, một số thủ tục phiền hà chưa được loại bỏ hẳn. Một bộ phận cán bộ, công chức chưa năng động, thiếu tính chuyên nghiệp. Hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm chưa cao.

Công tác dân vận, hoạt động của mặt trận, đoàn thể tuy có nhiều cố gắng nhưng chất lượng, hiệu quả chưa được nâng cao tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; việc tập hợp, xây dựng lực lượng nòng cốt ở cơ sở còn yếu.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số tổ chức đảng, cấp ủy đảng chưa được chú trọng đúng mức; lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ then chốt. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng thiếu chủ động, sắc bén; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp chưa được quan tâm củng cố thường xuyên. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thật sự đi vào chiều sâu; chuyển biến “làm theo” chưa đồng đều, một số nơi hiệu quả thực hiện còn thấp.

Việc đổi mới công tác cán bộ chưa toàn diện và còn chậm so với đổi mới kinh tế-xã hội thành phố; thiếu cơ chế, chính sách cụ thể, đồng bộ để thật sự phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí cán bộ. Một số tổ chức đảng ở khu dân cư chưa phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị. Phần lớn các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức đảng (99,47%). Công tác phát triển đảng viên ở địa bàn khu dân cư, trong doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được quan tâm chỉ đạo đúng mức. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chưa thường xuyên. Một số cấp ủy chưa thật sự coi trọng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

2. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém 

Một là, việc tổ chức học tập, quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng chưa sâu, tổ chức thực hiện chưa tốt; công tác phối hợp, chỉ đạo, điều hành giữa các cấp, các ngành và địa phương đôi khi thiếu đồng bộ. Tính năng động, sáng tạo của cơ sở chưa được phát huy tốt. Mặt khác, trên một số lĩnh vực, còn thiếu những cơ chế, chính sách và giải pháp đủ mạnh, tạo thêm động lực để phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của thành phố cho đầu tư phát triển.

Hai là, công tác xây dựng Đảng, cải cách hành chính, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là công tác tổ chức cán bộ chưa thật sự đáp ứng yêu cầu; phân công, phân cấp chưa triệt để; phương thức hoạt động của một số cấp uỷ còn lúng túng; vai trò của mặt trận, đoàn thể chưa được phát huy đầy đủ. Tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức các cấp vẫn còn bất cập.

Ba là, ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng tài chính suy giảm kinh tế và sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, cùng với nhiều vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh trong quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, tổ chức, nhưng chưa kịp thời nghiên cứu, tổng kết, đề ra các chủ trương, quyết sách phù hợp.

C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Nhìn tổng quát, 5 năm qua, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tình hình thiên tai, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp; khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu tác động nặng nề, nhưng Đảng bộ, quân và dân thành phố đã nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện, đạt và vượt 9/11 chỉ tiêu chủ yếu do Đại hội XIX đề ra và Hội nghị giữa nhiệm kỳ điều chỉnh (24), tạo nên những chuyển biến tích cực và sâu sắc trên các lĩnh vực. Nổi bật là tình hình chính trị thành phố luôn ổn định, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng thuận, kinh tế-xã hội phát triển, quốc phòng-an ninh được củng cố, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường.

 Thành phố đã lựa chọn đúng và chỉ đạo thực hiện có kết quả những vấn đề lớn, mang tính đột phá; đặc biệt là đã triển khai tốt công tác quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch; đề ra được nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân; huy động được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân và tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài để đầu tư phát triển thành phố. Kinh tế thành phố phát triển toàn diện và đạt được tốc độ tăng trưởng khá; kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư phát triển đồng bộ, chỉ trong một thời gian tương đối ngắn đã làm thay đổi diện mạo đô thị theo hướng văn minh, hiện đại.

Các chủ trương về khai thác quỹ đất, tạo vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cùng với công tác đền bù, giải tỏa, tái định cư tuy có quy mô khá lớn, nhưng đã được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, thể hiện sự năng động, sáng tạo của Đảng bộ và sự đồng thuận của cán bộ, nhân dân thành phố. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục phát triển; chương trình “5 không”, “3 có” đạt kết quả tích cực. Đặc biệt, trong bối cảnh ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, thành phố đã triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội mang đậm tính nhân văn, tạo được sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân thành phố.

Tuy đạt được những kết quả nêu trên, nhưng việc lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm; còn 2 chỉ tiêu Đại hội XIX đề ra chưa đạt (25). Đáng chú ý là chất lượng tăng trưởng chưa cao; một số ngành, lĩnh vực phát triển chưa thật bền vững; vai trò động lực, liên kết khu vực và sức lan tỏa còn yếu. Kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư phát triển nhanh, nhưng có mặt chưa đồng bộ. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đồng đều giữa các vùng; các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ phát triển chưa ngang tầm với tiềm năng, lợi thế của thành phố. Một số mặt về công tác xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở chuyển biến chậm. 

2. Từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX Đảng bộ thành phố trong 5 năm qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, nêu cao tính đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội.

Đoàn kết, thống nhất là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng. Nhờ đoàn kết, thống nhất trong Đảng, mà hạt nhân là đoàn kết, thống nhất trong thường trực, thường vụ và ban chấp hành mà Đảng bộ đã đề ra và lãnh đạo thực hiện thành công nhiều chủ trương lớn, tạo nên những chuyển biến tích cực và sâu sắc trên mọi mặt của thành phố. Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để tạo ra sự đồng thuận xã hội, tạo ra sức mạnh tổng hợp để vượt qua khó khăn, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra.

Hai là, dựa vào dân; củng cố và phát huy sự đồng thuận của nhân dân để thực hiện các chủ trương, chính sách của thành phố.

Chiều sâu của sự đồng thuận đó chính là lợi ích của các tầng lớp nhân dân. Mọi chính sách phải vì nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính sách đó không chỉ giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt mà còn hướng đến giải quyết những vấn đề cơ bản, lâu dài, thiết thân đối với đời sống nhân dân. Củng cố và phát huy sức mạnh to lớn của “thế trận lòng dân” là nguồn gốc tạo ra sức mạnh, là bài học luôn mang tính thời sự trong sự nghiệp xây dựng thành phố.

Ba là, phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân, đi đôi với phát huy vai trò người đứng đầu trong tổ chức thực hiện chủ trương đã đề ra.

Vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ thể hiện trong việc đề ra đường lối, chủ trương mà còn phải lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương đó. Quá trình này đòi hỏi vừa phải phát huy tốt vai trò tập thể, thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị, tạo sự nhất trí, đồng thuận cao với các chủ trương, chính sách đã đề ra; đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân, phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp. Phát huy tốt cả hai mặt này là điều kiện bảo đảm thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết đã đề ra.

Bốn là, phải xác định rõ và tập trung đầu tư giải quyết tốt những khâu đột phá, then chốt, trọng điểm. Thực tiễn những năm vừa qua cho thấy, thành phố đã triển khai tốt công tác quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch kết cấu hạ tầng, không gian kiến trúc, môi trường đô thị; làm tốt công tác đền bù, giải tỏa, tái định cư; tập trung xây dựng những công trình có quy mô lớn, tạo ra nền tảng của một đô thị hiện đại, từng bước vươn lên xứng đáng là đô thị loại I cấp quốc gia và là trung tâm phát triển của miền Trung-Tây Nguyên. Mặt khác, đẩy mạnh cải cách hành chính, mở rộng các mối quan hệ quốc tế, tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp; quan tâm phát triển cả bề rộng và chiều sâu các mặt văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội; thực hiện tốt chương trình “5 không”, “3 có”, đặt nền tảng cho một thành phố văn minh, hiện đại, giàu tính nhân văn.

Phần thứ hai: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2010-2015

A. DỰ BÁO TÌNH HÌNH

Trong những năm đến, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn trên thế giới và khu vực; toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ. Công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục được đẩy mạnh toàn diện; Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố đoàn kết, phấn khởi, có quyết tâm cao; kinh tế, chính trị thành phố ổn định; tiềm lực, vị thế thành phố được nâng cao; có nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý… Đó là những nguồn lực quan trọng để thành phố phát triển nhanh trong nhiệm kỳ mới.

Tuy nhiên, tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh thuận lợi cơ bản, cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức, có thể ảnh hưởng đến thành phố. Tình hình an ninh khu vực biến động khó lường; tranh chấp Biển Đông diễn biến phức tạp; việc bảo vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa; cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta còn nhiều khó khăn. Kinh tế thế giới phục hồi chậm tiếp tục ảnh hưởng đến thành phố trong vài năm đầu nhiệm kỳ. Sức ép về cạnh tranh phát triển cùng với nhiều vấn đề xã hội bức xúc, nhất là những vấn đề về an sinh xã hội, bảo vệ môi trường... cũng đặt ra nhiều thách thức mới. Việc thực hiện thể chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực, cũng có nhiều nhân tố tác động tiêu cực đến tư tưởng, văn hóa, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu và những diễn biến bất thường của thiên tai, dịch bệnh cũng gây ra những khó khăn nhất định.

Tình hình đó tạo thuận lợi và thách thức đan xen đối với sự phát triển của thành phố trong 5 năm đến.

B. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Quan điểm phát triển

- Phát triển nhanh, hài hòa, bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của thành phố. Coi trọng phát triển chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả làm tiêu chuẩn hàng đầu trong phát triển.

- Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xây dựng và quản lý đô thị với phát triển các lĩnh vực xã hội, giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa, xây dựng Đảng; coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần của xã hội; quản lý đô thị là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên; bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu.

- Phát triển kinh tế-xã hội thành phố gắn kết chặt chẽ trong mối quan hệ hữu cơ với Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội cả nước, quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và hội nhập kinh tế quốc tế. Ưu tiên đầu tư phát triển những ngành, lĩnh vực tạo thế và lực cho phát triển; có khả năng hội nhập cao; năng động và thích ứng với phát triển kinh tế tri thức.

- Đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, coi đây là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế thành phố. Gắn huy động với sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững.

- Giữ vững ổn định chính trị, coi ổn định là điều kiện để phát triển. Kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội.

- Phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng tạo động lực để phát triển.

2. Mục tiêu tổng quát đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020

Mục tiêu và phương hướng tổng quát trong 5 năm đến là: Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, phát triển kinh tế nhanh và bền vững; xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một đô thị lớn của cả nước; là trung tâm kinh tế-xã hội của miền Trung với vai trò là trung tâm dịch vụ; là thành phố cảng biển; đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính-viễn thông và tài chính-ngân hàng; một trong những trung tâm y tế, văn hóa-thể thao, giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ; trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của miền Trung và cả nước, tạo nền tảng để xây dựng thành phố trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020.

Tầm nhìn đến năm 2020: Xây dựng Đà Nẵng thành một đô thị hiện đại, phát triển bền vững, các ngành dịch vụ (du lịch, thương mại, vận tải, viễn thông, tài chính-ngân hàng, giáo dục-đào tạo, y tế...) phát triển mạnh, đóng góp lớn vào phát triển kinh tế thành phố; công nghiệp phát triển theo hướng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng; kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị và thông tin đồng bộ, hiện đại; môi trường văn hóa lành mạnh; quy mô dân số không vượt quá 2 triệu người.

3. Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2015

- Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng bình quân 13,5 - 14,5%/năm. Trong đó, dịch vụ tăng 16,8%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 9,4%/năm, nông nghiệp tăng 2,2%/năm.

- GDP bình quân đầu người đạt 3.200 USD.

- Cơ cấu GDP năm 2015: Dịch vụ: 54,2% - Công nghiệp, Xây dựng: 43,8% - Nông nghiệp: 2,0%.

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 17,6%/năm. 

- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 12,6%/năm, trong đó công nghiệp tăng 12,3%/năm; xây dựng tăng 13,8%/năm.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,8%/năm.

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16%/năm.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 11,5 - 12,5%/năm; tổng chi ngân sách địa phương tăng 10 - 11%/năm.

- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 15 - 16%/năm.

- Giảm tỷ suất sinh hàng năm 0,3%o/năm.

- Giải quyết việc làm bình quân hằng năm cho 3,35 vạn lao động.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới của thành phố) còn 0%.

- 100% dân số nội thành và 95% dân số nông thôn được cấp nước sạch.

- Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt 100%.

- Gọi công dân nhập ngũ đạt 100% kế hoạch, với chất lượng bảo đảm.

- Hằng năm có trên 75% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh.

C. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ QUỐC PHÒNG, AN NINH

1. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, có khả năng hội nhập cao

Phát triển kinh tế hài hòa, bền vững, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của thành phố; tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; đầu tư thỏa đáng cho nguồn vốn trí tuệ để phát triển kinh tế tri thức. Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp.

Phát triển dịch vụ đa dạng, với tốc độ tăng trưởng cao hơn khu vực sản xuất và cao hơn tốc độ tăng GDP; phấn đấu từng bước trở thành trung tâm dịch vụ lớn của đất nước. Đầu tư phát triển du lịch bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với một số Dự án trọng điểm, như hoàn thành xây dựng quần thể du lịch sinh thái Bà Nà - Suối Mơ; xây dựng khu phức hợp quốc tế tại Làng Vân, bán đảo Sơn Trà, khu công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án ven biển, các khu nghỉ dưỡng cao cấp theo quy hoạch; xây dựng các khu vui chơi giải trí đa dạng, quy mô lớn; nâng tầm lễ hội Quán Thế Âm và chất lượng cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế...

Phát triển mạnh mẽ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch công vụ; liên kết với các địa phương trong khu vực theo hướng xác định những sản phẩm chủ yếu, các thị trường trọng điểm; xây dựng các chương trình kích cầu mạnh mẽ, với những chiến lược quảng bá, tiếp thị đồng bộ, dài hạn. Đẩy mạnh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực du lịch. Tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch.

Xây dựng thành phố trở thành đầu mối trung chuyển quá cảnh và giao lưu hàng hoá, dịch vụ của miền Trung; làm tốt chức năng cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại theo hướng văn minh, hiện đại; tập trung phát triển một số Trung tâm thương mại chủ yếu và mở rộng, phát triển đa dạng hệ thống phân phối hàng hoá như: kho bãi, siêu thị, cửa hàng tự chọn và từng bước tiếp cận thương mại điện tử, thanh toán bằng thẻ tín dụng.

Tổ chức lại mạng lưới bán lẻ, đầu tư xây dựng lại các chợ theo quy hoạch. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 20 - 21%/năm. Chú trọng mở rộng thị trường nội địa; vận động, khuyến khích ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển, mở rộng thị phần bán lẻ; khuyến khích sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu; tăng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm chế biến; giảm dần xuất khẩu sản phẩm thô và gia công; phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đạt 16 - 17%/năm.

Phát triển công nghệ thông tin - truyền thông trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đi trước một bước, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, có nhiều lợi thế, như vận tải biển, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe...; đa dạng hóa các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tín dụng; có định hướng phát triển lành mạnh các dịch vụ bất động sản, nhất là phát triển các khu đô thị mới, nhà ở, văn phòng cho thuê...; bước đầu hình thành, phát triển các dịch vụ tư vấn, khoa học và công nghệ...

Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng tăng hàm lượng khoa học, công nghệ và giá trị nội địa trong sản phẩm; chú trọng công nghệ cao, sử dụng năng lượng sạch, công nghệ thân thiện với môi trường, như sản phẩm thiết bị điện, điện tử, dược, phần mềm tin học, vật liệu mới, công nghiệp cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác; công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu, nhất là chế biến tinh và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có khả năng cạnh tranh cao.

Đầu tư hiện đại hoá công nghiệp khai thác và chế biến hải sản phục vụ xuất khẩu; phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ cảng và vận tải biển; các loại hình công nghiệp gắn với hệ thống cảng. Đặc biệt, nâng cao chất lượng và số lượng để khẳng định thế mạnh của công nghệ thông tin và truyền thông. Tăng cường năng lực và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ngành xây dựng theo hướng hiện đại hóa từ thiết kế, thi công, nguồn nhân lực đến trang thiết bị nhằm đảm đương được những công trình, dự án lớn trong các hoạt động kinh tế - xã hội.

Phát triển các khu công nghiệp tập trung; gắn sự phát triển của các khu, cụm công nghiệp với sự phát triển của hệ thống đô thị, dịch vụ. Phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn theo hướng ưu tiên sản phẩm sạch, giá trị cao, gắn với chuyển đổi ngành nghề cho lao động nông nghiệp. Có chính sách khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ; các sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh; hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp.

Miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, gió, địa nhiệt, các nguồn năng lượng sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp...); tạo ra những mô hình doanh nghiệp xanh, tăng trưởng sạch, bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Trên cơ sở đó, nhanh chóng hình thành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, như công nghiệp chế biến hải sản, công nghiệp phần mềm, công nghiệp phục vụ kinh tế biển và những ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu.

Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, giá trị gia tăng lớn, đạt yêu cầu về hiệu quả - chất lượng - sạch, theo hướng phục vụ cho đô thị, du lịch, khu công nghiệp và gắn với các ngành nghề khác, góp phần bảo vệ môi trường. Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành, tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp; đa dạng hóa ngành nghề, gắn với mục tiêu phát triển đô thị sinh thái, môi trường bền vững. Quy hoạch xác định vành đai xanh, xây dựng các vùng rau an toàn, rau cao cấp, vùng hoa, cây cảnh, vùng cây ăn quả; xây dựng mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ với các địa phương trong vùng.

Thực hiện có hiệu quả chương trình “tam nông”; bố trí lại lao động ở nông thôn, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp - TTCN và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững; chú trọng bảo vệ rừng; chấm dứt tình trạng phá rừng, cháy rừng. Đẩy mạnh hoạt động khuyến công nhằm hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Lập quy hoạch quản lý xây dựng, phát triển nông thôn về giao thông, thủy lợi, điện; hoàn thiện hệ thống cung cấp nước sạch, nhà ở, hướng đến cải thiện mức sống, điều kiện sống của dân cư khu vực nông thôn. Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, kết hợp hài hoà các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường.

Phát huy lợi thế biển trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tạo tiền đề để đến năm 2020 xây dựng Đà Nẵng trở thành một trung tâm hậu cần nghề cá, phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của vùng; là một trong ba trung tâm kinh tế biển lớn của cả nước. Đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở dịch vụ phục vụ đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy sản, tạo động lực phát triển kinh tế biển. Triển khai công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển, ven biển. Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ đa dạng sinh học biển; bảo tồn và xây dựng vệt sinh thái cảnh quan ven bờ; nghiên cứu giải pháp bảo vệ bờ biển, chống xâm thực do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nghiên cứu các giải pháp phòng chống thiên tai, thảm họa, biến đổi khí hậu có hiệu quả. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho chiến lược phát triển kinh tế biển.

Tiếp tục đổi mới, lành mạnh hệ thống tài chính; huy động tối đa các nguồn thu; chống thất thu và gian lận thương mại; đồng thời thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật. Bố trí chi ngân sách tích cực, tập trung ưu tiên nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng yếu. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán để ngăn ngừa thất thoát; bảo đảm cân đối, hiệu quả các nguồn thu, chi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục thực hiện chủ trương, giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế thế giới, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, không để xảy ra đột biến.

2. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý đô thị; tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị nhanh, đồng bộ, hiện đại 

Triển khai và quản lý thực hiện hiệu quả quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, không gian kiến trúc, môi trường đô thị thành phố đến năm 2020. Tiếp tục mở rộng không gian đô thị về phía Tây, Tây Nam, Nam thành phố; rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển không gian đô thị thành phố phù hợp với Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), có quy mô thích hợp, có phân khu chức năng hợp lý, đặc biệt là các khu trung tâm, các trung tâm chuyên ngành, tạo nền tảng của một đô thị hiện đại, xứng đáng là đô thị loại I của cả nước và trung tâm phát triển của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Chú trọng hơn nữa công tác thiết kế đô thị, tổ chức không gian đô thị hiện đại, hài hòa với thiên nhiên; bảo đảm các tiêu chuẩn đô thị hiện đại về diện tích đất giao thông, đất ở, mật độ cây xanh, đất cho xây dựng các công trình văn hóa, giáo dục, y tế... Thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý quy hoạch và kiến trúc đô thị; gắn kết việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại với công tác thiết kế và xây dựng các công trình kiến trúc tiêu biểu.

Thực hiện nghiêm việc thi tuyển phương án kiến trúc đối với các công trình có quy mô lớn, có yêu cầu kiến trúc đặc thù, có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong đô thị. Chấm dứt tình trạng xây dựng trái phép tại các khu đô thị, khu dân cư. Hạn chế dần và tiến đến chấm dứt việc quy hoạch phân lô, xây dựng nhà mặt phố; triển khai các giải pháp xây dựng các khu cao tầng, nhà vườn, các khu công viên giải trí... theo định hướng xây dựng thành phố môi trường. 

Nâng cao năng lực điều hành và thống nhất quản lý Nhà nước về đầu tư. Ưu tiên bố trí vốn cho đầu tư phát triển, nhất là các dự án cấp bách, quan trọng, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; cân đối và bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA, dự án thực hiện các chương trình triển khai Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị. Thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong tất cả các khâu từ quy hoạch, lập dự toán và tổ chức thực hiện dự án bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư. Khắc phục nhanh tình trạng đầu tư dàn trải và nợ đọng trong xây dựng cơ bản. Trong cơ cấu chi thường xuyên, ưu tiên bố trí vốn đảm bảo tốc độ tăng chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế cao hơn tốc độ tăng chi của các lĩnh vực khác; bố trí đủ nguồn vốn cho nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học ứng dụng; đồng thời bố trí đầy đủ và kịp thời nguồn kinh phí để thực hiện chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo theo mục tiêu đã đề ra. 

Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển giao thông vận tải trên địa bàn thành phố phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt; chú ý đầu tư đẩy mạnh tiến độ các công trình và hệ thống giao thông thiết yếu, như cầu Rồng, cầu Nguyễn Văn Trỗi mới, Nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng, Cảng Tiên Sa (giai đoạn 2), Cảng Liên Chiểu (giai đoạn 1), Nhà ga xe lửa mới, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đường Hồ Chí Minh (đoạn Nam Đông - Túy Loan), đường nối hành lang kinh tế Đông Tây từ Cảng Đà Nẵng đến cửa khẩu Nam Giang, cầu vượt ngã ba Huế và các đường vành đai khác.

Nâng cấp hoàn chỉnh mạng lưới giao thông nội thị; ưu tiên phát triển giao thông công cộng; giảm phương tiện giao thông cá nhân trong nội thành; triển khai dự án xây dựng mạng lưới tàu điện ngầm; đẩy nhanh việc ngầm hóa đường dây điện, điện thoại, truyền hình cáp, internet khu vực trung tâm thành phố. Phát triển hệ thống trạm dừng nghỉ, bến xe, hệ thống điều khiển giao thông theo quy hoạch. Phát triển hệ thống giao thông liên kết với các đô thị trung tâm lân cận của miền Trung. Thực hiện tốt mục tiêu giảm thiểu tai nạn giao thông. 

Đầu tư tập trung, thi công dứt điểm, hoàn thành đúng tiến độ những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt, như các khu đô thị mới Tây Bắc, Đa Phước, khu đô thị sinh thái Hòa Xuân; Trung tâm hành chính thành phố. Tăng cường năng lực cung cấp nước sạch, hoàn thành xây dựng Nhà máy Nước Đà Nẵng. Nâng cấp hoàn chỉnh hệ thống thu gom, xử lý nước thải, rác thải. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nhà ở, chú trọng xây dựng nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội, nhà ở cho sinh viên, công nhân các khu công nghiệp.

Đẩy mạnh xã hội hóa, xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, quản lý, khai thác các công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật và tổ chức dịch vụ vận tải công cộng. Xây dựng Đà Nẵng thành một trong những đầu mối giao thông quan trọng của khu vực và cả nước về vận tải nội địa và trung chuyển quốc tế. Tập trung phát triển kinh tế hàng hải, phấn đấu xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố cảng biển lớn của khu vực và cả nước.

3. Thực hiện cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút đầu tư; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư; triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, phấn đấu duy trì vị trí dẫn đầu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), nhằm tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư. Phá bỏ rào cản, củng cố niềm tin của nhà đầu tư, tạo sức hấp dẫn, bảo đảm tính hiệu quả, minh bạch và bình đẳng để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động, phát triển theo cơ chế thị trường. Thường xuyên cải thiện môi trường đầu tư, tạo lập những điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế; các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công nghệ nguồn, nhất là các tập đoàn đa quốc gia.

Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại (đối ngoại Nhà nước, đối ngoại nhân dân) và hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng mọi cơ hội để phát triển kinh tế, mở rộng hợp tác, đầu tư, thương mại và du lịch. Tăng cường hợp tác, phối hợp liên kết phát triển giữa Đà Nẵng và các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Tây Nguyên và trong cả nước; phối hợp xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư lành mạnh. Mở rộng và tăng cường hợp tác toàn diện với các thành phố lớn trong nước và nước ngoài. Khai thác hiệu quả chương trình hợp tác Tiểu vùng sông Mêkông và Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC). Nghiên cứu khai thác hợp lý Hành lang kinh tế Đông Tây 2 (26) (EWEC2). Đổi mới công tác tuyên truyền, quảng bá về thành phố nhằm nâng cao uy tín, vị thế của thành phố.

Phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật. Nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước; chăm lo phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, đồng thời nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế dân doanh, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển mạnh, trở thành một động lực phát triển kinh tế thành phố. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ, phát triển, tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân đóng góp xây dựng thành phố.

Nâng cao chất lượng các dịch vụ công, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để thu hút và huy động các nguồn vốn FDI, nhất là lĩnh vực sản xuất công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ cao cấp và xây dựng kết cấu hạ tầng dưới các hình thức BOT, BT, BO. Đẩy mạnh xúc tiến và quản lý hiệu quả các dự án ODA, NGO; tranh thủ nguồn vốn từ các bộ, ngành Trung ương.

Phát triển đa dạng, đồng bộ các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ và các loại thị trường khác. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp chủ động thực hiện phương án tham gia hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững và phát triển các mối quan hệ với các đối tác đã được thiết lập, vươn đến các thị trường tiềm năng ở nước ngoài. Tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn vay, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đầu tư. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế.

4. Xây dựng và triển khai chương trình thành phố môi trường; quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên

Triển khai thực hiện có kết quả Đề án xây dựng Đà Nẵng thành thành phố môi trường. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng xã hội trong việc bảo vệ môi trường; đưa việc bảo vệ môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các chương trình, dự án đầu tư. Xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tại các khu công nghiệp Hòa Khánh mở rộng, Liên Chiểu, Hòa Cầm; xử lý cơ bản ô nhiễm tại khu công nghiệp dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang và các “điểm nóng” khác về môi trường.

Đến năm 2015, bảo đảm 100% các cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch, 85% các các cơ sở hiện có đạt các tiêu chuẩn cơ bản về môi trường; các khu công nghiệp và chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Có chế tài xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường và không để phát sinh các điểm ô nhiễm mới. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, các hoạt động cung ứng dịch vụ vệ sinh, môi trường. Đẩy mạnh việc trồng cây xanh đô thị và ven biển, phấn đấu nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt bình quân 49-50%/năm giai đoạn 2010-2015. Triển khai nghiên cứu, dự báo để chủ động ứng phó và khắc phục có hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên, bảo đảm  khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước... Đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên - môi trường, hình thành và phát triển các loại thị trường về tài nguyên và môi trường.

5. Phát triển giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa-xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, tạo nền tảng và động lực để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố. Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng cả 3 mặt: dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người. Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại. Chú trọng giáo dục hướng nghiệp, tập trung phát triển đào tạo nghề, gắn đào tạo với sử dụng. Duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học cơ sở đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học vào năm 2012. Khắc phục cơ bản khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa nội thành và ngoại thành và các tiêu cực trong giáo dục, đào tạo. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài và xây dựng trung tâm học tập cộng đồng, hướng đến xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập thường xuyên.

Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nhiều nguồn lực để xây dựng hệ thống trường chất lượng cao ở các loại hình, tiếp cận trình độ giáo dục tiên tiến của khu vực và thế giới. Xây dựng và phát triển Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn trở thành trường THPT chuyên chất lượng cao trọng điểm quốc gia. Xúc tiến mạnh mẽ việc thành lập trường đại học quốc tế tại Đà Nẵng. Hoàn thành việc xây dựng Làng Đại học Đà Nẵng theo quy hoạch. Phối hợp, tạo điều kiện xây dựng Đại học Đà Nẵng xứng đáng là Đại học trọng điểm vùng, cùng với Học viện Chính trị - Hành chính khu vực 3 và các trường đại học, cao đẳng khác trên địa bàn, xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm đào tạo lớn, chất lượng cao của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế; coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định nâng cao lợi thế cạnh tranh của thành phố.

Phát triển khoa học và công nghệ gắn với định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức. Xây dựng và phát triển nguồn lực khoa học công nghệ đủ mạnh, đảm bảo khả năng tiếp thu, ứng dụng, làm chủ và phát triển công nghệ hiện đại.

Thúc đẩy lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng đi thẳng vào công nghệ hiện đại, tiên tiến; chuyển giao, làm chủ những công nghệ mới, tạo đột phá trên một số lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực liên quan mật thiết đến sự phát triển của thành phố và bảo đảm an sinh xã hội, như công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, chế biến, công nghệ vật liệu mới, công nghệ môi trường... Có kế hoạch định hướng cụ thể về phát triển công nghệ ở những ngành, nghề quan trọng để tập trung đầu tư; bảo đảm tốc độ đổi mới công nghệ trung bình đạt 20% - 30%/năm, các lĩnh vực ưu tiên đạt 30% - 40%/năm. 

Chú trọng đổi mới, ứng dụng công nghệ mới trong các doanh nghiệp; lấy doanh nghiệp làm trọng tâm hoạt động khoa học và công nghệ; thực hiện các ưu đãi về thuế, vốn đầu tư để khuyến khích ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong doanh nghiệp. Phát huy lợi thế của thành phố về nguồn lao động có chất lượng cao ở các trường đại học, các viện nghiên cứu để nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, áp dụng vào sản xuất và đời sống, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng sức cạnh tranh.

Có chính sách thu hút và trọng dụng các chuyên gia khoa học - công nghệ. Xây dựng, phát triển một số viện, trung tâm nghiên cứu chuyên ngành có chất lượng cao (Viện Nghiên cứu ứng dụng, Viện ứng dụng bức xạ, Trung tâm công nghệ sinh học, Phòng thí nghiệm Protein enzym, Phòng chẩn đoán phân tử, Trung tâm thông tin KHCN...). Khuyến khích, tạo điều kiện đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Chú trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Phát triển khoa học xã hội và nhân văn, làm tốt việc dự báo và định hướng, giải đáp kịp thời những vấn đề do thực tiễn đổi mới thành phố đặt ra; tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách xây dựng thành phố.

Phát huy vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội; tạo chuyển biến rõ nét trong việc đầu tư phát triển văn hóa, nhất là xây dựng các công trình văn hóa, thiết chế văn hoá trọng điểm, ngang tầm vị thế của thành phố. Hoàn thành xây dựng Bảo tàng tổng hợp của thành phố; Trung tâm Văn hóa-Thông tin thành phố; đầu tư xây dựng Thư viện tổng hợp thành phố; xây dựng và nâng cấp hệ thống thư viện các quận, huyện. Nghiên cứu khả thi dự án xây dựng nhà hát lớn, sân vận động mới. Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, công trình văn hóa; các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể; gắn việc tôn tạo, nâng cấp các công trình văn hóa và tổ chức các lễ hội với việc phát triển du lịch.

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân; thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng. Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng “Nếp sống văn hóa - văn minh đô thị” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong các khu dân cư; chú trọng đưa các phong trào này đi vào chiều sâu; nâng cao chất lượng các danh hiệu văn hoá (gia đình văn hóa, cụm dân cư văn hóa...). Tiếp tục xây dựng văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa khu dân cư; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ, hội. Thực hiện tốt hơn chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa.

Phát triển toàn diện các loại hình văn học-nghệ thuật; phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ; tạo điều kiện để văn học-nghệ thuật phát triển mạnh mẽ, có những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật xứng tầm. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, phát thanh-truyền hình, trước hết là Báo Đà Nẵng và Đài Phát thanh-Truyền hình Đà Nẵng theo hướng hiện đại. Nâng cao chất lượng thông tin, bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Tăng cường vai trò định hướng thông tin và quản lý nhà nước đối với các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản, internet. Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội của đội ngũ những người làm báo.    

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình “5 không”, “3 có”; giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học và thiếu niên hư, vi phạm pháp luật. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, đa dạng, ngày càng mở rộng phù hợp với tiềm năng, đặc điểm và nhu cầu của nhân dân. Phát triển mạnh và đa dạng hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế toàn dân. Thực hiện đồng bộ, toàn diện các chương trình, dự án giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các chính sách trợ giúp về hạ tầng phục vụ sản xuất, đất đai, tín dụng, dạy nghề, tạo việc làm, khuyến nông-lâm-ngư, tiêu thụ sản phẩm...; xây dựng các đề án, giải pháp, mô hình giảm nghèo, tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo, giảm nghèo bền vững.

Thực hiện tốt các chính sách xã hội; vận động toàn dân tham gia các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc người có công với nước; chăm lo đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho con em gia đình chính sách; đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, nhân đạo hỗ trợ những người cô đơn, yếu thế, nghèo khó trong xã hội, tạo thuận lợi để họ vươn lên hòa nhập cộng đồng. Tăng cường các cơ hội và dịch vụ kinh tế cho người khuyết tật. Hoàn thành các chương trình xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp và học sinh, sinh viên. Giảm thiểu chênh lệch về mức sống, thu nhập giữa các vùng nông thôn, miền núi với thành thị.

Chú trọng tạo việc làm, nâng cao chất lượng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, coi đây là nhiệm vụ xuyên suốt đối với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tập trung đầu tư, phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề theo quy hoạch; phấn đấu đến năm 2015 thành phố sẽ có 60 trường, trung tâm dạy nghề có quy mô vừa và lớn, trong đó có trường dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 60%. Chú trọng dạy nghề cho nông thôn, vùng giải tỏa, vùng chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Phát triển thị trường lao động, quản lý, nắm chắc cung - cầu lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động; phát triển các cơ sở giao dịch, các hình thức thông tin thị trường lao động, các trung tâm giới thiệu việc làm theo quy hoạch.

Đẩy mạnh công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn nghiện hút ma tuý; tăng cường và nâng cao hiệu quả cuộc vận động xây dựng phường, xã lành mạnh, không có tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. 

Tiếp tục đầu tư phát triển sự nghiệp y tế; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xây dựng mạng lưới y tế quận, huyện, phường, xã đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, góp phần giảm tải tuyến thành phố, đi đôi với nâng cao y đức và trình độ của đội ngũ cán bộ y tế. Tiếp tục phát triển hệ thống y tế tư nhân; đầu tư xây dựng một số lĩnh vực y tế chuyên sâu, hiện đại. Hình thành cơ sở đào tạo cán bộ y tế bậc đại học. Hoàn thành và đưa vào sử dụng Bệnh viện Ung thư; xây dựng bệnh viện quốc tế với đội ngũ y, bác sĩ giỏi, trang thiết bị hiện đại, phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh theo yêu cầu; phát triển dịch vụ y tế thành một trong những thế mạnh của thành phố. Xây dựng cơ chế, chính sách về đào tạo và thu hút cán bộ y tế giỏi, chuyên gia đầu ngành. Làm tốt công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm. Vận động thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện, tiến đến thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. 

Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thực hiện các chính sách, pháp luật về dân số - kế hoạch hóa gia đình, duy trì mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con. Triển khai kế hoạch hành động quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ; xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của gia đình và xã hội về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; thực hiện các quyền trẻ em, bảo đảm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bảo vệ, chăm sóc; tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động thể dục-thể thao; tạo chuyển biến cơ bản về quy mô và chất lượng thể thao quần chúng. Đổi mới và tăng cường huấn luyện, đào tạo, tập huấn (trong và ngoài nước) nhằm thu hút nguồn lực thể thao thành tích cao; xây dựng nền tảng vững chắc cho vận động viên trẻ, có chất lượng.

Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động phù hợp với đường lối, chính sách  của Đảng, Nhà nước. Củng cố, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo.

6. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn dịnh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh cải cách tư pháp

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết TW 8 (khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, tạo chuyển biến quan trọng về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể trong việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả chủ trương xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân; chủ động ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đối phó có hiệu quả với mọi tình huống, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra “điểm nóng”.

Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng; tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình phòng thủ, sở chỉ huy thời chiến các quận, huyện. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng, an ninh toàn dân, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho 100% cán bộ, đảng viên. Chú trọng làm tốt công tác vận động quần chúng; xây dựng 100% phường, xã vững mạnh về quốc phòng, an ninh. Chỉ đạo công tác tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với dân quân tự vệ, dự bị động viên. Chăm lo công tác Đảng, công tác chính trị, bảo đảm công tác hậu cần, kỹ thuật.

Đổi mới toàn diện, đồng bộ các mặt công tác biên phòng, phát huy sức mạnh tổng hợp và phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng xây dựng nền biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng thành phố vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh vùng biển; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới. Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với huyện đảo Hoàng Sa.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị (khoá IX) về “Chiến lược an ninh quốc gia”, Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 14-10-2006 của Bộ Chính trị và Kết luận 38-KL/TW, ngày 02-02-2009 của Thường trực Ban Bí thư (khoá X) về “Tăng cường lãnh đạo công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới”. Chủ động nắm tình hình các loại đối tượng chống đối trong và ngoài nước; kịp thời tấn công, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá tư tưởng, trọng tâm là an ninh nội bộ, chống địch phá hoại tư tưởng, giữ vững an ninh quốc gia trong mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ. Chủ động giải quyết các vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh tôn giáo, an ninh dân tộc, an ninh nông thôn, đô thị ngay từ cơ sở.

Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, kiềm chế sự gia tăng các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tội phạm về ma túy, về môi trường, tội phạm công nghệ cao, tội phạm mang tính quốc tế; tập trung đấu tranh triệt phá và không để hình thành băng nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông cả về số vụ tai nạn, số người chết và bị thương. Đổi mới nội dung, biện pháp và nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên địa bàn thành phố.

Xây dựng lực lượng Quân sự, Công an, Biên phòng thành phố cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên vững mạnh toàn diện, trước hết là chất lượng chính trị, độ tin cậy, khả năng hoàn thành nhiệm vụ cao.

Quán triệt, chỉ đạo các cấp ủy đảng và chính quyền triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ về cải cách tư pháp. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp. Các hoạt động điều tra, truy tố, thi hành án phải được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, bảo đảm tôn trọng quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân; không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. Tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong phòng, chống vi phạm pháp luật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật; giải quyết dứt điểm và đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực tư pháp. Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

D. XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỮNG MẠNH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ TRONG THỜI KỲ MỚI

Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, tạo đột phá trong công tác cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

I. Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ ngang tầm nhiệm vụ

1. Tăng cường công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng

Chú trọng đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác tư tưởng. Tổ chức tốt việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn với giáo dục mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, của Đảng bộ và nhân dân thành phố.

Chăm lo củng cố sự đoàn kết, thống nhất và tình đồng chí trong Đảng; sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân thành phố. Chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội. Tuyên truyền, động viên phong trào thi đua lao động, sáng tạo, xây dựng và bảo vệ đất nước; biểu dương, nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiêu biểu; phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, ý thức tổ chức kỷ luật, quyết tâm chung sức, chung lòng xây dựng thành phố.

Đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch. Ngăn chặn việc phát tán các tài liệu, quan điểm sai trái, phản động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; phòng chống có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến” trong nội bộ, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống; chống mọi biểu hiện cơ hội, cục bộ, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa.

Đổi mới việc tổ chức học tập, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn; chú trọng thông tin hai chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe. Củng cố hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, chú trọng công tác tuyên truyền miệng, công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo, định hướng dư luận xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ. Xây dựng và thực hiện quy chế, quy định toàn Đảng làm công tác tư tưởng; mọi đảng viên có trách nhiệm làm công tác tư tưởng; bí thư cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải lập kế hoạch chỉ đạo công tác tư tưởng; nắm bắt và xử lý kịp thời những vấn đề về tư tưởng nảy sinh. Kiện toàn tổ chức bộ máy chuyên trách công tác tư tưởng, khoa giáo ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ.

2. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, coi đây là công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của tổ chức đảng; khơi dậy tinh thần tự giác “học tập” và “làm theo” tấm gương đạo đức của Bác trong toàn Đảng bộ và trong xã hội. Giáo dục, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức rèn luyện, tu dưỡng để thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống; đi đầu trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và thực hành tiết kiệm.

Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Gắn Cuộc vận động với phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của từng cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến “làm theo” tấm gương đạo đức của Bác nhằm tạo những chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiện Cuộc vận động.

3. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tổ chức xây dựng Đảng

Đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Thành ủy và các đảng uỷ trực thuộc. Tiếp tục kiện toàn các cơ quan chính quyền, mặt trận, đoàn thể bảo đảm tinh, gọn, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của bộ máy các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể phường, xã và dưới phường, xã thật sự có hiệu quả.

Tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở Đảng. Đặc biệt, chú trọng củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở phường, xã, đơn vị sự nghiệp và phát triển tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kiện toàn cấp ủy, chú trọng phát huy vai trò của bí thư cấp ủy; sơ kết, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện thí điểm mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND cùng cấp.

Cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy, chi bộ; nâng cao tính chiến đấu, tính lãnh đạo, tính giáo dục, thường xuyên tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt Đảng. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền được thông tin, tranh luận, nêu ý kiến và bảo lưu ý kiến đi đôi với đề cao kỷ luật trong Đảng; nói, viết và làm theo nghị quyết của Đảng. Tổ chức Đảng và đảng viên phải giữ mối liên hệ thường xuyên với nhân dân nơi công tác và nơi cư trú. Nâng cao chất lượng phân loại tổ chức cơ sở Đảng, phấn đấu hằng năm có trên 75% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh, không có tổ chức cơ sở Đảng yếu kém.

Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Phát huy tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, quản lý chặt chẽ đảng viên về tư tưởng và sinh hoạt, phân công nhiệm vụ cho đảng viên và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ được giao; phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy nơi công tác và nơi cư trú trong việc quản lý đảng viên. Thực hiện tốt công tác đánh giá chất lượng đảng viên, phấn đấu hàng năm có từ 90% đảng viên trở lên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tăng cường công tác phát triển đảng viên, phấn đấu mỗi năm phát triển trên 1.800 đảng viên mới, bảo đảm các yêu cầu về chất lượng; chú trọng phát triển đảng viên mới trên các địa bàn khu dân cư, trong các doanh nghiệp, trường học. 

4. Đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

Đổi mới tư duy, cách làm, phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ. Khắc phục những bất hợp lý, yếu kém trong các khâu của công tác cán bộ.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp ngang tầm nhiệm vụ; chú trọng tư duy sáng tạo, năng lực thực tiễn, kiến thức chuyên môn vững vàng, phong cách làm việc khoa học, xông xáo, quyết liệt, nói đi đôi với làm. Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm cơ cấu, tính liên tục, kế thừa và phát triển. Xây dựng đội ngũ chuyên gia trên các lĩnh vực. Có những giải pháp mạnh mẽ hơn trong quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ để có đội ngũ cán bộ thật sự chuyên nghiệp, có đủ năng lực, phẩm chất, nhiệt huyết và sức khỏe để phục vụ lâu dài. Đẩy mạnh thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với luân chuyển cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ; mạnh dạn, đột phá trong việc bố trí cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực nổi trội vào các vị trí lãnh đạo. Quan tâm bố trí, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đối với cán bộ và học viên hoàn thành Đề án 89 và Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Rà soát, đánh giá và bố trí lại đội ngũ cán bộ, trước mắt là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành; bảo đảm đúng tiêu chuẩn chức danh đối với từng loại cán bộ (cấp ủy viên, cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp và các chức danh chuyên môn). Chuẩn hóa cán bộ chuyên trách và công chức cơ sở. Nghiên cứu thực hiện thí điểm việc xây dựng Quỹ hỗ trợ tiền lương để ổn định đời sống của cán bộ, công chức các cấp. Thực hiện nhất quán chủ trương chỉ quy hoạch, đưa vào cấp ủy những cán bộ tốt nghiệp đại học chính quy.

Thực hiện thành nền nếp việc đánh giá cán bộ hàng năm theo Quy chế đánh giá cán bộ, công chức của Đảng (27), bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, lấy hiệu quả công việc và uy tín làm thước đo chính. Xây dựng và thực hiện cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm, trọng dụng đối với những người có đức, có tài; mở rộng việc thực hiện chủ trương thi tuyển để bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý các cơ quan Nhà nước. Thực hiện nghiêm các quy định về quản lý, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và Quy định về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ lãnh đạo và quản lý (28). 

Quan tâm hơn nữa đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; có chính sách tốt hơn để thu hút, giữ chân người tài và cán bộ có trình độ cao trên các lĩnh vực, cán bộ lãnh đạo, quản lý sản xuất - kinh doanh, khoa học công nghệ, chuyên gia đầu ngành... Ưu tiên tuyển dụng, bố trí sinh viên giỏi làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, mặt trận, đoàn thể. Thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ của các cơ quan này đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng; phục vụ kịp thời yêu cầu của công tác cán bộ và công tác phát triển đảng viên. 

5. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp. Cùng với việc kiểm tra dấu hiệu vi phạm, chủ động kiểm tra, giám sát về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Đảng và đảng viên; về chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chấp hành Điều lệ Đảng. Chú trọng kiểm tra, đánh giá trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý khi để xảy ra tình trạng trì trệ kém phát triển. Phối hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra nhà nước và các cơ quan tư pháp, với công tác giám sát của các cơ quan dân cử, với Mặt trận, đoàn thể theo chức năng, thẩm quyền của mỗi cơ quan. Giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng. Kiện toàn Ủy ban Kiểm tra, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra các cấp.

6. Tăng cường công tác dân vận, triển khai thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị (29), củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng và thực hiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng Đảng, giám sát cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt chính sách an dân, chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố sự đồng thuận xã hội.

Chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, đời sống vật chất tinh thần của người dân, nhất là bộ phận còn khó khăn trong công nhân, nông dân, trí thức, các đối tượng đặc biệt nghèo trong xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nội dung phương thức công tác dân vận của hệ thống chính trị; chú trọng hơn nữa công tác dân vận của chính quyền; nhân rộng điển hình “Dân vận khéo”; phối hợp phát động thực hiện mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia xây dựng và phát triển thành phố văn minh, hiện đại, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

7. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nâng cao chất lượng lãnh đạo, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan Nhà nước và toàn xã hội; tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Cải cách thủ tục hành chính và cải tiến mạnh mẽ phong cách, lề lối làm việc trong Đảng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng công tác Đảng. Thực hiện tốt các quy chế, quy định về chế độ làm việc, chế độ đi cơ sở, giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu nại của cán bộ, đảng viên.

II. Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực và hiệu lực điều hành, quản lý Nhà nước

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố. Đổi mới, nâng cao chất lượng các kỳ họp của Hội đồng Nhân dân, chất lượng hoạt động của Thường trực, các ban và đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố; thể chế hóa kịp thời các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy. Chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII và Hội đồng Nhân dân thành phố khóa VIII, nhiệm kỳ 2011-2016.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Ủy ban Nhân dân các cấp, cụ thể hóa kịp thời nghị quyết của cấp ủy và Hội đồng Nhân dân; bảo đảm tính thông suốt, toàn diện của hệ thống hành chính Nhà nước; từng bước hình thành bộ máy quản lý nhà nước theo hướng chính quyền đô thị, tập trung và chuyên môn hóa một số lĩnh vực về hoạt động quản lý đô thị. Rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị hành chính, chuyển dần các hoạt động sự nghiệp sang cơ chế có thu tự trang trải hoặc tiến hành xã hội hóa để các thành phần kinh tế khác tham gia. Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; phát hiện kịp thời, chủ động giải quyết có hiệu quả các mâu thuẫn nội bộ, tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãn công... không để kéo dài, trở thành “điểm nóng” về an ninh trật tự.

Phát huy hiệu quả và duy trì chương trình đơn giản hóa thủ tục hành chính của Chính phủ giai đoạn 2007-2010 và triển khai chương trình tổng thể về cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính sâu rộng hơn; đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục phiền hà, không cần thiết và thực hiện các hoạt động hậu kiểm. Đẩy mạnh phân cấp quản lý để nâng cao tính chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành. Hình thành đồng bộ chính quyền điện tử, đưa phần lớn các giao dịch hành chính với tổ chức, công dân và cung cấp thông tin thực hiện qua mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, đạo đức công vụ tốt, tính chuyên nghiệp cao, có kỹ năng xử lý các tình huống khi thực thi công vụ. Đề cao trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là những người đứng đầu các cơ quan quản lý hành chính các cấp. Áp dụng các chế tài, biện pháp ngăn chặn và xử lý các trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhũng nhiễu, gây phiền hà, bất bình trong nhân dân.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm. Thực hiện nghiêm các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; minh bạch tài sản và thu nhập. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm những cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ để tham ô, hối lộ, nhũng nhiễu, gây phiền hà, bất bình trong nhân dân; rà soát, thay đổi ngay những cán bộ, công chức trì trệ, có dư luận không tốt, liên quan đến tham nhũng. Nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức các cấp. Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, của Mặt trận, các đoàn thể, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức; phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

III. Phát huy dân chủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của hệ thống chính trị trong việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nghiêm túc Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, về công tác tôn giáo và Kết luận của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (30).

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác mặt trận và các đoàn thể, trọng tâm là công tác cán bộ, định hướng nội dung hoạt động và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để mặt trận, các đoàn thể triển khai tốt các hoạt động và thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình.

Cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải gương mẫu trong công tác vận động quần chúng, thực hiện đúng phong cách “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Đảng viên phải gương mẫu tham gia sinh hoạt và làm nòng cốt trong hoạt động ở một đoàn thể nhất định. Cấp ủy và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân.

Mặt trận, đoàn thể các cấp tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, đa dạng hoá hình thức tập hợp quần chúng; quan tâm đúng mức đến công tác vận động, tập hợp, động viên các đối tượng đặc thù, như nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, đồng bào các dân tộc, đồng bào có đạo, chức sắc tôn giáo… tích cực đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển thành phố.

Đối với công nhân, cần chăm lo giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ học vấn, tay nghề; quan tâm nhà ở; thực hiện tốt chính sách, pháp luật về lao động, chế độ tiền lương, bảo hiểm, bảo hộ và an toàn lao động. 

Đối với nông dân, tiếp tục xóa nghèo và nâng cao đời sống; đầu tư chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân phù hợp với quá trình đô thị hóa. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới hiện đại.

Đối với trí thức, văn nghệ sĩ, có chính sách tập hợp, thu hút, tạo điều kiện để phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Đối với thanh niên, chú trọng giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng giác ngộ lý tưởng cách mạng, đào tạo nghề và giải quyết việc làm; tập hợp thanh niên trong các tổ chức của Đoàn bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực. Đẩy mạnh phong trào thanh niên tình nguyện, xung kích trên các mặt trận xây dựng kinh tế, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Đối với phụ nữ, thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới, nâng cao trình độ học vấn, tạo việc làm, thực hiện chính sách đối với cán bộ nữ. Quan tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng chống bạo lực gia đình.

Đối với cựu chiến binh, hưu trí, gia đình chính sách, thực hiện nhất quán chính sách đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn; chăm sóc đời sống, sức khỏe. Phát huy vai trò nòng cốt của cựu chiến binh, nêu gương và giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.

Phát huy vai trò tích cực của doanh nhân; có chính sách ổn định để doanh nhân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, hội nhập và cạnh tranh quốc tế, làm giàu chính đáng.

Thực hiện tốt chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường vận động đồng bào có đạo phát huy tinh thần yêu nước, thực hiện nghĩa vụ công dân; sống “tốt đời - đẹp đạo”.

Tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền, vận động, tạo mọi điều kiện thuận lợi để kiều bào ở nước ngoài, nhất là đồng bào quê hương Quảng Nam, Đà Nẵng đóng góp xây dựng quê hương. Phát huy tinh thần yêu nước, đẩy mạnh phong trào thi đua trong các tầng lớp nhân dân, tạo động lực để xây dựng thành phố văn minh, hiện đại, phát triển bền vững.

*

Trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ nêu trên, BCH Đảng bộ thành phố tin tưởng chắc chắn rằng, với truyền thống đoàn kết, sáng tạo, phát huy phẩm chất anh hùng, toàn Đảng, toàn dân và các đơn vị lực lượng vũ trang thành phố tiếp tục phấn đấu vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XX Đảng bộ thành phố, cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

BCH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ


(1) Tính theo tỷ giá 16.518 đồng/1 USD.
(2) Chỉ tiêu GDP điều chỉnh giữa nhiệm kỳ Đại hội XIX là 11 - 12%/năm; GDP bình quân đầu người 1.900 USD.
(3) Cơ cấu điều chỉnh giữa nhiệm kỳ là: Dịch vụ: 50,1%, Công nghiệp: 47,1%, Nông nghiệp: 2,8%.
(4) Chỉ tiêu NQ Đại hội XIX đề ra là 14 - 15%/năm.
(5) Tổng doanh thu Du lịch ước đạt 3.850 tỷ đồng, tăng 20,1%/năm; tổng lượt khách ước đạt 5,8 triệu người, tăng 17,1%/năm, trong đó khách quốc tế ước đạt 1,6 triệu người, tăng 9%/năm. Trên địa bàn thành phố hiện có 55 dự án đầu tư về du lịch, với tổng vốn đầu tư 54 nghìn tỷ đồng. Các cơ sở du lịch lớn được đưa vào sử dụng như: Khu du lịch Bà Nà - Suối Mơ, SliverShore Hoàng Đạt, Xuân Thiều, Olalani, bán đảo Sơn Trà, nâng cấp khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, bãi tắm du lịch kiểu mẫu Mỹ Khê và T18…
(6) Chỉ tiêu Đại hội XIX đề ra là 20 - 22%/năm.
(7) Chỉ tiêu điều chỉnh giữa nhiệm kỳ là 15 - 16%.
(8) Đã có 6 hãng vận tải container nước ngoài mở tuyến đến Cảng Đà Nẵng, đặc biệt hãng vận tải K-Line (Nhật Bản) là một trong 5 hãng tàu lớn nhất thế giới đã chính thức mở tuyến vận tải
container đến Cảng Tiên Sa.
9) Như cầu Thuận Phước, cầu Rồng, cầu Nguyễn Văn Trỗi - Trần Thị Lý, cầu Hòa Xuân; các tuyến đường Sơn Trà - Điện Ngọc, đường du lịch ra Bãi Bắc, đường Trường Sa, đường Nguyễn văn Linh nối dài, Nguyễn Tri Phương nối dài, Bạch Đằng, Trần Phú, ĐT 602, đường Đà Nẵng - Hội An, (đoạn Lê Văn Hiến - Trần Đại Nghĩa); Trung tâm Hành chính thành phố, Nhà hát Trưng Vương, Trung tâm Hội chợ - Triển lãm, Trường Chính trị, Trung tâm Hành chính huyện Hòa Vang, các khu chung cư Nại Hiên Đông, cuối tuyến Bạch Đằng Đông, Hòa Thuận, đầu tuyến Sơn Trà - Điện Ngọc, các khu nhà ở thuộc Chương trình 7.000 căn hộ cho người thu nhập thấp...
(10) Trong đó, thu nội địa tăng 11,9%/năm, thu thuế xuất nhập khẩu tăng 9,9%/năm. Một số lĩnh vực, khoản thu ngân sách địa phương tăng khá, như thuế công thương nghiệp - dịch vụ ngoài quốc doanh (22,5%); lệ phí trước bạ (26,7%); thuế thu nhập cá nhân (44,7%); phí xăng dầu (29,4%)…
(11) Tỷ trọng kinh tế nhà nước từ 48,4% năm 2006 dự kiến giảm còn 39% năm 2010, kinh tế dân doanh từ 44% dự kiến tăng lên 52,5%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài từ 5,5% dự kiến tăng lên 6,5% năm 2010.
(12) Đến năm học 2009 - 2010, ngành Giáo dục-đào tạo thành phố có 100% CBGV mầm non, tiểu học, trung học phổ thông và 97,8% CBGV trung học cơ sở đạt trình độ chuẩn trở lên; trong đó có 67,1% CBGV mầm non; 76,3% CBGV trung học cơ sở và 11,4% CBGV trung học phổ thông có trình độ đào tạo trên chuẩn.
(13) Một số công trình đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, như: Nhà hát Trưng Vương, Nhà biểu diễn đa năng, Trường Văn hóa-Nghệ thuật, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Bảo tàng Lịch sử… Một số công trình đã khởi công và chuẩn bị đầu tư, như Công viên văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn, Thư viện Tổng hợp…
(14) Tổng số huy chương các hạng đạt được là 2.041 bộ, trong đó quốc gia có 1.917 bộ, quốc tế 134 bộ.
(15) Như chính sách hỗ trợ, giúp đỡ các hộ đặc biệt nghèo vươn lên thoát nghèo; giáo dục cảm hoá thiếu niên hư, vi phạm pháp luật; giúp đỡ học sinh bỏ học trở lại trường; lập quỹ cho vay giải quyết việc làm đối với các đối tượng phạm tội đã chấp hành xong hình phạt; phòng chống bạo lực gia đình...
(16) 100% trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được chăm sóc, giúp đỡ từ chính sách của Nhà nước, cộng đồng và các tổ chức quốc tế; 97,2% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, hỗ trợ bằng nhiều hình thức thiết thực; 96,5% trẻ em khuyết tật hay tàn tật được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình và các trung tâm bảo trợ xã hội; 100% trẻ em hộ nghèo được hưởng các chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo nghề, y tế...
(17) Việc thực hiện chủ trương này đã giảm được 214 biên chế đại biểu HĐND cấp quận, huyện và 1.127 biên chế đại biểu HĐND cấp phường; giảm được nhiều tầng nấc trung gian, giúp người dân tiếp cận nhanh với người có trách nhiệm giải quyết công việc; tiết kiệm cho ngân sách hơn 7 tỷ đồng.
(18) Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ, thành phố đã tiến hành rà soát bãi bỏ các văn bản có nội dung trái pháp luật và kiến nghị đơn giản hóa đến 41% thủ tục hành chính, vượt 11% so với yêu cầu của Chính phủ.
(19) Qua 3 năm triển khai thực hiện Cuộc vận động, toàn thành phố có 230 gương điển hình tiêu biểu, gồm 67 tập thể và 163 cá nhân. Ban Chỉ đạo thành phố đã biểu dương 16 tập thể và 17 cá nhân có thành tích xuất sắc nhất.
(20) Đề án 393 đào tạo 100 thạc sĩ tiến sĩ ở nước ngoài, Đề án 47 hỗ trợ HSPT học đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước, Đề án 89 tạo nguồn cán bộ cho chức danh bí thư đảng ủy và chủ tịch UBND phường, xã. Đến nay, đã có 67 công chức, viên chức đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tại các cơ sở nước ngoài và 284 học sinh các trường THPT tham gia chương trình đào tạo đại học, trong đó 142 học sinh được đào tạo tại các cơ sở nước ngoài.
(21) Hiện nay, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đơn vị thành phố đạt 33,3%; tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp thành phố chiếm 22,6%, cấp quận, huyện chiếm 24,7%. Nhiều cán bộ trẻ, có năng lực được bổ nhiệm cấp, trưởng, phó các quận, huyện, sở ngành thành phố.
(22) Ban hành Đề án “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phường, xã và sắp xếp lại tổ chức dưới phường, xã”; Đề án 89 về tạo nguồn chức danh cán bộ lãnh đạo phường, xã.
(23) Như dự án đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi; dự án nâng cấp, mở rộng ga hàng không quóc tế Đà Nẵng; dự án xây dựng Cảng Liên Chiểu và đường sắt 2 chiều Đà Nẵng-Quảng Ngãi; dự án xây dựng Làng Đại học Đà Nẵng; dự án Khu công nghệ cao; dự án di dời ga đường sắt, kho xăng dầu, kho vũ khí ra khỏi thành phố...
(24) 09 chỉ tiêu đạt và vượt: Tăng trưởng GDP, giá trị sản xuất dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, tổng vốn đầu tư phát triển, tổng thu ngân sách Nhà nước, tỷ lệ giảm sinh, giải quyết việc làm, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia, gọi công dân nhập ngũ.
(25) 02 chỉ tiêu không đạt: Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, và nông nghiệp.
(26) Từ Cảng Đà Nẵng qua quốc lộ 14B đến cửa khẩu Đăk-Ốc (Quảng Nam), qua các tỉnh Nam Lào, qua Thái Lan...
(27) Ban hành kèm theo Quyết định số 286-QĐ/TW, ngày
08-02-2010 của Bộ Chính trị.
(28) Quy định 260-QĐ/TW ngày 02-10-2009 của Bộ Chính trị.
(29) Ban hành kèm theo Quyết định 290-QĐ/TW, ngày 25-02-2010 của Bộ Chính trị.
(30) Kết luận 57-KL/TW, ngày 03-11-2009 của Bộ Chính trị và Kết luận 65-KL/TW ngày 04-3-2010 của Ban Bí thư.


Tin cùng chuyên mục

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự, chứng kiến Lễ ký, trao 26 thỏa thuận hợp tác của các bộ, ngành và doanh nghiệp Việt Nam và đối tác Anh.

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Hội nghị COP26 và làm việc tại Anh: Ký kết thỏa thuận hợp tác trị giá hàng tỷ USD

(PLVN) - Nhân chuyến tham dự Hội nghị COP26 và làm việc tại Vương quốc Anh, chiều 31/10 (giờ địa phương), tại thành phố Edinburg, Scotland, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dự, chứng kiến lễ ký, trao 26 thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, nông nghiệp, năng lượng, y tế, giáo dục, đào tạo, bảo vệ môi trường, thể thao... của các bộ, ngành và doanh nghiệp Việt Nam và đối tác Anh.

Đọc thêm

Giảm tải mật độ, hạn chế lây nhiễm trong khu cách ly

làm thủ tục tiếp nhận công dân vào khu cách ly tại Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô. Ảnh: báo Lao động (chụp tháng 2/2020)
(PLVN) - Những ngày vừa qua, số ca F1 chuyển biến thành F0 tăng nhanh nên TP Hà Nội đã chỉ đạo xét nghiệm toàn bộ số F1 đang cách ly để sàng lọc, rà soát mà không cần chờ đủ thời gian 7 ngày theo quy định. Qua xét nghiệm đã xác định thêm 27 ca bệnh chuyển từ F1 thành F0.

Những nữ Công an tỉnh Phú Thọ nhiệt huyết trong công việc

Chiến sỹ Cảnh sát nhập dữ liệu thông tin của người dân.
(PLVN) - Trong bất kể lĩnh vực công tác nào, thì những “bông hồng thép”- nữ cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an Phú Thọ đều luôn nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần mang lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.