Dự án xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn: Còn không ít trở ngại !

Hiện, tỷ lệ người dân nông thôn Hải Phòng được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 72%, tăng 20% so với năm 2000. Có được kết quả này là nhờ các địa phương tập trung thực hiện tốt Chương trình “nước sạch nông thôn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2003-2010”, đặc biệt là triển khai thành công dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2007-2010- dự án trọng điểm của thành phố năm 2007.

Chuyển biến từ xã hội hoá

Năm 2007, dự án được bố trí vốn xây dựng 7,5 tỷ đồng, xây dựng 27 hệ cấp nước tập trung và 700 bể nước mưa. Để triển khai chương trình đạt hiệu quả cao, Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp  các địa phương đổi mới cách làm, lựa chọn những xã có tiềm năng, điều kiện để triển khai xây dựng hệ cấp nước tập trung. Các xã thực hiện xã hội hoá xây dựng công trình cấp nước, kêu gọi cá nhân, tổ chức có điều kiện đứng ra đầu tư vốn đối ứng trước, lắp đặt các hạng mục sau nhà máy, rồi bán cho người dân, thu hồi vốn dần. Điển hình như việc xã hội hoá xây dựng hệ cấp nước tập trung ở thôn Hạ Trang, xã Bát Trang (An Lão). Để xây dựng nhà máy nước hoàn chỉnh xã cần 500 triệu đồng nhưng người dân không có điều kiện kinh tế nên gặp nhiều khó khăn trong huy động vốn đối ứng. Xã vận động anh Phan Trọng Sinh, Giám đốc Công ty TNHH Trang Anh đầu tư vốn 520 triệu đồng lắp đặt đường ống từ nhà máy đến các hộ dân, sau một thời gian các hộ dân trả dần kinh phí. Anh Nguyễn Duy Thứ, phường Bắc Sơn (Kiến An) đầu tư kinh phí hàng trăm triệu đồng khoan nước, lắp hệ thống đường ống cung cấp nước sạch cho bà con. Nhiều địa phương có sáng kiến vận động người con xa quê hương có điều kiện, các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân hoặc tập thể đứng ra đầu tư góp vốn đối ứng trước rồi thu hồi của từng hộ dân sau. Những địa phương có điều kiện trích nguồn vốn ngân sách ứng trước để xây dựng nhà máy nước tập trung. Hiện nay, Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tiếp tục tổ chức thi công 15 hệ cấp nước tập trung và số lượng bể nước mưa còn lại theo kế hoạch năm, phấn đấu hết năm 2007, đạt chỉ tiêu 77-78% số người dân nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

4 khó khăn phải giải quyết

Theo phản ánh của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Hải Phòng, việc triển khai chương trình nước sạch nông thôn và dự án đầu tư xây dựng giai đoạn 2007-2010 có nhiều khó khăn. Một là, vốn đầu tư hằng năm cho chương trình luôn thiếu, trong khi nhu cầu xây dựng hệ cấp nước tập trung của các địa phương còn rất lớn. Từ năm 2001 đến nay, bình quân mỗi năm ngân sách thành phố đầu tư cho chương trình khoảng 2,5-3 tỷ đồng. Số kinh phí này chỉ đủ xây dựng 7- 8 hệ cấp nước tập trung. Khó khăn thứ 2 là việc giải phóng và bàn giao mặt bằng xây dựng hệ cấp nước tập trung cho đơn vị thi công. Hiện nay, nhiều địa phương nhu cầu về sử dụng nước sạch rất cấp bách, dân đủ khả năng góp vốn đối ứng, nhưng không có diện tích đất xây dựng nhà máy nước hoặc không có đủ kinh phí để đền bù, giải phóng mặt bằng cho công trình. Khó khăn thứ 3 là việc thu hồi vốn đối ứng đóng góp xây dựng đường ống từ nhà máy vào hộ dân. Một số công trình  nợ đọng kéo dài trong nhiều năm hoặc có tình trạng một số doanh nghiệp ứng trước vốn đầu tư công trình nhưng sau 2-3 năm chưa thu được tiền vốn đối ứng của các hộ dân. Theo ông Phan Trọng Sinh- Giám đốc Công ty TNHH Trang Anh, sau hơn 3 năm, công ty chưa thu hồi được một phần tiền điện vận hành máy chứ chưa nói đến số vốn đối ứng đã bỏ ra, thậm chí đơn vị  phải bù thêm tiền trả lương  2 công nhân vận hành và bảo vệ nhà máy. Khi công ty đề nghị người dân trả tiền mua nước, trả dần kinh phí lắp đường ống, nhiều hộ dân sẵn sàng ngừng sử dụng nước máy, quay trở lại dùng nước giếng khoan, nước mưa, nước ao hồ. Vì lợi ích chung của bà con, nhiều doanh nghiệp, cá nhân đầu tư ứng vốn trước vẫn tiếp tục duy trì hoạt động dù dân nợ đọng là tình trạng khá phổ biến. Nhiều địa phương không có điều kiện để vận động người dân đóng góp vốn đối ứng nên không thể triển khai xây dựng hệ cấp nước tập trung. Khó khăn nữa là nhận thức của người dân ở một số xã thuộc vùng sâu, vùng xa về sử dụng nước sạch còn hạn chế. Do vậy, trên thực tế, các hệ cấp nước này xây dựng không đồng đều ở các địa phương. Các huyện điều kiện kinh tế khó khăn như Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão…, người dân vẫn sử dụng nhiều giếng khoan, giếng đào hay nước ao, hồ. Đây là nguyên nhân khiến ở nhiều địa phương, tỷ lệ người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh thấp. Chẳng hạn, xã Đại Bản (An Dương) chỉ có khoảng 5,7% dân số được sử dụng nước sạch, người dân nơi đây còn đứng trước nỗi lo là nguồn nước mặt, nước ngầm đều ô nhiễm trầm trọng vì nước thải của các nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn…

* Theo quyết định của UBND thành phố ngày 13-4-2007, dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2007-2010 có tổng mức đầu tư hơn 83 tỷ đồng.
* Trong đó, nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia gần 30 tỷ đồng; vốn từ ngân sách thành phố gần 18 tỷ đồng.
* Trong 6 tháng 2007, các huyện  nghiệm thu và đưa vào sử dụng 12 công trình hệ cấp nước tập trung, đưa tổng số hệ cấp nước tập trung trên địa bàn thành phố lên 88 công trình.
* Trong đó, huyện Thủy Nguyên xây dựng 4 công trình; huyện Kiến Thụy 3 công trình; huyện Vĩnh Bảo và An Dương đều 2 công trình; Tiên Lãng, An Lão và Cát Hải mỗi huyện 1 công trình và 160 bể chứa nước mưa.

Hoàng Yên

Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Hải Phòng
giai đoạn 2006-2010

1. Mục tiêu:

- Phấn đấu đến năm 2010, 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch với tiêu chuẩn 60- 65 lít /người /ngày.
- 70% số gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh.
- 70% số gia đình có chuồng trại hợp vệ sinh.
- 30% số làng nghề có hệ thống xử lý chất thải.

2. Các loại hình cấp nước:
- Hệ cấp nước tập trung:
+ 15 hệ cấp nước lớn công suất 500 m3/ ngày, cung cấp nước cho hơn 5000 người.
+ 162 hệ cấp nước quy mô vừa, công suất 100-500 m3/ ngày, cung cấp nước cho 1000- 5000 người
+ 87 hệ cấp nước quy mô nhỏ, công suất dưới 100 m3/ ngày, cung cấp nước cho 500- 1000 người.
- Bể nước mưa: 10.000 công trình
- Giếng khoan tay: 2300 công trình 

3. Định hướng đầu tư:
- Mở rộng thị trường nước sạch thông qua vốn vay ưu đãi của Nhà nước và quốc tế 
- Đầu tư dứt điểm việc cấp nước và các công trình vệ sinh cho các trường phổ thông, nhà trẻ mẫu giáo, dạy nghề, các trung tâm cụm xã, trạm y tế, chợ nông thôn..