Dự thảo Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010-2015)
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010-2015) sẽ được tổ chức vào cuối tháng 9-2010. Báo Điện tử Đài PTTH Quảng Ninh xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh để bạn đọc theo dõi và đóng góp ý kiến.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010-2015) sẽ được tổ chức vào cuối tháng 9-2010. Báo Điện tử Đài PTTH Quảng Ninh xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh để bạn đọc theo dõi và đóng góp ý kiến.
TỈNH UỶ QUẢNG NINH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hạ Long, ngày 28 tháng 6 năm 2010
Số - BC/TU
Dự thảo
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH
tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII,
nhiệm kỳ 2010-2015
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh vừa kết thúc 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội X của Đảng và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII với những thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần này có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, mở ra một giai đoạn phát triển mới, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp của công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XII
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã xác định mục tiêu tổng quát giai đoạn 2006 – 2010 là: Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, động viên mọi nguồn lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; phấn đấu phát triển kinh tế với tốc độ cao, ổn định, bền vững, gắn kết với các lĩnh vực văn hoá – xã hội; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sử trở thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015.
Năm năm qua, cùng với những thuận lợi từ kết quả đạt được sau 25 năm đổi mới, trong quá trình thực hiện nhiêm vụ, tỉnh ta đã nhận được sự chỉ đạo, định hướng kịp thời của Đảng, Chính phủ, sự quan tâm, tạo điều kiện của các bộ, ban, ngành Trung ương. Những chiến lược, chủ trương, định hướng phát triển mà Trung ương xác định có liên quan đến Quảng Ninh đã làm rõ nét hơn về con đường và xu thế phát triển của tỉnh, là những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các tiềm năng, thế mạnh để phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khẳng định vị thế của tỉnh trong khu vực và trong quan hệ đối ngoại.
Bên cạnh đó, tỉnh ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức: Trong những năm cuối nhiệm kỳ, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và xuất hiện yếu tố mất ổn định, giá cả biến động, lạm phát tăng do suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh đến mọi mặt đến đời sống kinh tế - xã hội; nhiều dịch bệnh nguy hiểm, thiên tai, lũ lụt xảy ra; tình trạng khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép diễn biến phức tạp…
Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã quyết tâm vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu quan trọng trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra.
I - NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
1 – Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng cao,tiềm lực, quy mô nền kinh tế tăng khá
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP - theo giá so sánh) bình quân 5 năm ước đạt 12,5 % (khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,8 %; khu vực dịch vụ tăng 12,1%). Tuy chưa đạt mục tiêu đề ra (13 – 14 %) nhưng trong bối cảnh khó khăn vừa qua, kết quả đạt được là sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành và thể hiện khả năng thích ứng nhanh của kinh tế tỉnh ta. GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) năm 2010 ước đạt 1.316 USD, đạt mục tiêu đề ra và bằng 1,82 lần năm 2005.
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao và ổn định. Tổng giá trị sản xuất (giá cố định) ước tăng bình quân 14,6 %/năm. Các lĩnh vực có lợi thế, có khả năng cạnh tranh được đầu tư lớn, hiện đại như: đóng mới - sữa chữa tàu biển, nhiệt điện chạy than, xi măng, cơ khí, vật liệu xây dựng… đã đem lại hiệu quả rõ rệt; một số ngành tiếp tục mở rộng thị trường, tăng sản lượng, sản phẩm mới. Sản xuất than chiếm tỷ trọng cao trong công nghiệp và GDP, năm 2010 sản xuất, tiêu thụ 42 triệu tấn (xuất khẩu 17 triệu tấn). Trên nền sản xuất than, ngành than đã trở thành tập đoàn kinh tế mạnh sản xuất đa ngành; từ địa bàn tỉnh, Tập đoàn Công nghiệp than – Khoáng sản Việt Nam đã vươn ra đầu tư phát triển tại các địa phương khác trong nước và quốc tế. Nhìn chung, công nghiệp phát triển đa dạng cả về quy mô, trình độ công nghệ, chủng loại và chất lượng sản phẩm.
Sản xuất nông nghiệp vượt qua nhiều khó khăn về thiên tai, dịch bệnh, giữ vững ổn định và có bước phát triển mới. Giá trị sản xuất (giá cố định) tăng bình quân 6,3 %/năm (chỉ tiêu 5,3-5,5 %). Đã thực hiện có kết quả chương trình chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng suất, sản lượng lương thực tăng, cơ bản đảm bảo cân đối được lương thực ở khu vực nông thôn. Chăn nuôi ổn định, dịch bệnh được kiểm soát. Lâm nghiệp phát triển khá, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động và các nguồn vốn tham gia trồng, bảo vệ rừng; đã nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 50% năm 2010. Thủy sản tiếp tục phát triển, đã tập trung quy hoạch, mở rộng vùng nuôi, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất gíông và nuôi trồng.
Các ngành dịch vụ chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhưng nhờ phát huy tốt lợi thế tự nhiên, thực hiện tốt các chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng nên tiếp tục phát triển đa dạng, đạt mức tăng trưởng cao, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Bình quân 5 năm giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ ước đạt 18,2%/năm (kế hoạch 15 - 16%). Thương mại nội địa có bước phát triển về chất và được mở rộng ở cả 3 khu vực: thành thị, nông thôn, miền núi, trong đó 2 trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái hoạt động có hiệu quả. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tăng bình quân 19%/năm. Hoạt động xuất nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng khá, vượt mục tiêu đề ra. Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 5 năm 2006-2010 đạt 6.733 triệu USD, tăng bình quân 18,4%/năm (kế hoạch tăng 15%). Tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh năm 2010 đạt 5 triệu lượt, tăng bình quân 15,3%/năm. Các hoạt động dịch vụ vận tải đường bộ, đường thủy phát triển; số lượng, chất lượng vận chuyển hàng hóa, hành khách được nâng lên. Hoạt động hàng hải ổn định, tàu thuyền ra vào cảng tăng 15%/năm; sản lượng hàng hóa thông qua cảng năm 2010 ước đạt 39 triệu tấn (kế hoạch trên 30 triệu tấn). Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, từng bước hiện đại. Đến năm 2010, 100% số xã có thư báo trong ngày, tỷ lệ máy cố định và di động trả sau ước đạt 40 thuê bao/100 dân (kế hoạch 35 máy/100 dân); internet ước đạt 12,3 thuê bao/100 dân. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm ổn định, mạng lưới và tiện ích mở rộng.
Cơ cấu các thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch tích cực và hiệu quả, qua các năm, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm, khu vực công nghiệp – xây dựng, dịch vụ tăng nhanh (cơ cấu GDP năm 2010 dự kiến là: nông, lâm, ngư nghiệp 5,6%; công nghiệp, xây dựng 54,7%; dịch vụ 39,7%, chỉ tiêu đề ra đến năm 2010 là 4%-54%-42%). Cơ cấu vùng kinh tế chuyển dịch theo hướng khai thác, phát huy các tiềm năng, thế mạnh của từng vùng và tăng cường đầu tư để có bước tăng trưởng nhanh hơn giai đoạn trước. Các vùng đều đạt và vượt mục tiêu về GDP bình quân đầu người và giảm hộ nghèo so với kế hoạch đề ra. Đặc biệt, đã quan tâm chỉ đạo phát huy lợi thế kinh tế khu vực Hạ Long, Móng Cái, bước đầu khơi dậy tiềm năng phát triển khu vực Hải Hà, Vân Đồn, Yên Hưng và một số đô thị khác với vai trò là trung tâm hành chính, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kinh tế cửa khẩu, văn hóa của từng vùng.
Công tác tài chính có tiến bộ vượt bậc, đã chủ động điều hành thu, chi ngân sách, tăng cường quản lý và phân cấp quản lý ngân sách cho các địa phương. Kết quả thu ngân sách đạt khá, vượt chỉ tiêu đề ra. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm ước đạt 69.940 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm (kế hoạch 10%); trong đó thu nội địa ước đạt 24.240 tỷ đồng, tăng bình quân 24,8%/năm. Tổng chi ngân sách 5 năm ước đạt 26.634 tỷ đồng, tăng bình quân 16,7%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 16%, chiếm 43,6% tổng chi ngân sách trong 5 năm. Việc chi tiêu ngân sách được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Huy động vốn đầu tư phát triển tăng cao và được cải thiện qua các năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 5 năm ước đạt 137.043 tỷ đồng, tăng bình quân 27,3%/năm (kế hoạch tăng 15%), trong đó vốn trong nước chiếm 98% tổng vốn đầu tư xã hội. Cơ cấu vốn đầu tư có đổi mới theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, bình quân 5 năm vốn đầu tư từ ngân sách do tỉnh quản lý chiếm 7,25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, giảm 3,5% so với kế hoạch 5 năm trước. Trong 5 năm, đã giải ngân được 759 tỷ đồng vốn ODA, đạt 112% số vốn cam kết, cấp phép đầu tư cho 66 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn đăng ký 3.380 triệu USD, đạt 230% kế hoạch; tổng vốn thực hiện 337 triệu USD. Đến hết năm 2009, trên địa bàn tỉnh có 106 dự án còn hiệu lực pháp lý với tổng số vốn đăng ký 1.595 triệu USD, tổng vốn thực hiện đạt 565 triệu USD, bằng 35,5% vốn đăng ký.
Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là các dự án trọng điểm về công nghiệp, cấp, thoát nước, giao thông, thủy lợi, văn hóa – xã hội. Đã đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực khai thác khoáng sản; tập trung hòan thành các nhà máy nhiệt điện: Uông Bí I, Quảng Ninh, Cẩm Phả; các nhà máy xi măng: Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long, Lam Thạch; Nhà máy Chế tạo thiết bị nâng hạ Quang Trung. Đưa vào sử dụng cầu Bãi Cháy, Cầu Bang, một số cầu vượt đường sắt, cầu treo dân sinh và nhiều công trình phục vụ đời sống kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng; hòan thành nâng cấp Quốc lộ 10, Quốc lộ 18A (đoạn Mông Dương – Móng Cái) và nhiều tuyến đường tỉnh, đường giao thông liên huyện, đường đến trung tâm các xã. Đầu tư kiên cố hóa kênh mương, đưa vào sử dụng hồ Đầm Hà Động và các tuyến đê biển: Hà Nam, Bắc Cửa Lục, Đông Yên Hưng. Xây dựng, đưa vào sử dụng Bệnh viện đa khoa tỉnh và đầu tư nâng cấp hầu hết các bệnh viện đa khoa khu vực, bệnh viện tuyến huyện. Hòan thành cơ bản mục tiêu về kiên cố hóa trường học, nhà công vụ cho giáo viên và chuẩn quốc gia về y tế. Tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đô thị được mở rộng, nhiều dự án đô thị được hòan thành, đưa vào sử dụng làm cho diện mạo đô thị khang trang, sạch đẹp hơn.
Triển khai có kết quả chủ trương phát triển các thành phần kinh tế, 5 năm qua, đã có 4.967 doanh nghiệp được cấp mới đăng ký kinh doanh với tổng số vốn 47.896 tỷ đồng (bình quân 9,6 tỷ đồng/doanh nghiệp), gấp 2,2 lần về số doanh nghiệp thành lập mới và 4,7 lần về vốn đăng ký so với 5 năm trước; đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có khoảng 6.500 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 60.000 tỷ đồng. Đã tập trung hòan thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế hợp tác với nòng cốt là hợp tác xã đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, tăng thu nhập, tạo việc làm cho xã viên và giảm nghèo; mặc dù quy mô sản xuất còn nhỏ nhưng đến năm 2010, kinh tế hợp tác đã thu hút khoảng 138.000 lao động, chiếm 20% tổng số lao động, đóng góp khoảng 3,5% vào GDP toàn tỉnh. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngòai có những đóng góp quan trọng phát triển kinh tế, là nguồn lực thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa; mức vốn cam kết và giải ngân không ngừng tăng cao, góp phần đổi mới công nghệ, tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút nhiều lao động.
2- Văn hóa – xã hội có bước phát triển mới, đời sống nhân dân các dân tộc được nâng cao, có mặt cải thiện rõ rệt
Các hoạt động văn hóa thông tin tập trung tuyên truyền về thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, tổ chức nhiều hoạt động chào mừng đại hội Đảng các cấp, các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn của đất nước, của tỉnh, Lễ hội Du lịch Hạ Long hàng năm. Tỷ lệ phủ sóng phát thanh, sóng truyền hình đạt trên 95%. Phong trào “Toàn dân đòan kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai rộng khắp. Nhiều di tích lịch sử, văn hóa được bảo tồn, tôn tạo, nhiều lễ hội được phục dựng. Công tác quản lý, khai thác di tích, danh thắng và hoạt động của nhiều lễ hội được tổ chức chu đáo, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần thu hút khách du lịch đến Quảng Ninh.
Giáo dục – đào tạo phát triển , tiếp tục duy trì quy mô và nâng cao chất lượng ở các ngành học, cấp học. Đã giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và xóa mù chữ; hòan thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Công tác quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo được tăng cường gắn liền với các cuộc vận động đạt kết quả tích cực. Giáo dục mầm non và giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc được quan tâm. Đến hết năm 2010, sẽ hòan thành những mục tiêu cơ bản về đầu tư kiên cố, xóa phòng học tạm, phòng học thiếu, phòng học 3 ca trước cả nước 2 năm. Xã hội hóa giáo dục có nhiều chuyển biến, 5 năm qua đã thành lập, đưa vào hoạt động 2 trường đại học, 1 trường trung cấp nghề; có thêm 419 nhóm trẻ, 62 trường mầm non, mẫu giáo, 700 lớp mẫu giáo, 10 trường trung học phổ thông ngoài công lập, 146 trung tâm học tập cộng đồng; có 45% số trường đạt chuẩn quốc gia. Đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương trong đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo tại các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật. Hàng năm, đã tuyển sinh đào tạo mới trên 30.000 sinh viên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng nhanh, từ 33% năm 2005 lên 48% năm 2010 (trong đó đào tạo nghề đạt 38%).
Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ được đẩy mạnh, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tăng kim ngạch xuất khẩu và cải thiện chất lượng tăng trưởng. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin được triển khai rộng khắp và đã thâm nhập vào hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, cả khu vực hành chính nhà nước, dịch vụ công, các tổ chức chính trị xã hội và doanh nghiệp.
Công tác y tế và chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm. Đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; đẩy mạnh y tế dự phòng, không để dịch lớn xảy ra; công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân tiếp tục được củng cố và nâng cao chất lượng. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời quan tâm đào tạo, đào tạo lại để nâng cao trình độ đội ngũ thầy thuốc. Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được củng cố, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 đạt 1,1%. Công tác kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. Tuổi thọ bình quân năm 2010 đạt 73,1 tuổi. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm từ 24,3% năm 2005 xuống còn dưới 18% năm 2010, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng đầy đủ 7 loại vắc xin đạt 96%; tỷ lệ dân số được tiếp cận dịch vụ y tế đạt trên 92%; 100% xã, phường hoàn thành những mục tiêu cơ bản chuẩn quốc gia về y tế. Xã hội hóa công tác y tế đạt được nhiều kết quả.
Hoạt động thể dục thể thao phát triển: Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thể thao, phong trào thể dục thể thao được quan tâm, việc huy động các nguồn lực xã hội đầu tư, quản lý cơ sở vật chất và các hoạt động thể thao có chuyển biến; thể thao quần chúng được duy trì, rộng khắp; đến năm 2010 có 23% dân số tập luyện thể dục thường xuyên, 13% số hộ gia đình thể thao.
Công tác quản lý bảo vệ môi trường sinh thái có nhiều cố gắng. Đã tập trung cho công tác quy hoạch, quan trắc và thẩm định đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư ở khu đô thị, khu du lịch, sản xuất than và ở một số khu dân cư tập trung. Việc cung cấp nước sạch, nước hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm chú trọng, đã góp phần nâng cao nhận thức và sức khỏe trong cộng đồng. Các cơ sở, đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, một số vùng ô nhiễm do khai thác than và phát triển đô thị được tập trung xử lý.
Đã quan tâm giải quyết việc làm, tạo thêm được nhiều việc làm mới. Trong 5 năm, đã giải quyết việc làm cho 13,06 vạn lao động, bình quân mỗi năm 2,6 vạn lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 4,3% năm 2010. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng tích cực; tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 49,8% năm 2005 xuống 35% năm 2010; lao động công nghiệp và xây dựng tăng từ 23,3% lên 30%; lao động khu vực dịch vụ tăng từ 27,2% lên 35% trong tổng số lao động toàn tỉnh.
Đã huy động sức mạnh của toàn xã hội cho công tác giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt quan tâm chăm sóc cho người nghèo, các đối tượng chính sách, những vùng khó khăn. Bình quân mỗi năm có hàng nghìn hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 10,62% năm 2005 xuống còn 4,09% vào cuối năm 2010. Mức độ giảm nghèo giữa các vùng, các địa phương tuy có khác nhau nhưng tỷ lệ nghèo đều giảm. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã hoàn thành việc hỗ trợ xây dựng mới 4.587 căn nhà cho hộ nghèo, về trước 2 năm theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và bước đầu triển khai đầu tư nhà cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị. Công tác thương binh liệt sỹ, người có công, phong trào đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi, trợ giúp đối tượng chính sách được quan tâm. Việc phòng chống các tệ nạn xã hội được chỉ đạo đồng bộ, kiên quyết. Đã đưa vào sử dụng Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội Vũ Oai (Hoành Bồ), tạo điều kiện tổ chức quản lý, giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm cho trên 800 người nghiện ma túy.
Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, điện, kênh mương, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ, các thiết chế văn hóa…, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề thủ công… đã có tác động tích cực đến phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo; diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới.
3- Quốc phòng, an ninh và công tác quản lý biên giới được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, hoạt động đối ngoại phát triển
Khu vực phòng thủ được quan tâm xây dựng ngày càng vững chắc; thế trận quốc phòng tòan dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và sự phối hợp giữa các lực lượng trên địa bàn ngày càng có hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định từ cơ sở. Đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Các dự án phát triển kinh tế - xã hội đều chú trọng đến đảm bảo quốc phòng, an ninh, nhiều dự án kinh tế quốc phòng được triển khai đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện đưa dân ra định canh, định cư ở các vùng giáp biên.
Đã tập trung xây dựng mối quan hệ, hợp tác với các địa phương bạn có chung đường biên giới quốc gia nhằm xây dựng tuyến biên giới ổn định, phát triển. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về biên giới quốc gia, chủ quyền, quyền lợi quốc gia trên tuyến biên giới trên bộ, trên biển được giữ vững. Tham mưu và lãnh đạo tốt công tác phân giới, cắm mốc biên giới đất liền trên tuyến biên giới Việt – Trung. Công tác bảo vệ an ninh chính trị, tư tưởng, an ninh vùng tôn giáo, dân tộc, khu vực biên giới, biển đảo và nông thôn được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hoạt động của các loại tội phạm được kiềm chế; các hoạt động tội phạm nghiêm trọng đều được điều tra, khám phá không để hình thành tụ điểm phức tạp. Đã triển khai kiên quyết, đồng bộ các biện pháp ngăn chặn, xử lý tình trạng khai thác, tiêu thụ than trái phép trên địa bàn tỉnh, đến nay đã cơ bản lập lại trật tự trong khai thác, kinh doanh than. Các biện pháp quản lý nhà nước về trật tự xã hội, nhất là công tác quản lý người nước ngoài, đảm bảo trật tự an tòan giao thông, phòng chống cháy nổ, phòng chống tệ nạn ma túy được tập trung chỉ đạo quyết liệt nên đã có những chuyển biến tích cực.
Lực lượng vũ trang địa phương được quan tâm chăm lo xây dựng; phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được củng cố và phát triển sâu rộng. Công tác giáo dục quốc phòng – an ninh, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh, xây dựng thế trận biên phòng tòan dân được quan tâm và có nhiều đổi mới cả về nội dung và hình thức.
Các hoạt động mở rộng hợp tác trong và ngoài nước được đẩy mạnh; quan hệ giữa tỉnh Quảng Ninh với Quảng Tây (Trung Quốc) phát triển tòan diện trên các lĩnh vực. Đã quan tâm liên kết hợp tác phát triển với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nhằm hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa phương, thường xuyên duy trì, xây dựng, củng cố mối quan hệ hữu nghị với các địa phương nước láng giềng trong phát triển kinh tế, quản lý biên giới và phòng chống tội phạm, tạo môi trường thuận lợi để tăng cường hợp tác phát triển. Các hoạt động tiểu vùng cả đa phương và song phương, nhất là các địa phương của Trung Quốc về các lĩnh vực: thương mại, du lịch, đầu tư, kết nối hạ tầng giao thông… có bước phát triển tích cực. Tiếp tục xây dựng, củng cố mối quan hệ đối tác chiến lược giữa tỉnh với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và các tập đoàn kinh tế lớn.
4- Chất lượng của bộ máy chính quyền các cấp được nâng lên, hiệu lực, hiệu quả hoạt động được tăng cường
Hội đồng nhân dân các cấp tích cực triển khai nhiệm vụ, có nhiều biện pháp kiểm tra, đôn đốc công tác tổ chức thực hiện nghị quyết các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; tăng cường giám sát quản lý điều hành của chính quyền, tập trung vào việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm, những vấn đề bức xúc mà dư luận xã hội và cử tri quan tâm. Tích cực đổi mới việc chuẩn bị nội dung, phương pháp tổ chức các kỳ họp. Các Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát trên các lĩnh vực, duy trì tốt việc tiếp xúc cử tri theo quy định.
Ủy ban nhân dân các cấp đã tập trung cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy, của các cấp ủy và Hội đồng nhân dân bằng chương trình, kế hoạch cụ thể. Duy trì tổ chức các cuộc làm việc với lãnh đạo địa phương, các ngành để thống nhất các mục tiêu, nhiệm vụ và bàn biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quản lý và tổ chức thực hiện; gặp mặt, tiếp xúc với doanh nghiệp trên địa bàn để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý và chấn chỉnh những vi phạm trong quản lý sử dụng đất, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường sinh thái, an toàn giao thông, an toàn lao động. Chú trọng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch. Tăng cường và mở rộng phạm vi phân cấp quản lý; ủy quyền giải quyết một số công việc nhằm tăng tính chủ động, nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo các ngành, địa phương; chủ động bổ sung, điều chỉnh các cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế phát triển. Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư được quan tâm thực hiện đúng chính sách, pháp luật, bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân.
Cơ cấu, tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, cơ quan trong bộ máy chính quyền từ tỉnh xuống huyện, xã được điều chỉnh, sắp xếp theo hướng tinh gọn, phù hợp hơn. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Đã đẩy mạnh cải cách hành chính trên các lĩnh vực, trước hết là những thủ tục hành chính đang gây vướng mắc, phiền hà cho công dân và doanh nghiệp; cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được áp dụng, bảo đảm thuận lợi, phục vụ tốt nhu cầu chính đáng, hợp pháp của công dân và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân; đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước (Đề án 30) được thực hiện hiệu quả rõ rệt, rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết các vấn đề của công dân và doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí xã hội. Tích cực triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001-2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và từng bước mở rộng đối với các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Công tác cải cách tư pháp được quan tâm, có tiến bộ, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên, hạn chế được nhiều sai sót, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng, không có vụ việc oan sai nghiệm trọng, tạo được niềm tin trong nhân dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, điểu kiện làm việc của các cơ quan tư pháp được cải thiện; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tăng cường.
Đã chỉ đạo và định kỳ kiểm điểm công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thực hiện rà soát, ban hành các văn bản về công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, công khai, minh bạch trong hoạt động cơ quan, đơn vị. Chỉ đạo bổ sung hoặc ban hành mới chế độ, định mức, tiêu chuẩn, quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và sử dụng tài sản công. Chủ động triển khai thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực: xây dựng cơ bản, tài chính, quản lý sử dụng tài nguyên… Nghiêm túc kỷ luật, khởi tố những cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng. Nhìn chung, tình trạng tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực được kiềm chế, nhận thức của cán bộ, đảng viên được nâng lên.
5- Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được phát huy, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được nâng cao.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ngày càng phát huy vai trò tập hợp quần chúng, chức năng giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; phối hợp, làm chỗ dựa cho chính quyền thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước. Khối đại đoàn kết nhân dân tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội trước những khó khăn thách thức.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; các hoạt động đã hướng về cơ sở, gắn với đoàn viên, hội viên, đi sâu nắm bắt diễn biến tư tưởng trong đoàn viên, hội viên và nhân dân, chủ động phối hợp với chính quyền giải quyết kịp thời những phát sinh trong nhân dân. Chú trọng nâng cao chất lượng các cuộc vận động bằng nhiều hình thức đa dạng, các tổ chức đã vận động, động viên các tầng lớp nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền giải quyết, tháo gỡ kịp thời những vấn đề bức thiết nảy sinh trong đời sống xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn. Các tổ chức đã phát huy vai trò giám sát việc thực thi pháp luật và thực hiện quy chế dân chủ, những ý kiến phản biện của mặt trận và các đoàn thể đã góp phần giúp cấp ủy, chính quyền nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhằm thực hiện tốt hơn các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc triển khai có kết quả lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu và mở rộng cho nhân dân tham gia góp ý xây dựng các chủ trương chính sách của địa phương và việc cán bộ lãnh đạo đối thoại với nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân đã thể hiện rõ thêm việc mở rộng dân chủ đi đôi với thực hiện trật tự kỷ cương, làm cho dân hiểu thêm về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Nhân dân đã phát huy tinh thần tương thân, tương ái, ý thức cộng đồng, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, tham gia khắc phục hậu quả thiên tai. Thông qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã phát huy được sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương và làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội.
Công tác dân tộc, công tác tôn giáo được chăm lo, công tác đối ngoại nhân dân được chú trọng. Các cấp đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi, hải đảo; hỗ trợ các xã nghèo, khó khăn; bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị vùng miền núi, dân tộc; có nhiều biện pháp để đồng bào dân tộc định canh, định cư, phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Chính sách tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng được bảo đảm. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, đồng bào vùng dân tộc được cải thiện, đồng bào yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được củng cố, tiến bộ; an ninh vùng dân tộc, tôn giáo được giữ vững.
6- Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục được chú trọng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên được nâng lên.
Đã chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với đảng viên và nhân dân thông qua tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết. Thường xuyên duy trì hội nghị báo cáo viên, cung cấp bản tin sinh hoạt hàng tháng đến các chi bộ. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng bộ và trong xã hội. Nhìn chung, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đồng thuận, phấn khởi trước những thành tựu đạt được của đất nước, của tỉnh và tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng.
Đã tập trung chỉ đạo đổi mới công tác tổ chức cán bộ. Đẩy mạnh triển khai quy hoạch cán bộ các sở, ban, ngành, địa phương, chỉ đạo rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ, tạo sự chủ động hơn cho đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ, nguồn cán bộ có đổi mới đáng kể. Chú trọng đào tạo, bồi dưõng cán bộ cơ sở, cán bộ có trình độ chuyên môn cao và cán bộ dự nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý từ tỉnh đến cơ sở, quan tâm đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công chức (đã phối hợp đào tạo cao cấp, cử nhân chính trị cho 1.102 cán bộ; cử 364 cán bộ đi học sau đại học; bồi dưỡng cho 33.512 lượt cán bộ, công chức). Tiến hành thưòng xuyên việc đánh giá cán bộ.
Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được duy trì thường xuyên gắn với triển khai Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" nhằm xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng đã chỉ đạo thực hiện có nề nếp công tác tự phê bình và phê bình hàng năm, thực hiện công tác đánh giá chất lượng các tổ chức đảng và đảng viên gắn với kiểm điểm tập thể và cá nhân; những tập thể cấp ủy và cá nhân đảng viên có vấn đề được nhân dân quan tâm góp ý, kiến nghị đều được làm rõ, nghiêm túc tiếp thu, sửa chữa. Đã chú trọng giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc ở từng địa phương. Nhìn chung, công tác lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trên nhiều lĩnh vực có tiến bộ, khắc phục cơ bản tình trạng buông lỏng lãnh đạo hoặc bao biện làm thay; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; đoàn kết nhất trí trong Đảng, ý thức Đảng được nâng lên.
Đã chỉ đạo tăng cường củng cố, chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở. Tăng cường công tác quản lý đảng viên và việc đảng viên thực hiện quy định về thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ. Chức năng, nhiệm vụ của cơ sở được xác định rõ hơn, hoạt động theo chương trình, lề lối làm việc, công tác chỉ đạo, điều hành có bước đổi mới, đã chú trọng lựa chọn những khâu còn yếu, những vấn đề trọng tâm để tập trung chỉ đạo, triển khai như: thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, phát huy nội lực xây dựng cơ sở hạ tầng, công tác quản lý đô thị, đất đai, môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn. Công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng, củng cố chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp được quan tâm, hệ thống chính trị cơ sở được củng cố, chất lượng hoạt động được nâng lên. Mối quan hệ công tác, lề lối làm việc giữa các tổ chức trong hệ thống chặt chẽ hơn. Hầu hết các tổ chức cơ sở đảng giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, dân chủ trong Đảng, trong xã hội được mở rộng hơn; các cấp ủy đảng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm cơ sở là "cầu nối" giữa Đảng với nhân dân.
Tập trung chỉ đạo phát triển tổ chức đảng và đảng viên ở những địa bàn trắng, những cơ sở khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc. Đã thành lập 126 chi bộ thôn, bản đến nay 100% thôn, bản có đảng viên; chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, tạo điều kiện cho công tác phát triển tổ chức đảng, đảng viên và các đoàn thể quần chúng trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong 4 năm (2006-2009) đã kết nạp 13.695 đảng viên mới (tăng trên 5% so với tổng số đảng viên, đạt chỉ tiêu đề ra). Đã kiện toàn mô hình tổ chức, bộ máy của cấp ủy, sắp xếp tổ chức đảng đồng bộ với các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Công tác luân chuyển, đề bạt, điều động, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện đúng quy định. Đã chú trọng đổi mới quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ theo hướng mở rộng dân chủ, công khai; thực hiện thí điểm cán bộ trình bày đề án công tác khi bổ nhiệm, bổ nhiệm lại; thí điểm bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân tại 21/186 xã, phường. Từ năm 2006 đến nay, đã giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm 241 đồng chí; bổ nhiệm lại 55 đồng chí. Thực hiện luân chuyển 117 lượt cán bộ từ tỉnh xuống huyện, thị xã, thành phố và ngược lại; luân chuyển 191 lượt cán bộ từ huyện thị, thành phố xuống xã, phường, thị trấn và ngược lại.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm chi đạo, tập trung giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay đối với người xin vào Đảng, cán bộ đưa vào quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, nhất là đối với cán bộ dự kiến vào chức danh lãnh đạo chủ chốt; thẩm tra, xác minh vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch nội bộ các cơ quan Đảng.
Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát giữ gìn kỷ luật Đảng, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã tổ chức thực hiện nghiêm túc, có kết quả kế hoạch kiểm tra, giám sát theo chưong trình của Trung ương, của cấp ủy. Nội dung tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, các vấn đề bức xúc phát sinh được cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm; qua đó, giúp cấp ủy đánh giá đúng tình hình, kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai của cấp ủy, chính quyền các cấp. Sau kiểm tra, cấp ủy, chính quyền các cấp đã có chương trình, giải pháp khắc phục.
Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra 1.147 đảng viên (có 424 cấp ủy viên các cấp), 217 tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm; đã kết luận có 924 đảng viên, 89 tổ chức đảng có vi phạm, phải thi hành kỷ lụât 516 đảng viên và 16 tổ chức đảng. Nội dung vi phạm chủ yếu về chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trong đó thiếu tinh thần trách nhiệm và vi phạm về quản lý tài chính, quản lý đất đai chiếm tỷ lệ cao. Từ năm 2006 đến 6/2010, toàn tỉnh đã thi hành kỷ lụât 1.814 đảng viên (khiển trách 995, cảnh cáo 514, cách chức 67, khai trừ 238); có 608 cấp ủy viên các cấp bị kỷ luật, 783 đảng viên bị xử lý hành chính, 139 trưòng hợp bị phạt tù.
Đã chú trọng chỉ đạo đối mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy với yêu cầu sát thực tiễn, sát cơ sở, thực hiện bằng quy chế và các chương trình, kế hoạch cụ thể. Nội dung các chương trình công tác hàng năm của Ban chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp uỷ trực thuộc nhìn chung phù hợp với định hướng của Trung ương và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, cân đối các lĩnh vực nhằm đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình và yêu cầu mới, chú ý tập trung vào các trọng tâm để thúc đẩy kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng. Trong hoạt động của cấp ủy, đã giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao vai trò của tập thể ban chấp hành, ban thường vụ và từng đồng chí cấp ủy viên; thực hiện phân cấp và phát huy vai trò các cơ quan tham mưu, tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện.
7- Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đạt được những kết quả bước đầu tích cực.
Phát huy kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, cấp ủy các cấp đã thành lập ban chỉ đạo, ban hành các chương trình, kế hoạch thực hiện các nội dung và các bước của cuộc vận động; đồng thời chỉ đạo các tổ chức đảng triển khai học tập các nội dung theo chuyên đề và viết thu hoạch, bản đăng ký. Qua kiểm tra, 100% các tổ chức đảng đã tổ chức học tập chuyên đề; tỷ lệ cán bộ, đảng viên tham gia học tập đạt trên 95%; sau các đợt học tập, hầu hết đã tổ chức thảo luận, liên hệ và đề ra những nhiệm vụ cụ thể về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Tất cả cán bộ chủ chốt, người đứng đầu từ cấp phòng trở lên đã viết đăng ký "làm theo" tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cá nhân đảng viên đã liên hệ báo cáo trước chi bộ. Nhiều đơn vị tổ chức cho đảng viên thảo luận nội dung chủ đề gắn với nhiệm vụ được giao.
Qua học tập, nghiên cứu các chủ đề, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiểu sâu sắc thêm về nội dung, tư tưởng, tấm gương đạo đức mẫu mực của Bác; vận dụng trong thực thi nhiệm vụ với ý thức việc gì có lợi cho dân thì phải cố gắng thực hiện. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân đã quan tâm nhiều đến cuộc vận động, coi việc phát động cuộc vận động là sự lựa chọn đúng đắn để tạo nên sự chuyển biến ngày càng tốt hơn.
Kết quả bước đầu của cuộc vận động, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã nâng cao nhận thức, ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống, ý chí vượt khó thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, ý thức phục vụ nhân dân và bước đầu có chuyển biến qua những việc làm cụ thể, thiết thực như: Tập trung chấn chỉnh lập lại trật tự trong khai thác, tiêu thụ than; tăng cường đầu tư đảm bảo an sinh xã hội, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng khó khăn, nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn xây dựng cơ bản góp phần sớm đưa các công trình vào sử dụng; đã thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết công việc cho tổ chức và công dân, giảm kinh phí đi lại và rút ngắn thời gian hội họp thông qua hội nghị trực tuyến; đổi mới việc tổ chức các hoạt động lễ hội…
Nhìn chung, nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được nâng lên, ngày càng xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc khi thực thi pháp luật, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì nhân dân phục vụ, sáng tạo trong lao động, sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh.
II- NHỮNG THIẾU SÓT, YẾU KÉM
1. Kinh tế phát triển khá cao nhưng chưa bền vững, một số ngành phát triển có mặt chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp; những năm cuối nhiệm kỳ, do chịu ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP và một số lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản…) có chậm lại. Kinh tế biển, du lịch, thương mại phát triển còn chậm, thiếu đồng bộ. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và công nghệ của nhiều ngành kinh tế còn thấp.
- Sự phát triển nóng, của ngành than trong khi cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và quản lý nội bộ ngành chưa theo kịp yêu cầu; việc giải quyết ô nhiễm môi trường có mặt còn yếu, thiếu đồng bộ, sự phối kết hợp giữa ngành với địa phương có lúc, có việc chưa hiệu quả.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng còn chậm. Chuyển dịch cơ cấu ngành chưa đáp ứng yêu cầu. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn chậm và chưa có mô hình cụ thể; sản xuất nông nghiệp quy mô vẫn nhỏ và phân tán. Một số khu công nghiệp, khu đô thị phát triển chưa đúng tiềm năng và quy hoạch.
- Triển khai một số dự án hạ tầng quan trọng còn chậm: Đường cao tốc (Hà Nội - Hạ Long, Hạ Long - Móng Cái), đường sắt Hạ Long - Cái Lân, Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà, Sân bay quốc tế Vân Đồn... Chất lượng công tác quy hoạch còn hạn chế, tầm nhìn chưa đủ dài nên chưa thực sự là căn cứ cho định hướng phát triển.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém so với yêu cầu phát triển, đặc biệt là hệ thống giao thông đường bộ. Huy động vốn đầu tư phát triển xã hội đã có bước cải thiện nhưng còn thấp so với khả năng, yêu cầu. Môi trường đầu tư kinh doanh ở một số lĩnh vực còn thiếu đồng bộ và ổn định.
2- Một số lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường còn hạn chế, yếu kém
- Đời sống văn hoá - xã hội mặc dù được đầu tư chăm lo song có mặt chưa tương xứng với phát triển kinh tế; thiếu các thiết chế văn hoá lớn; công tác xã hội hóa và việc huy động nguồn lực xã hội đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá, bảo vệ chăm sóc người già, trẻ em còn hạn chế.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; khoảng cách phát triển giữa các vùng miền còn lớn, đời sống một bộ phận dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, hải đảo còn nhiều khó khăn, chất lượng giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn; vấn đề ô nhiễm môi trường, cảnh quan có thời điểm còn gây bức xúc, lo lắng.
3- An ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội có mặt còn có hạn chế
- Nhận thức, trách nhiệm đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa đầy đủ, có thời điểm còn biểu hiện mất cảnh giác. Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh có lúc, có nơi chưa tốt.
- Các vi phạm về trật tự xã hội có nhiều vấn đề mới, diễn biến phức tạp, nhất là tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh, tội phạm có tính chất côn đồ, manh động, sử dụng vũ khí nóng có chiều hướng gia tăng. Công tác quản lý và tổ chức cai nghiện có mặt hiệu quả chưa cao. Công tác thi hành án dân sự còn hạn chế; việc phối hợp giữa các cơ quan tư pháp có lúc, có việc chưa chặt chẽ. Tai nạn giao thông, tai nạn lao động còn nhiều vụ nghiêm trọng; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp.
4 - Hoạt động của bộ máy chính quyền trên một số lĩnh vực còn yếu kém, chưa theo kịp yêu cầu phát triển
- Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, tài nguyên (đất, khoáng sản), môi trường, đô thị . . . còn thiếu sót, chưa theo kịp yêu cầu, để xảy ra vi phạm.
- Công tác kiểm tra, đôn đốc của một số ngành, địa phương, có mặt, có lúc còn chậm; việc tham mưu, đề xuất chưa chủ động, đôi khi thiếu cụ thể; sự phối hợp giữa một số ngành trong giải quyết công việc chưa đồng bộ. Chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu; một số nơi cán bộ, công chức chưa gương mẫu trong thực thi công vụ, còn vi phạm kỷ luật. Công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu.
- Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có mặt hiệu quả chưa cao. Khiếu nại, tố cáo vẫn còn phức tạp, việc phát huy trách nhiệm và sự phối hợp trong giải quyết khiếu nại tố cáo của một số ngành, địa phương còn hạn chế.
5- Công tác xây dựng Đảng và sự lãnh đạo của cấp ủy đối với mặt trận, đoàn thể có mặt còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới
- Tính thuyết phục trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa cao: việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiệu quả còn mức độ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, sa sút ý chí, vi phạm kỷ luật. Ở một số nơi vai trò của người đứng đầu có mặt còn hạn chế.
- Cuộc vận động ’’Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’’ chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn có biểu hiện hình thức. Kết quả ’’làm theo’’ còn hạn chế, có mặt chưa thực chất.
- Chưa làm tốt công tác đánh giá cán bộ; công tác quy hoạch, bổ sung quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng và đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa được kết hợp chặt chẽ. Việc đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số cơ sở chưa sát, có nơi còn chạy theo thành tích. Việc kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm còn thiếu chủ động; chất lượng, hiệu quả công tác giám sát chưa cao, có nơi còn lúng túng.
- Xây dựng, chỉnh đốn đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên tuy có tiến bộ song có mặt chưa đạt yêu cầu. Đổi mới hoạt động của cấp uỷ đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị chuyển biến chậm. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng, chất lượng sinh hoạt đảng, vai trò lãnh đạo của cấp uỷ trong các loại hình doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Công tác quản lý đảng viên có mặt chưa chặt chẽ, có nơi sinh hoạt đảng chưa đều, nội dung nghèo nàn, đấu tranh phê bình yếu. Chất lượng tham mưu của một số cơ quan giúp việc cho cấp uỷ các cấp còn hạn chế, chậm đổi mới.
- Công tác giám sát và phản biện xã hội của mặt trận Tô quốc và các đoàn thể hiệu quả còn thấp. Việc tuyên truyền vận động, tập hợp thu hút đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động còn hạn chế. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuy có cố gắng song có nơi, có việc còn mang tính hành chính.
6- Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót
- Về khách quam: Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát trong những năm cuối nhiệm kỳ, tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến bất thường…đã tác động tiêu cực đến các ngành sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước còn vướng mắc do bất cập, không đồng bộ nhưng chậm được tháo gỡ, sửa đổi.
- Về chủ quan: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của một số cấp uỷ đảng chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền trên một số lĩnh vực còn hạn chế, có mặt yếu kém. Sự phối hợp giữa các ngành trong giải quyết công việc chưa chặt chẽ. Cơ chế, chính sách của địa phương đề ra chưa đủ mạnh, qua thực tiễn chưa thực hiện được nhiều. Còn chậm trong đề xuất với Trung ương những cơ chế, chính sách mang tính đột phá, thúc đẩy Quảng Ninh phát triển và trong phối hợp với các bộ, ngành Trung ương để cụ thể hoá và triển khai thực hiện các chủ trương chính sách lớn của Đảng, Chính Phủ trên địa bàn.
III- ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT
Năm năm qua, trong bối cảnh có khó khăn, nhất là tác động của suy giảm kinh tế trong 2 năm cuối nhiệm kỳ, song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra và đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.
(1) Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tiềm lực và quy mô tăng khá. Tổ ng sản phẩm xã hội (GDP) tăng bình quân 12,5%/năm, tăng 4.872 tỷ đồng so với năm 2006 (theo giá thực tế tăng 12.456 tỷ đồng); tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 137.043 tỷ đồng, tăng bình quân 27,3%/năm; tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 69.940 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm, đã vươn lên là một trong 6 tỉnh có số thu cao nhất cả nước.
Huy động vốn đầu tư phát triển tiếp tục tăng, trong đó đầu tư từ vốn trong nước chiếm tỷ trọng lớn. Đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách có tiến bộ vượt bậc. Đã đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng (cầu, đường, nhiệt điện, xi măng, cảng biển. . .), hạ tầng kinh tế - xã hội ở các địa phương có sự cải thiện đáng kể, làm động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
(2) Văn hoá - xã hội được quan tâm, có bước phát triển, tiến bộ. Ngân sách đầu tư cho phát triển giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa 5 năm đạt 1.961 tỷ đồng, tăng bình quân 35,6%/năm. Đã hoàn thành nâng cấp mở rộng các bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viên đa khoa khu vực, bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế xã góp phần giảm tình trạng quá tải và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân. Chất lượng giáo dục có chuyển biến, Quảng Ninh là một trong 10 tỉnh đứng đầu cả nước vê kết quả thi tốt nghiệp lớp 12, học sinh giỏi quốc gia, học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng. Đầu tư cho an sinh xã hội tăng cao, 5 năm đạt 1.404 tỷ đồng, tăng bình quân 59%/năm, đã góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững an ninh nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc.
(3) Quốc phòng - an ninh và công tác quán lý nhà nước về biên giới, vùng biển được củng cố, tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; công tác cải cách tư pháp được đẩy mạnh và chuyển biến tích cực. Hoạt động khai thác, tiêu thụ than trái phép được tập trung giải quyết. Tệ nạn xã hội được ngăn chặn có kết quả. Quan hệ hợp tác đối ngoại đối với các địa phương trong nước và quốc tế được tăng cường; các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư thu được kết quả.
(4) Công tác lãnh đạo, điều hành từ tỉnh đến cơ sở có đổi mới, tiến bộ. Cấp uỷ, chính quyền các cấp đã chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện; từng bước sâu sát cơ sở, tăng cường kiểm tra, khảo sát nắm tình hình, tiến độ thực hiện để kịp thời xử lý tại chỗ những vướng mắc, tạo điều kiện cho quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đã tranh thủ có hiệu quả sự ủng hộ, tạo điều kiện, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Chính phủ và tăng cường xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các bộ, ngành Trung ương.
(5) Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được tăng cường và đạt kết quả tích cực. Hệ thống chính trị được củng cố. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục trưởng thành về mọi mặt, giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, quản lý được nâng cao, ý thức rèn luyện, tu dưỡng có chuyển biến. Một số nội dung đổi mới, thí điểm trong công tác cán bộ bước đầu đạt hiệu quả; dân chủ được mở rộng. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm tương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt một số kết quả bước đầu.
(6) Công tác vận động quần chúng và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội có chuyển biến tiến bộ, tích cực tham gia với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề nhạy cảm, bức xúc: quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Nhìn lại sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với những nỗ lực, cố gắng không ngừng, tỉnh Quảng Ninh đã có bước tiến bộ, chuyển biến căn bản, phát triển khá toàn diện trên tất cả các mặt, tiếp tục tự cân đối lại ngân sách và có đóng góp chung với cả nước. Những kết quả, thành tựu đạt được trong 5 năm qua tiếp tục khẳng định vị thế, vai trò động lực của tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng đồng bằng Sông Hồng, tạo ra thế và lực mới rất quan trọng cho sự phát triển của tỉnh trong những năm tới.
Tuy nhiên, những thiếu sót, yếu kém đã đề cập ở trên có ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chung và đang là một cản trở không nhỏ đối với sự phát triển trong thời gian tới, đòi hỏi toàn Đảng bộ phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, chủ động, tích cực phấn đấu để khắc phục, vượt qua.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Một là , nắm vững bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm tổ chức thực hiện và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tế của địa phương. Chủ động, tích cực tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành Trung ương, huy động sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của tầng lớp nhân dân để tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả.
- Hai là , coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững; kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại. Đảm bảo an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là với người nghèo, đồng bào vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa.
- Ba là , chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết nội bộ, phát huy dân chủ; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo; thực hiện cải cách hành chính đi đôi với xây dựng, củng cố bộ máy chính quyền để thực sự phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành; phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên công chức vững vàng về chính trị tư tưởng, có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ. Phát huy dân chủ gắn với chăm lo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
- Bốn là, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải nhạy bén, kiên quyết bám sát thực tiễn để có các giải pháp, chính sách phù hợp, không rập khuôn, máy móc. Có chính sách huy động tối đa nguồn nội lực. Chủ động trong công tác dự báo để có kế hoạch, giải pháp thích hợp, có lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, phân công, phân nhiệm cụ thể nhằm phát huy vai trò từng tập thể, cá nhân. Điều hành tập trung tăng cường kiểm tra, đôn đốc khuyến khích sự chủ động, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhất là với người đứng đầu. Phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy Đảng các cấp, nhất là những vấn đề lớn, nhạy cảm, dư luận quan tâm.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2010 – 2015
I - BỐI CẢNH, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỈNH QUẢNG NINH TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1- Những thuận lợi cơ bản
Là tỉnh địa đầu, phên dậu Đông Bắc của Tổ quốc; tuyến biên giới có xu hướng ổn định và xuất hiện những yếu tố thuận lợi; với những ưu thế trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng đồng bằng Sông Hồng, Quảng Ninh đã được các nghị quyết, quyết định của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ xác định khá rõ nét về định hướng phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2020; Quảng Ninh còn là cái nôi của cách mạng, của giai cấp công nhân, đó là những yếu tố thuận lợi thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển của tỉnh trong thời gian tới.
-Tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa cao. Năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế đã tăng lên đáng kể; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực; lợi thế của từng ngành, từng vùng đang được phát huy; chất lượng tăng trưởng đã có những cải thiện; các doanh nghiệp bước đầu đã thích nghi với quá trình hội nhập kinh tế, tự chủ hơn trong cơ chế thị trường. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện, đã và đang phát huy hiệu quả.
-Cùng với Vịnh Hạ Long, khu di tích danh thắng Yên Tử, khu di tích lịch sử Bạch Đằng nổi tiếng và hệ thống các di tích rất thuận lợi cho phát triển du lịch, trên địa bàn tỉnh đã cơ bản hình thành một số trung tâm công nghiệp với các nhà máy nhiệt điện, xi măng, cơ khí đóng tàu và sản xuất than, khu kinh tế Vân Đồn, các khu du lịch sinh thái, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu với các hệ thống cảng biển, đường cao tốc, sân bay sẽ được triển khai thực hiện; hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển..., là điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn.
-Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành có thêm những kinh nghiệm, từng bước thích ứng với môi trường hội nhập.
2-Những khó khăn, thách thức
-Khủng hoảng tài chính và sự suy giảm kinh tế thế giới tác động rất lớn đến tình hình trong nước; thiên tai, dịch bệnh khó lường sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh, đời sống của nhân dân và việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Quá trình hợp tác phát triển tạo ra sự cạnh tranh không nhỏ trong việc thu hút các nguồn lực cả trong nước và ngoài nước.
-Công tác quy hoach chưa đồng bộ, nhiều lĩnh vực còn chậm; hạ tầng giao thông đang bộc lộ sự bất cập lớn, không theo kịp sự phát triển. Ô nhiễm môi trường do việc khai thác than nhiều năm và quá trình đô thị hóa ngày càng gia tăng. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Mâu thuẫn, tác động đan xen giữa phát triển công nghiệp với các ngành kinh tế khác trên địa bàn.
-Quy mô sản xuất một số ngành nhỏ bé, phân tán, chất lượng hàng hóa thấp, chi phí sản xuất cao, kém tính cạnh tranh; sản xuất nông nghiệp manh mún, giá trị sản xuất thấp, chưa tận dụng hết các tiềm năng lợi thế về đất đai và thị trường để phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế đang là thách thức lớn cho các đơn vị sản xuất – kinh doanh.
II - ĐỊNH HƯỚNG PHẤN ĐẤU GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
1 - Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững trên cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế; đẩy mạnh đầu tư, tạo bước phát triển đột phá về cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị; phát triển văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội tương xứng với phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, một trong những cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, một khu vực phát triển năng động của kinh tế biển và ven biển, đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
2 – Quan điểm phát triển
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả tăng trưởng để phát triển nhanh, bền vững, toàn diện hơn. Tạo bước phát triển rõ nét, nâng cao vị thế chiến lược của Quảng Ninh và tạo dựng các yếu tố cần thiết để trở thành một mắt xích quan trọng trong hợp tác Việt Nam – ASEAN – Trung Quốc.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Tập trung ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm về hạ tầng giao thông, đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, tạo động lực phát triển kinh tế với tốc độ cao, bền vững.
- Đẩy mạnh phát triển văn hóa – xã hội, đảm bảo an sinh xã hội tương xứng với phát triển kinh tế. Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các địa phương, vùng miền. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Tăng cường thu hút dân cư góp phần tăng dân số địa phương.
- Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới trên bộ, trên biển; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; chủ động hội nhập quốc tế.
- Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
3- Chi tiêu chủ yếu
a- Về kinh tế:
- Tăng trưởng GDP bình quân (giá so sánh): 13% trở lên/ năm
- Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng bình quân: 13,5 – 13,8%/năm
- Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, ngư tăng bình quân: 3,5 – 3,8%/năm
- Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng bình quân: 14,4 – 14,7%/năm
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: 7%/năm
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân: 10 – 12%/năm
- Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế năm 2015
+ Công nghiệp và xây dựng: 53%
+ Nông, lâm, ngư nghiệp: 4%
+ Các ngành dịch vụ: 43%
- GDP bình quân đầu người năm 2015: 3.000 – 3.050 USD
b- Về xã hội:
- Gải quyết việc làm mới hàng năm: 2,6 vạn lao động
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo ( theo chuẩn quốc gia mới): 1,1%/năm
- Giảm tỷ sinh bình quân: 0,02%/năm
- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2015 xuống còn: 15%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt: 60%
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2015 xuống: 4,3%
c- Về môi trường (đến năm 2015):
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt: 53,5% trở lên
- Tỷ lệ dân nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh: trên 95%
- Thu gom chất thải rắn ở đô thị đạt: 90%
d- Về xây dựng Đảng
- Tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh đạt: 75%/năm
- Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt: 75%/năm
- Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới đạt: 3 – 5%/năm
4- Phương hướng
(1) Phát huy mạnh mẽ lợi thế về vị trí địa chính trị, tài nguyên khoáng sản và tiềm năng du lịch nhằm huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh hơn, bền vững hơn để Quảng Ninh cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại hóa vào năm 2015. Tập trung phát triển mạnh các ngành kinh tế:
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, trọng tâm là dịch vụ thương mại quốc tế, dịch vụ vận tải đường bộ, đường biển, những lĩnh vực có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh nhằm khai thác tốt và khẳng định vị trí cửa ngõ giao lưu chính của Vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ và giữa Việt Nam – ASEAN với Trung Quốc.
- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp gắn với phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, bảo vệ giải quyết ô nhiễm môi trường sinh thái; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tạo điều kiện phát triển mạnh công nghiệp khai khoáng theo hướng hiện đại, tiết kiệm tài nguyên. Ưu tiên những ngành có giá trị gia tăng cao theo hướng giảm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thô, tăng sản phẩm chế tạo, chế biến. Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành nhiệt điện, xi măng, cơ khí chế tạo, vận tải biển, hóa chất nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa và đưa công nghiệp giữ vững vai trò động lực trong phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp đóng tàu và dịch vụ vận tải biển. Đầu tư có chiều sâu, hiện đại hóa các nhà máy cơ khí, đóng tàu hiện có. Tiếp tục nâng cấp mở rộng hoàn thiện các khu công nghiệp đóng tàu; triển khai xây dựng một số nhà máy đóng tàu quy mô lớn. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư đồng bộ hạ tầng các khu công nghiệp đã quy hoạch gắn với ban hành cơ chế thu hút nhà đầu tư vào khu công nghiệp.
- Tạo bước phát triển nhanh, rõ nét về du lịch; xây dựng Hạ Long, Uông Bí, Vân Đồn, Móng Cái thành những trung tâm du lịch đẳng cấp quốc tế nhằm khai thác và phát huy tối đa lợi thế Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, khu di tích danh thắng Yên Tử và các khu di tích lịch sử văn hóa khác.
(2) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng an ninh và xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển ổn định lâu dài.
- Đẩy mạnh đầu tư nâng cấp và xây dựng kết cấu hạ tầng tuyến biên giới đất liền và vùng biển, tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng biển và xây dựng tuyến biên giới giàu mạnh.
- Quan tâm phát triển các dự án và xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng biên giới. Phát triển mạnh kinh tế biển, đảo gắn với xây dựng vùng biển đảo Cô Tô, Vân Đồn.
- Có cơ chế, chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư hợp lí với các đối tác tạo thế đan xen lợi ích trên địa bàn toàn tỉnh, chú trọng địa bàn thành phố Móng Cái, huyện Hải Hà, Bình Liêu,Vân Đồn.
- Tăng cường xây dựng, củng cố an ninh cơ sở, nhất là vùng nông thôn, vùng dân tộc, miền núi, hải đảo. Đầu tư nhiều hơn cho vùng miền núi, dân tộc còn nhiều khó khăn.
(3) Tăng cường đầu tư các thiết chế văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội. Đẩy mạnh đầu tư đưa vào sử dụng một số thiết chế văn hóa thể thao trọng điểm vùng Đông Bắc, thư viện, bảo tàng, nhà triển lãm, nhà hát của tỉnh, các công trình thiết chế văn hóa tại một số địa phương. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bình đẳng giới, giải quyết việc làm, giảm nghèo vững chắc, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; đảm bảo an sinh xã hội; đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Bảo vệ và cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái; chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
(4) Tập trung đầu tư đưa vào sử dụng các tuyến giao thông huyết mạch tạo tiền đề, động lực phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, nhất là trục đô thị Móng Cái – Cẩm Phả - Hạ Long – Uông Bí, đáp ứng tiến trình hội nhập quốc tế, góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh, như đường cao tốc Nội Bài – Hạ Long, Hạ Long – Móng Cái, đường nối Quảng Ninh với Quốc lộ 5B, trục giao thông ven biển Hạ Long – Móng Cái – Hải Phòng – Ninh Bình và các tuyến đường xương cá nối với các cửa khẩu Bắc Phong Sinh, Hoành Mô… Phát triển mạnh các khu đô thị công nghiệp, tạo bước chuẩn bị về nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác để thu hút nhân lực cho phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế mới.
(5) Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ có giá trị gia tăng cao phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành kinh tế. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, dịch vụ, phát triển mạnh những ngành có lợi thế, gắn với thu hút đầu tư phát triển những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Chú trọng thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao và công nhân kĩ thuật lành nghề.
(6) Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp , tạo bước chuyển rõ rệt về cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; thực hiện nhất quán các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư,tạo môi trường đầu tư lành mạnh.
(7) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ mới. Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy đảng. Củng cố và nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng; rèn luyện, nâng cao trình độ, tính kỉ luật, tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Thường xuyên duy trì và nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và vai trò của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân.
III – NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1- Phát triển kinh tế
1.1- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển cả bề rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả để phát triển kinh tế nhanh, bền vững.
Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, nguồn lực chất lượng cao, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm; phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Sớm đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh phát triển năng động về kinh tế cửa khẩu, kinh tế biển, trong đó tập trung phát triển kinh tế hàng hải – cảng biển, du lịch biển, đảo; xây dựng khu kinh tế, các khu kinh tế cửa khẩu nhằm đẩy mạnh phát triển thương mại biên giới, các khu công nghiệp tập trung, khu đô thị ven biển, gắn với phát triển vùng biển đảo Vân Đồn, Cô Tô.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện tốt chủ trương thu hút nguồn lực đầu tư từ các thành phần kinh tế nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu nội ngành theo hướng tăng tỷ trọng khu vực ngoài nhà nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp.
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Phát triển ngành nghề để tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập. Tăng cường liên kết, khai thác phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, tạo điều kiện và phát huy vai trò của các khu kinh tế, khu công nghiệp, tạo sức lan tỏa, thúc đẩy các địa phương lân cận phát triển.
1.2- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh.
Phát triển công nghiệp với tốc độ cao, nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp thông qua chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tăng công nghiệp chế tạo, chế biến. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ sạch, giá trị gia tăng lớn, có nhiều sản phẩm tham gia xuất khẩu nhằm đưa công nghiệp giữ vững vai trò động lực trong phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất than đảm bảo đúng quy hoạch được duyệt và đồng bộ với phát triển hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên, cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái; đến năm 2015 sản lượng than sạch đạt 60-65 triệu tấn.
Tập trung tạo điều kiện phát triển các ngành điện, hóa chất, năng lượng tái tạo nhằm đảm bảo nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở quy hoạch, tập trung phát triển mở rộng nhiệt điện chạy than nhằm tiết kiệm tài nguyên và khai thác tối đa lợi thế một số địa bàn: Mạo Khê – Uông Bí, Mông Dương – Cẩm Phả và các khu công nghiệp cảng biển Hải Hà, Yên Hưng. Đẩy nhanh tiến độ thi công, đưa vào hoạt động các nhà máy nhiệt điện Uông Bí II, Cẩm Phả II, Hà Khánh, Mạo Khê; triển khai xây dựng các nhà máy điện Mông Dương I, II, Thăng Long; đến năm 2015, đưa tổng công suất điện trên địa bàn đạt trên 7500MW. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp đóng tàu, mở rộng Khu công nghiệp đóng tàu Cái Lân, Nhà máy đóng tàu Hạ Long, Hà An. Đẩy nhanh tiến bộ đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng các khu công nghiệp đã quy hoạch gắn với ban hành cơ chế thu hút nhà đầu tư vào khu công nghiệp và hình thành các cụm công nghiệp mới. Triển khai Khu công nghiệp – cảng biển Hải Hà, Khu công nghiệp dịch vụ Đầm Nhà Mạc. Phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo thiết bị khai khoáng, nhiệt điện, vận tải biển và công nghiệp phụ trợ gắn với phân công hợp tác quốc tế và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để tăng khả năng cung cấp nguyên phụ liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy, đóng tàu thủy… nhằm nâng tỉ lệ nội địa hóa.
Tập trung phát triển, nâng cao chất lượng sản xuất vật liệu xây dựng, đi đôi với áp dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm tài nguyên, đa dạng hóa chủng lọai vật liệu xây dựng nhằm thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Hoàn thiện đầu tư các nhà máy xi măng; nghiên cứu đầu tư xây dựng một số nhà máy sản xuất vật liệu phục vụ công nghiệp cán thép, vật liệu nhẹ, khuyến khích phát triển nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng không nung. Duy trì tổng công suất xi măng ổn định 7,5 triệu tấn/năm.
Phát triển và hiện đại hóa ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tăng nhanh năng lực, sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu xây dựng trong tỉnh, trong nước. Nâng cao chất lượng công tác thiết kế, quy hoạch xây dựng và chất lượng các công trình xây dựng.
Phấn đấu giá trị gia tăng ngành công nghiệp – xây dựng bình quân 5 năm đạt 13,5%-13,8%. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân 5 năm tăng 18,4%. Tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến trong công nghiệp đạt 65%.
1.3 – Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, gắn với giải quyết có hiệu quả vấn đề nông dân, nông thôn. Ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng năng suất, chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi; bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, lựa chọn cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, chuyển tăng trưởng từ số lượng sang tăng trưởng về giá trị trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng đất để tăng giá trị sản xuất và thu nhập trên một đơn vị diện tích; phát triển kinh tế hộ, trang trại, vùng chuyên môn hóa. Thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ “4 nhà”: nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước, trong sản xuất nông nghiệp.
Phát triển nông nghiệp hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, gắn sản xuất với chế biến và thị trường. Giữ ổn định diện tích trồng lúa theo quy hoạch, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực. Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng tập trung, gắn với chế biến sản phẩm và xử lí chất thải. Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; tăng diện tích trồng rừng, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng. Tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng; phát triển mạnh trồng rừng kinh tế. Phát triển thủy sản đa dạng theo quy hoạch và bền vững giữa khai thác, nuôi trồng và chế biến, chuyển mạnh xuất khẩu sản phẩm qua chế biến. Đẩy mạnh đánh bắt hải sản xa bờ và hiện đại hóa các cơ sở chế biến thủy sản, đưa thủy sản trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
Nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công tác xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, địa phương. Đẩy mạnh đưa công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, có kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân. Tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa. Chú trọng bảo vệ môi trường nông thôn. Xây dựng, nhân rộng mô hình nông thôn mới.
Phấn đấu giá trị tăng thêm sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 5 năm tăng 3,5%-3,8%; tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 5 năm tăng 5-5,5%. Phấn đấu đến năm 2015: tỷ lệ che phủ rừng đạt 53,5% trở lên; tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 40-45% giá trị toàn ngành; thu nhập của người dân nông thôn gấp 2-2,5 lần so với năm 2010.
1.4- Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, trọng tâm là dịch vụ thương mại, du lịch và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao
Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng phục vụ các hoạt động dịch vụ một cách đồng bộ nhằm phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Phấn đấu giá trị tăng thêm ngành dịch vụ bình quân 5 năm đạt 14,4-14,7%; tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân 5 năm đạt khoảng 16%; khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh đạt 3,3 triệu lượt khách vào năm 2015.
Trong 5 năm tới, phát triển toàn diện khu vực dịch vụ, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế để tăng khả năng cạnh như: Kinh tế cửa khẩu, viễn thông, giáo dục và đào tạo, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, cảng biển, du lịch, trong đó dịch vụ thương mại, du lịch là những ngành có tính "đột phá". Tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động dịch vụ. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý thị trường, ngăn chặn có hiệu quả hàng giả, buôn lậu và gian lận thương mại.
Phát triển hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại hiện đại ở các thành phố, thị xã và khu công nghiệp, khu kinh tế. Tiếp tục đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Móng Cái để giữ vai trò cửa ngõ giao lưu chính của Vành đài kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc và giữa Việt Nam - ASEAN - Trung Quốc. Xuất khẩu hàng hóa với tốc độ tăng trưởng hợp lý theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, giảm dần tỷ trọng hàng thô. Phấn đấu đến năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 2,9 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân 5 năm 7%, trong đó địa phương tăng 15%.
Tạo bước phát triển nhanh, rõ nét về du lịch để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Xây dựng Hạ Long, Uông Bí, Móng Cái, Vân Đồn thành những trung tâm du lịch đạt đẳng cấp quốc tế, nhằm khai thác và phát huy tối đa lợi thế so sánh của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, khu di tích danh thắng Yên Tử và các khu di tích lịch sử văn hóa khác. Hình thành các khu du lịch sinh thái cao cấp và đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nhất là sản phẩm vui chơi giải trí chất lượng cao nhằm tăng thời gian lưu trú của du khách. Phấn đấu khách du lịch quốc tế bình quân 5 năm tăng khoảng 7,8%, khách nội địa tăng khoảng 5,8%.
Phát triển dịch vụ vận tải đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách, nhất là khách nội địa và vận tải hàng hóa xuất khẩu, quá cảnh. Khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng bình quân 5 năm 20%; khối lượng hành khách vận chuyển tăng bình quân 5 năm 25%; đến năm 2015 sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển, cảng sông đạt 55 đến 60 triệu tấn.
1.5- Thực hiện tốt các chính sách tài chính tín dụng, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện nghiêm túc luật Ngân sách Nhà nước, các luật Thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ và tạo điều kiện nuôi dưỡng các nguồn thu. Tăng cường công tác quản lý ngân sách, mở rộng việc phân cấp tạo điều kiện chủ động cho địa phương trong việc điều hành ngân sách. Thực hiện nghiêm quy định của Chính phủ về mua sắm, sử dụng tài sản; triệt để thực hành tiết kiệm trong chi ngân sách, chống lãng phí, ưu tiên vốn đầu tư cho các công trình, dự án kinh tế- xã hội trọng điểm.
Nâng cao chất lượng tín dụng, đưa hoạt động ngân hàng lành mạnh an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn cho mọi đối tượng. Tăng cường các tiện ích ngân hàng khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
1.6 - Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả đầu tư
Tập trung xây dựng, tạo bước phát triển đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là hạ tầng giao thông, du lịch, hạ tầng đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong những năm tới. Triển khai hiệu quả các nguồn vốn Nhà nước cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm, các vùng đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, khu vực cửa khẩu. Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là từ quỹ đất. Huy động các nguồn lực xã hội, chú trọng khu vực dân doanh cho đầu tư hạ tầng khu dân cư. Chủ động tích cực phối hợp với các bộ ngành Trung ương, huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài triển khai xây dựng các công trình hạ tầng có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển nhưng cần nguồn vốn lớn đã được Trung ương xác định.
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế phải bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, trọng tâm, trọng điểm đầu tư tập trung, dứt điểm, không dàn trải. Bố trí cơ cấu đầu tư hợp lý, trong đó tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa lớn, khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, đầu tư có mục tiêu cho các công trình văn hóa xã hội. Đảm bảo cân đối các nguồn vốn đầu tư trên cơ sở quy hoạch và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung đầu tư cho các dự án quan trọng, các dự án hoàn thành, đưa nhanh vào khai thác sử dụng. Đa dạng hóa các hình thức đầu tư phát triển và kinh doanh hạ tầng, chú trọng đầu tư chung cư và nhà ở cho người có thu nhập thấp. Tăng cường công tác quản lý, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đầu tư, để nâng cao chất lượng các dự án đầu tư, chống lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản.
Tập trung đầu tư đưa vào sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm, tạo tiền đề, động lực phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng tiến trình hội nhập quốc tế, góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh. Báo cáo Trung ương huy động nguồn lực sớm triển khai xây dựng một số tuyến giao thông huyết mạch: đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái, đường ven biển Hạ Long - Móng Cái -Hải Phòng - Ninh Bình. Hoàn thành xây dựng Cầu Bắc Luân II, cầu Vân Tiên. Nâng cấp, xây dựng mới một số cầu trọng yếu thuộc các tuyến tỉnh lộ và đường ra biên giới.
Xây dựng hoàn chỉnh Cảng Cái Lân, nâng công suất đến năm 2015 đạt khoảng 15 triệu tấn. Tiếp tục nâng cấp Cảng Mũi Chùa thành cảng cửa ngõ của khu vực miền đông Quảng Ninh và các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Xây dựng cảng Vạn Hoa phục vụ Khu kinh tế Vân Đồn. Đầu tư mở rộng Cảng Vạn Gia và một số cảng nội địa đáp ứng yêu cầu phát triển của Móng Cái, đồng thời là cửa ngõ giao lưu với Trung Quốc. Đầu tư tổ hợp cảng biển Đầm Nhà Mạc thành một bộ phận của Cảng cửa ngõ Lạch Huyện. Xây dựng Cảng Hải Hà gắn với Khu công nghiệp Hải Hà phục vụ vận tải cho phía Bắc Việt Nam và vùng Nam Trung Quốc.
Hoàn thành xây dựng tuyến đường sắt Yên Viên - Hạ Long - Cái Lân, nghiên cứu xây dựng mới tuyến đường sắt Hạ Long - Móng Cái, đường sắt chạy song song với quốc lộ 4B nối từ Lạng Sơn tới cảng Mũi Chùa. Đầu tư sân bay quốc tế Vân Đồn (giai đoạn I). Xây dựng mới các tuyến đường dây tải điện quan trọng; ưu tiên đầu tư hệ thống cấp điện cho các đảo.
Đầu tư hệ thống tưới tiêu hồ Đầm Hà Động, nâng cấp một số hồ, đập nhằm nâng cao sức chứa phục vụ sản xuất, sinh hoạt; triển khai xây dựng hồ Khe Cát (Tiên Yên), một số hồ, đập theo quy hoạch. Nâng cấp, mở rộng các nhà máy nước hiện có. Đầu tư nâng cấp hệ thống thoát nước tại các đô thị.
1.7 - Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển thích ứng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân. Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Phát triển kinh tế thị trường, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách.
Tiếp tục cụ thể hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Tiếp tục đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể hóa việc đổi mới tổ chức, cơ chế hoạt động các đơn vị dịch vụ công phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã. Tạo điều kiện phát triển các hợp tác xã, các trang trại, gia trại. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân theo quy định của pháp luật. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp với hình thức sở hữu hỗn hợp.
Phát triển mạnh thị trường bất động sản và lao động. Có chính sách cụ thể để tạo quỹ đất “sạch” và tiếp tục đẩy mạnh chuyển đất từ nguồn tài nguyên thành vốn, cơ bản áp dụng hình thức đấu giá quyền sử dụng đất xây dựng nhằm tăng thu cho ngân sách và tạo điều kiện trong chuyển quyền sử dụng đất, sở hữu bất động sản. Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất canh tác; phát triển các trang trại, gia trại có quy mô lớn và vừa tại một số địa phương có điều kiện. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết vấn đề thiếu lao động qua đào tạo, lao động có tay nghề cao; đa dạng hóa các hình thức đào tạo, nhất là đào tạo nghề, dịch vụ giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động. Hỗ trợ, nâng cao năng lực các trung tâm giới thiệu việc làm, hội chợ việc làm. Tạo điều kiện và khuyến khích người lao động tự tạo việc làm.
1.8 - Mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác phát triển với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và các tỉnh miền Duyên Hải, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Vùng đồng bằng Sông Hồng, đặc biệt với thành phố Hải Phòng. Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục phát triển các mối quan hệ truyền thống trong phát triển du lịch, thương mại, các địa phương có di sản thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực và bản sắc văn hóa dân tộc. Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Chú trọng xúc tiến thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác có hiệu quả các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ phục vụ phát triển.
Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, đối thoại biên giới. Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức đối ngoại và hội nhập quốc tế cho cán bộ chủ chốt các cấp. Chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.
1.9- Phát triển hài hòa và phát huy vai trò các vùng, miền
Phát triển kinh tế - xã hội hài hòa giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn. Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương; tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư trùng lắp, thiếu liên kết giữa các địa phương, đảm bảo tất cả các vùng, các địa phương đều có bước phát triển mới.
Vùng đô thị , quan tâm đầu tư chỉnh trang và mở rộng không gian các đô thị, tiếp tục ưu tiên đầu tư nhằm phát huy vai trò trung tâm chính trị, văn hóa, hành chính, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kinh tế cửa khẩu để lôi kéo, hỗ trợ các vùng khác phát triển. Phát triển thành phố Hạ Long trở thành đô thị loại I vào năm 2013; thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái thành đô thị loại II và tái lập thị xã Quảng Yên trước năm 2015; thị xã Uông Bí thành thành phố vào năm 2011; chuẩn bị các điều kiện thành lập thị xã Tiên Yên sau năm 2015. Vùng đồng bằng, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và giá trị trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Vùng miền núi, biên giới, tiếp tục ưu tiên đầu tư nhằm khai thác tốt hơn lợi thế về đất rừng để phát triển cây công nghiệp, gỗ nguyên liệu, chăn nuôi gia súc, kinh tế trang trại, buôn bán tiểu mạch. Vùng ven biển và biển, tập trung đầu tư phát triển Khu kinh tế Vân Đồn, Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Vịnh Bắc Bộ tại Cô Tô; phát triển đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, vận tải, khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến.
2 - Phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội
2.1 - Nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực
Phát triển toàn diện và mạnh mẽ giáo dục, đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Hoàn thành các chỉ tiêu về phổ cập giáo dục ở các ngành học, cấp học. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Triển khai mạnh mẽ đào tạo theo nhu cầu, thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Tập trung củng cố và hiện đại hóa cơ sở vật chất các trường dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học và phân hiệu trường đại học hiện có.
Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng kết quả kiên cố hóa trường, lớp học, nhà công vụ cho giáo viên, ưu tiên cho giáo dục vùng sâu, vùng cao, vùng khó khăn, vùng có mật độ dân cư đông, đảm bảo đủ phòng học cho hệ giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và trung học cơ sở học 2 buổi/ ngày, ưu tiên cao tầng hóa các trường học ở nơi khó khăn về đất, ưu tiên đầu tư cho các trường chuyên biệt, giáo dục mầm non. Phấn đấu đến năm 2015 có số trường đạt chuẩn quốc gia đạt 70%. Kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, đào tạo. Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, coi trọng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực đào tạo nghề; khuyến khích, tạo điều kiện đi đào tạo nước ngoài; đồng thời có chính sách thu hút nhân tài và nguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao về công tác trên địa bàn tỉnh.
2.2- Đẩy mạnh đầu tư, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ chăm sóc bà mẹ, trẻ em. Tăng cường công tác y tế dự phòng. Củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Huy động mọi nguồn lực tập trung phát triển các cơ sở khám, chữa bệnh, khắc phục tình trạng quá tải trong các bệnh viện. Tăng đầu tư nhà nước đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, truyền thông giáo dục sức khỏe. Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các bệnh viện, các trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, tuyến huyện và đẩy nhanh tiến độ đầu tư bệnh viện chuyên khoa. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế; tăng cường đào tạo cho y tế cơ sở. Phấn đấu đến năm 2015, tuổi thọ bình quân 75 tuổi, 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng 6 loại vắc-xin trở lên; 100% số xã có bác sĩ; 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế.
Huy động cộng đồng tích cực tham gia các hoạt động vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe, rèn luyện thân thể. Nâng cao thể lực, giảm tỷ lệ mắc bệnh, tăng tuổi thọ và phát triển nòi giống. Kiềm chế và giảm mạnh lây nhiễm HIV. Phấn đấu để mọi người dân được cung cấp các dịch vụ y tế thông thường, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng cao. Duy trì mức sinh hợp lý, có giải pháp tăng dân số cơ học phục vụ phát triển kinh tế.
Đẩy mạnh lồng ghép kế hoạch hóa gia đình với các nội dung sức khỏe sinh sản, đặc biệt là các vùng khó khăn. Tiếp tục triển khai mô hình “gia đình ít con, khỏe mạnh, ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống nhân dân. Đảm bảo bình đẳng giới trên mọi phương diện của đời sống xã hội.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa thể dục thể thao, rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe. Phát triển hệ thống thi đấu thể thao cơ sở. Huy động mọi nguồn vốn để xây dựng công trình phục vụ các hoạt động luyện tập, thi đấu thể thao.
2.3- Nâng cao hiệu quả các hoạt động văn hóa – thông tin tuyên truyền
Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú đa dạng, trọng tâm là tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phát huy các giá trị tốt đẹp văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại. Hoàn thiện nhân cách con người về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, năng lực sáng tạo, năng lực hội nhập, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, ý thức chấp hành pháp luật.
Kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp, truyền thống văn hóa dân tộc trong tỉnh; đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Ưu tiên đầu tư các thiết chế văn hóa lớn phục vụ cộng đồng. Nâng mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân phù hợp với từng vùng. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực, có chiều sâu Cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày của cộng đồng và từng con người.
Sưu tầm, bảo tồn văn hóa phi vật thể của các dân tộc Quảng Ninh, đồng thời gìn giữ, phát triển nghệ thuật truyền thống. Tập trung bảo tồn di tích cách mạng, di tích lịch sử, di tích văn hóa cấp quốc gia; mở rộng mô hình bảo tồn các làng, bản cổ tiêu biểu của các dân tộc. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, di sản văn hóa phi vật thể với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại.
Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển các hoạt động văn hóa. Huy động các nguồn lực, trí tuệ và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư các công trình, thiết chế văn hóa, phát triển các hoạt động văn hóa. Xây dựng một số thiết chế thể thao trọng điểm vùng Đông Bắc, thư viện tỉnh, bảo tàng, nhà hát, nhà triển lãm tỉnh và các công trình thiết chế văn hóa tại một số địa phương.
Phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của đài, báo và các phương tiện thông tin của tỉnh. Chú trọng phát triển mạng lưới phát thanh, truyền hình cơ sở. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí vững về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới.
Phát triển, mở rộng việc sử dụng internet, đồng thời có biện pháp hạn chế mặt tiêu cực, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động lợi dụng internet để truyền bá tư tưởng phản động, lối sống không lành mạnh. Phấn đấu đến năm 2015 số người sử dụng internet đạt 25 thuê bao/100 dân.
2.4- Tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ, tích cực nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Phát triển, ứng dụng có hiệu quả khoa học công nghệ, làm động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm tạo sự phát triển bền vững. Tăng hàm lượng khoa học, công nghệ trong các sản phẩm mang thương hiệu Quảng Ninh, tạo chuyển biến cơ bản về năng suất, chất lượng, hiệu quả ở một số ngành kinh tế quan trọng. Phấn đấu đến năm 2015 hàm lượng khoa học công nghệ trong các sản phẩm thương hiệu Quảng Ninh đạt 38-40% GDP; một số ngành có trình độ công nghệ đạt ở tốp đầu trong nước.
Đẩy nhanh quá trình đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của những ngành sản xuất trong tỉnh. Chú trọng ứng dụng công nghệ cao, trước hết là công nghệ tự động hóa. Ưu tiên phát triển công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Nghiên cứu áp dụng các giải pháp khoa học và công nghệ nhằm khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giữ vững cân bằng sinh thái.
Triển khai có kết quả việc đổi mới quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học, công nghệ. Chuyển các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; khuyến khích phát triển dịch vụ khoa học, công nghệ trong các lĩnh vực. Phát triển thị trường khoa học, công nghệ nhằm đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đầu tư cho khoa học, công nghệ.
2.5 - Giải quyết có kết quả các vấn đề xã hội
Tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm, thu nhập. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt đối với nông dân. Triển khai tốt Luật Bảo hiểm xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm Luật Lao động, việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội đối với chủ sử dụng lao động. Chăm lo công tác bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, giảm thiểu tai nạn lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Đẩy mạnh đào tạo công nhân kỹ thuật đáp ứng đủ số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Triển khai xây dựng và thành lập trường cao đẳng nghề, các trung tâm dạy nghề; quan tâm phát triển nhà ở cho người lao động trong các khu, cụm công nghiệp. Làm tốt công tác dự báo cung cấp thông tin thị trường lao động cho các cơ sở dạy nghề. Phấn đấu mỗi năm tạo việc làm mới cho 2,6 vạn lao động. Phấn đấu đến năm 2015, lao động khu vực nông nghiệp chiếm 30 - 32%; công nghiệp, xây dựng chiếm 33-34%; dịch vụ 35-36%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn dưới 4,3%, lao động qua đào tạo đạt 60%.
Tăng tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm tự nguyện. Thực hiện chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng. Bảo đảm các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu. Duy trì vững chắc thành quả và đa dạng hóa các nguồn lực, phương thức để bảo đảm giảm nghèo nhanh, bền vững, nhất là tại các địa bàn đặc biệt khó khăn, gắn với dạy nghề, giải quyết việc làm, nâng cao trình độ cho người nghèo. Tăng cường xã hội hóa trong giảm nghèo. Thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội phù hợp với trình độ và điều kiện cụ thể. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phấn đấu bình quân mỗi năm giảm khoảng 1,1 % hộ nghèo (theo chuẩn mới).
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách chăm sóc người có công, gia đình thương binh - liệt sĩ; bảo trợ xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động này. Tập trung cao cho phòng ngừa, giải quyết các tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, mại dâm, phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em.
3 - Tăng cường quản lý, bảo vệ và cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái
Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường. Khắc phục tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, nhất là khu khai thác than, khoáng sản khác, các khu đông dân cư và một số vùng nông thôn; ô nhiễm do quá trình đô thị hóa. Kiểm soát ô nhiễm và ứng cứu sự cố môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Phấn đấu đến năm 2015, 100% các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn; 90% chất thải rắn được thu gom ở đô thị; 100% chất thải y tế được xử lý; 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý triệt để. Quy hoạch và đầu tư xây dựng nghĩa trang, nhà tang lễ tại các địa phương, nhất là khu đô thị, khu đông dân cư, vùng nông thôn.
Quan tâm bảo vệ môi trường sinh thái, tạo sự chuyển biến đồng bộ, rõ nét về nhận thức và hành động trong gìn giữ bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các dự án đầu tư. Tiếp tục giải quyết triệt để các “điểm nóng” về ô nhiễm môi trường. Chú trọng phát triển các công trình xử lý nước thải tập trung, thu gom, vận chuyển, xử lý và chôn lấp chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại. Tăng cường cải thiện môi trường khu vực ven biển; xử lý đúng quy định các loại chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp và tại các làng nghề.
Tập trung hoàn nguyên môi trường, trồng cây xanh tại các bãi đổ thải, xử lý tình trạng bồi lắng sông Cửa Lục, bồi lắng các hồ chứa nước, ô nhiễm không khí do hoạt động công nghiệp, xây dựng, ô nhiễm do chất thải và rửa trôi bề mặt. Các dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải đảm bảo công nghệ tiên tiến, hiện đại và thực hiện nghiêm túc các quy định bảo vệ môi trường.
Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thực thi pháp luật bảo vệ môi trường. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường.
4 - Đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khu vực biên giới và vùng biển
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Quốc phòng, Luật An ninh quốc gia, Luật Biên giới quốc gia. Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao cảnh giác, chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước, sự tham mưu tích cực của các ban, ngành, đoàn thể đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước khu vực biên giới, vùng biển. Tiếp tục phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng.
Đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng an ninh và mở rộng đối ngoại. Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực vành đai biên giới. Quản lí chặt chẽ đường biên, mốc giới, các cửa khẩu trên bộ, các phương tiện hoạt động trên biển và hải đảo. Thực hiện nghiêm Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc, góp phần xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác phát triển.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, trấn áp các hoạt động tội phạm; phòng ngừa và giảm thiểu các tệ nạn xã hội, tham nhũng, buôn lậu. Duy trì trật tự trong khai thác, tiêu thụ than; kiềm chế và giảm mạnh tai nạn giao thông, tai nạn lao động.
Tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, toàn diện của lực lượng vũ trang. Tổ chức huấn luyện, diễn tập thuần thục các phương án, nâng cao khả năng phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng. Chăm lo xây dựng lực lượng quân đội, công an, biên phòng vững mạnh, từng bước tiến tới chính quy, tinh nhuệ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
5- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp
5.1- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp
Đẩy mạnh xây dựng bộ máy chính quyền các cấp, bảo đảm chính quyền thực sự là của dân, do dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp nhằm phát huy cao nhất vai trò cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực của nhà nước ở địa phương. Đổi mới công tác tiếp xúc cử tri, kịp thời chuyển tải và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của nhân dân tới các cơ quan chức năng.
Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của uỷ ban nhân dân các cấp theo pháp luật. Đề cao trách nhiệm của uỷ ban nhân dân và người đứng đầu trong việc quyết định, ban hành những chính sách trong phạm vi được phân cấp; thực hiện cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở tất cả các cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Đề cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm người đứng đầu trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; khắc phục oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Tiếp tục thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở; đề cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; xử lý tốt những vấn đề nảy sinh trong nội bộ nhân dân, không để hình thành những vụ việc phức tạp hoặc "điểm nóng".
5.2- Đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới
Nâng cao hiệu quả chương trình tổng thể cải cách hành chính ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương. Đi sâu cải cách thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân; nâng cao hiệu quả cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông"; đẩy mạnh công tác phân cấp quản lý để nâng cao tính chủ động, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của từng ngành, từng cấp.
Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách. Đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Thực hiện triệt để việc phân định rõ quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý hoạt động dịch vụ công.
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về phẩm chất đạo đức và năng lực công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện hội nhập. Áp dụng các cơ chế, biện pháp để ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ để nhũng nhiễu, phiền hà, gây bất bình cho nhân dân.
5.3- Tiếp tục đẩy mạnh phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí
Mọi cán bộ lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở và từng đảng viên phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Phát huy vai trò của nhân dân, các đoàn thể chính trị xã hội, của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước. Công khai minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Thực hiện kê khai, công khai tài sản thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng.
Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm kỷ luật về Đảng, kỷ luật hành chính và bằng pháp luật các vụ việc tham nhũng hoặc cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí.
6- Phát huy dân chủ; đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng
Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân.
Quan tâm giáo dục, đào tạo bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu mới. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của tỉnh và thu hút nhân tài về công tác tại tỉnh. Phát triển đội ngũ doanh nhân vừa có đức vừa có tài. Phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của đội ngũ doanh nhân trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ. Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong việc xây dựng gia đình và nuôi dạy con. Phát huy truyền thống anh bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh.
Chăm lo đầu tư và giữ vững an ninh vùng dân tộc, tôn giáo. Tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi, hải đảo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Tiếp tục đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp với tinh thần phát huy cao nhất sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, các đoàn viên, hội viên trong xây dựng và phát triển quê hương. Quan tâm đa dạng hoá các hình thức tập hơp đoàn viên, hội viên, quan tâm hơn nữa việc xây dựng tổ chức đoàn, hội trong các tổ chức kinh tế ngoài nhà nước; chú trọng tập hợp lực lượng thông qua các hội quần chúng. Làm tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và giám sát của nhân dân trong việc thực thi pháp luật, thực hiện quy chế dân chủ; làm tốt công tác hoà giải và kiến nghị giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để góp phần xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh. Gắn tổ chức các phong trào thi đua, tổ chức các hoạt động với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội, sản xuất kinh doanh ở địa phương đơn vị.
7. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng
7.1- Tăng cường xây dựng Đảng mạnh về chính trị; đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân
Thường xuyên chăm lo làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, không ngừng tuyên truyền, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và việc quán triệt vận dụng ở địa phương. Đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng. Tổ chức tốt việc nghiên cứu, quán triệt và cụ thể hoá Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020), Nghị quyết đại hội XI, các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả, sắc bén của công tác tư tưởng, công tác dân vận. Đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, phản bác, đạp tan mọi thủ đoạn xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Cán bộ chủ chốt cấp uỷ Đảng phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt, đánh giá dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân, để có biện pháp giải quyết kịp thời. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và học lý luận chính trị; chú trọng nghiên cứu tổng kết thực tiễn. Tổ chức có hiệu quả mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên từ tỉnh đến cơ sở.
7.2- Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực của cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", đưa hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác thành công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức Đảng. Mỗi cán bộ đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân.
7.3- Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy giúp việc của cấp uỷ và hệ thống chính trị
Cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu chuyên trách và đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu. Tập trung chỉ đạo củng cố những tổ chức Đảng yếu kém; kịp thời kiện toàn cấp uỷ các cấp và tăng cường cán bộ ở nơi có nhiều khó khăn. Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng, chất lượng đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, phát huy dân chủ thực sự trong sinh hoạt Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, bè phái, cục bộ địa phương, độc đoán, vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức.
Tập trung chỉ đạo và triển khai tốt các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả hoạt động của cấp uỷ và các loại hình cơ sở đảng. Củng cố phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là khối ngoài nhà nước. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên, quan tâm phát triển đảng viên mới, đảm bảo chất lượng đảng viên theo quy định của điều lệ Đảng.
Xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần phê bình và tự phê bình, vững vàng trước mọi khó khăn thử thách. Xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, có bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, có đạo đức, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, chú ý xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp có bản lĩnh vững vàng, có năng lực ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
7.4- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ
Tiếp tục có giải pháp đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, tạo bước chuyển biến cơ bản trong công tác cán bộ. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trọng dụng người có đức có tài; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức cho từng giai đoạn, chú trọng đào tạo cán bộ ở các lĩnh vực mũi nhọn, các chuyên gia đầu ngành. Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ, tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ xuất thân từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực, bảo đảm sự chủ động có tầm nhìn xa, đáp ứng các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế, sự tín nhiệm làm thước đo chủ yếu. Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các cấp, các ngành; khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển. Bổ sung hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; tiếp tục cải tiến quy trình công tác nhân sự của Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy dân chủ trong công tác cán bộ.
Nâng cao trách nhiệm thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tiếp tục cụ thể hoá một số chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử chính trị. Chú trọng nắm và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực với Đảng; các cấp uỷ, nhất là các cấp cơ sở phải nắm chắc và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên.
7.5 - Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
Cấp uỷ và tổ chức đảng phải quan tâm hơn đến công tác kiểm tra, giám sát. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, chấp hành quy chế làm việc; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên, công sản, xây dựng cơ bản; thực hiện chính sách, pháp luật trong bảo vệ môi trường, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tư pháp; kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Công tác kiểm tra, giám sát phải gắn chặt với công tác tư tưởng, công tác tổ chức và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn với vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng theo hướng đồng bộ, nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả, thiết thực, gắn với nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát. Công tác kiểm tra, giám sát của đảng phải phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra chính quyền, giám sát của hội đồng nhân dân, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng, thẩm quyền của mỗi cơ quan.
7.6 - Đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cấp năng lực lãnh đạo của cấp uỷ đảng
Tiếp tục xây dựng bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định, quy trình công tác, nhất là quy chế hoạt động của các cấp uỷ để đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Làm rõ chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ giữa cấp uỷ với các tổ chức trong hệ thống chính trị. Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước. Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Phát huy dân chủ trong Đảng một cách thiết thực, đi đôi với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Các cấp uỷ đảng phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; có cơ chế để nhân dân bày tỏ chính kiến và thực hiện quyền làm chủ của mình.
Chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan tham mưu chuyên trách, giúp việc cho cấp ủy. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng. Đổi mới và nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết, coi trọng chỉ đạo và kiểm tra, kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết. Thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm người đứng đầu.
Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng theo hướng mở rộng dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của tổ chức đảng.
Tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội mới của sự phát triển. Với truyền thống đoàn kết, với kinh nghiệm và những thành quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII khẳng định quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho giai đoạn 2010 - 2015, đưa tỉnh ta cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, theo hướng hiện đại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH