Đột phá thể chế để nâng cao chất lượng giáo dục trong kỷ nguyên mới
Ngày 20/1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chính thức khai mạc, mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nhân dịp này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đã trả lời phỏng vấn, nêu các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới.
Đổi mới giáo dục - từ đồng loạt sang nâng cao chất lượng “học thật”
Thưa Bộ trưởng, nhiệm kỳ Đại hội XIII diễn ra trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức, song ngành Giáo dục và Đào tạo vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Ông có thể khái quát những dấu ấn nổi bật nhất?
- Nhiệm kỳ 2021 - 2025 là một giai đoạn đặc biệt đối với giáo dục và đào tạo. Đây là thời kỳ ngành Giáo dục vừa tiếp tục triển khai đổi mới căn bản, toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, vừa phải ứng phó với những tác động sâu rộng, kéo dài của đại dịch COVID-19. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự đồng thuận, chia sẻ của toàn xã hội, ngành Giáo dục đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, trong đó có những mục tiêu hoàn thành sớm so với yêu cầu của Nghị quyết Đại hội XIII.
Trước hết là kết quả về mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục. Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học. Hiện nay, tổng số người học trong hệ thống giáo dục quốc dân đã vượt 24,5 triệu người. Việt Nam duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; tỷ lệ xóa mù chữ đạt trên 99,5%. Những con số này phản ánh nỗ lực rất lớn trong việc bảo đảm quyền học tập của người dân, đồng thời cho thấy giáo dục tiếp tục là lĩnh vực được ưu tiên trong phát triển xã hội.
Cùng với đó, chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt xấp xỉ 30%, cơ bản hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII đề ra. Quy mô giáo dục đại học đạt khoảng 225 sinh viên trên một vạn dân vào cuối năm 2025, tạo nền tảng quan trọng cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Những kết quả này cho thấy, trong nhiệm kỳ vừa qua, các mục tiêu về mở rộng quy mô và tiếp cận giáo dục đã được thực hiện khá đồng bộ. Đây chính là tiền đề quan trọng để ngành Giáo dục chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng giáo dục một cách thực chất và bền vững hơn.
Đổi mới giáo dục phổ thông là trọng tâm lớn trong nhiệm kỳ vừa qua. Bộ trưởng đánh giá thế nào về kết quả của quá trình này?
- Trong 5 năm qua, đổi mới giáo dục phổ thông được xác định là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt của toàn ngành. Chúng ta đã hoàn thành việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ lớp 1 đến lớp 12 đúng lộ trình, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy giáo dục. Mục tiêu chuyển từ nền giáo dục chủ yếu truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực và kỹ năng người học từng bước được hiện thực hóa. Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá được triển khai đồng bộ hơn; vai trò chủ động của người học từng bước được đề cao. Kỳ thi tốt nghiệp THPT được tổ chức ổn định, nghiêm túc, khách quan, đồng thời giảm áp lực không cần thiết cho học sinh, phụ huynh và xã hội.
Chất lượng giáo dục phổ thông tiếp tục được khẳng định ở cả giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn. Trong nhiều năm liên tiếp, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có thành tích cao tại các kỳ Olympic quốc tế. Riêng năm 2025, các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự Olympic quốc tế đều đạt thứ hạng cao, với nhiều huy chương Vàng. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của quá trình đổi mới giáo dục phổ thông trong nhiệm kỳ vừa qua.
Hoàn thiện hành lang pháp lý, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Đại hội XIV
Trong các kết quả đạt được của nhiệm kỳ 5 năm, Bộ trưởng đánh giá như thế nào về dấu ấn của ngành Giáo dục trong năm 2025, năm “bản lề” giữa hai nhiệm kỳ Đại hội của Đảng?
- Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là năm vừa tổng kết chặng đường 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, vừa tạo nền tảng để triển khai các định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Một dấu mốc rất quan trọng trong năm 2025 là việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết này xác định rõ mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển con người toàn diện, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước. Đây là nghị quyết mang tính định hướng chiến lược, tạo cơ sở chính trị quan trọng cho những thay đổi lớn, có tính nền tảng trong phát triển giáo dục và đào tạo thời gian tới.
Ngay trong năm 2025, ngành Giáo dục đã chủ động triển khai nhiều nhiệm vụ theo tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW, không chờ đến sau Đại hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xem xét bốn dự án luật quan trọng: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi). Đồng thời, nhiều nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non, miễn - hỗ trợ học phí, Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026 - 2035 cũng được ban hành.
Có thể khẳng định rằng, các định hướng lớn của Nghị quyết 71-NQ/TW đã được thể chế hóa khá đầy đủ, tạo hành lang pháp lý quan trọng để giáo dục và đào tạo bước vào giai đoạn phát triển mới.
Trong nhiệm kỳ tới, đâu là những nhiệm vụ, giải pháp mang tính thiết thực nhất để nâng cao chất lượng giáo dục, thưa Bộ trưởng?
Trước hết là đổi mới tư duy, nhận thức về giáo dục và đào tạo, coi đây là nền tảng cho mọi cải cách. Thể chế cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho nâng cao chất lượng dạy - học, sử dụng hiệu quả nguồn lực và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Song song với đó là chuẩn bị và huy động nguồn lực, đặc biệt thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Trọng tâm là hiện đại hóa cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp trọng điểm; cải thiện điều kiện dạy - học ở vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo.
Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, ngành sẽ tiếp tục đổi mới theo chiều sâu, chú trọng chất lượng thực chất, giảm hình thức, tăng hiệu quả. Việc từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục theo hướng an toàn, có kiểm soát là những nhiệm vụ quan trọng.
Bên cạnh nâng cao chất lượng, ngành Giáo dục tiếp tục đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm công bằng trong giáo dục. Việc đầu tư xây dựng 248 trường học tại các xã biên giới là một ví dụ cụ thể, thể hiện rõ quyết tâm thu hẹp khoảng cách, bảo đảm mọi trẻ em đều có cơ hội học tập trong điều kiện ngày càng tốt hơn.
Có thể khẳng định, khi các giải pháp về thể chế, nguồn lực và quản trị được triển khai đồng bộ, giáo dục và đào tạo Việt Nam sẽ tạo ra những đột phá thực chất, đóng góp trực tiếp cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!