Dư địa tiết kiệm năng lượng sẽ dần cạn nếu doanh nghiệp không đầu tư đổi mới công nghệ

Dư địa tiết kiệm năng lượng sẽ dần cạn nếu doanh nghiệp không đầu tư đổi mới công nghệ
Ông Nguyễn Đình Hiệp - Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam. (Ảnh: VKT)

(PLVN) - Ông Nguyễn Đình Hiệp - Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam cho rằng, khi những giải pháp truyền thống để thực hành tiết kiệm năng lượng dần chạm tới giới hạn, doanh nghiệp cần chuyển sang công nghệ mới, chuyển đổi số và quản lý năng lượng theo thời gian thực để khai thác phần dư địa còn rất lớn.

Tiết kiệm năng lượng phải là một quá trình liên tục

Thưa ông, trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng, đâu là cách tiếp cận phù hợp để vừa đáp ứng nhu cầu năng lượng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng?

- Tôi cho rằng trước áp lực về nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng, hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (NLTK&HQ), trong đó có tiết kiệm điện, phải được triển khai thường xuyên, liên tục và đồng bộ. Đây không phải là câu chuyện chỉ diễn ra ở khâu cuối cùng là người sử dụng điện. Quá trình này phải được nhìn nhận từ khâu khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối cho đến người tiêu dùng. Mỗi khâu đều có mục tiêu và yêu cầu riêng, từ suất tiêu hao trong sản xuất điện, tỷ lệ thất thoát trong truyền tải đến hiệu quả sử dụng ở phía người tiêu dùng.

Để thực hiện được mục tiêu đó cần sự tham gia của cả Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nhà nước phải xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy tiết kiệm năng lượng (TKNL). Doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện kiểm toán năng lượng, xây dựng mô hình quản lý năng lượng và đầu tư những giải pháp mang lại hiệu quả. Người dân cũng cần thay đổi thói quen sử dụng điện, lựa chọn các sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao.

Nói cách khác, đây phải là một quá trình có tính hệ thống, chứ không phải một hoạt động mang tính thời điểm.

Việt Nam đã có một thời gian khá dài triển khai các chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Ông đánh giá thế nào về những kết quả đã đạt được?

- Có thể nói Việt Nam đã triển khai hoạt động sử dụng NLTK&HQ tương đối bài bản ngay sau khi Luật Sử dụng NLTK&HQ được ban hành năm 2010. Đến năm 2025, Quốc hội tiếp tục ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này, qua đó tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho giai đoạn mới.

Trong các giai đoạn thực hiện chương trình quốc gia về sử dụng NLTK&HQ, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực. Giai đoạn I (2005 - 2010) mức tiết kiệm đạt gần 5% nhu cầu năng lượng so với kịch bản cơ sở; giai đoạn II (2010 - 2015) đạt khoảng 6,5%. Hiện nay, chúng ta đang triển giai đoạn III (2019 - 2030) với mục tiêu TKNL 8% vào năm 2030.

Các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý năng lượng, kiểm toán viên năng lượng... góp phần không nhỏ vào thành công của các chương trình, dự án TKNL đã triển khai tại các địa phương trong thời gian qua. Tôi đặc biệt đánh giá cao chương trình dán nhãn năng lượng, đến nay đã có hơn 40.000 mã sản phẩm đã được dán nhãn năng lượng, bao gồm: điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, quạt điện, đèn chiếu sáng, động cơ điện, thiết bị văn phòng. Đây là một chương trình khuyến khích tiêu dùng xanh có tác động trực tiếp đến việc lựa chọn sản phẩm có hiệu suất sử dụng năng lượng cao, từng bước loại bỏ sản phẩm hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều năng lượng.

Khi những giải pháp truyền thống dần chạm tới giới hạn

Có thể nói, kết quả các chương trình về sử dụng năng lượng hiệu quả khá tốt, vậy theo ông, dư địa TKNL hiện nay còn lớn không?

- Theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp, tùy từng ngành, tiềm năng TKNL có thể khoảng 10 - 15%, thậm chí trên 20% nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp về công nghệ và quản lý hiện đại. Với các công trình như khách sạn, tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại, nhà ga, sân bay..., tiềm năng này cũng rất đáng kể, có thể đạt khoảng 35 - 40% tùy loại công trình.

Dư địa cho các biện pháp TKNL truyền thống đang dần cạn kiệt. (Ảnh minh họa: GN)
Dư địa cho các biện pháp TKNL truyền thống đang dần cạn kiệt. (Ảnh minh họa: GN)

Vấn đề là cách thức khai thác phần dư địa này đang thay đổi. Trước đây, doanh nghiệp thường bắt đầu từ những giải pháp tương đối đơn giản như thay động cơ hiệu suất thấp bằng động cơ hiệu suất cao, thay đèn, lắp biến tần hoặc nâng cấp từng thiết bị. Những giải pháp đó vẫn cần thiết, nhưng khi đã thực hiện nhiều thì dư địa TKNL theo cách tiếp cận truyền thống sẽ dần cạn đi. Doanh nghiệp vì thế phải tính đến bước tiếp theo là thay đổi công nghệ và tối ưu toàn bộ hệ thống.

Vậy công nghệ mới đang mở ra hướng đi như thế nào cho việc sử dụng năng lượng hiệu quả, thưa ông?

- Xu hướng hiện nay là sử dụng các công nghệ có tính hệ thống hơn. Chúng ta đã bắt đầu thấy việc ứng dụng AI để điều khiển hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ, hệ thống nhiệt nhằm tối ưu quá trình vận hành. AI cũng có thể được sử dụng để điều khiển các dây chuyền công nghệ, giúp hệ thống hoạt động ở trạng thái tối ưu hơn. Một hướng khác là ứng dụng IoT (Internet of Things) để đo lường năng lượng theo thời gian thực. Khi có dữ liệu liên tục, doanh nghiệp có thể kiểm soát dòng năng lượng đang sử dụng, phát hiện vấn đề và điều chỉnh hệ thống kịp thời.

Đây là sự thay đổi rất quan trọng. Thay vì chỉ biết cuối tháng doanh nghiệp đã sử dụng bao nhiêu điện, hệ thống có thể cho biết năng lượng đang được sử dụng ở đâu, vào thời điểm nào và có dấu hiệu bất thường hay không. Từ đó, việc quản lý năng lượng chuyển từ phản ứng sang chủ động tối ưu.

Trân trọng cảm ơn ông!

Hoàng Tú (thực hiện)