Đồng hành với di sản là đầu tư cho tương lai của chính mình

Đồng hành với di sản là đầu tư cho tương lai của chính mình
Màn trình diễn âm thanh, ánh sáng ở khán phòng Nhà hát lớn Hà Nội.

(PLVN) - Việt Nam là quốc gia có bề dày lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm với hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đa dạng, độc đáo, giàu giá trị. Trong những năm qua, công tác pháp lý về di sản văn hóa tiếp tục được củng cố hướng tới mục tiêu di sản không chỉ sống trong quá khứ mà phải trở thành động lực trong hiện tại và tương lai.

Chuyện ghi ở Nhà hát Lớn Hà Nội

Khi bài báo này lên khuôn, Nhà hát Lớn Hà Nội đã chuẩn bị đóng cửa (từ 31/1/2026) để bước vào giai đoạn trùng tu. Kể từ khi khánh thành vào tháng 12/1911 đến nay, thì đây là lần trùng tu thứ hai của Nhà hát Lớn Hà Nội sau lần thứ nhất vào năm 1995 - 1997.

Được bắt đầu khởi công xây dựng vào năm 1901 và hoàn thành vào năm 1911, Nhà hát Lớn Hà Nội là công trình có giá trị rất lớn về mặt lịch sử, kiến trúc và giá trị sử dụng; là bằng chứng lịch sử của sự phát triển văn hóa và xã hội của Hà Nội và Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, là một di tích của một giai đoạn phát triển kiến trúc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cách đây gần 15 năm, ngày 9/12/2011, Nhà hát Lớn Hà Nội đã tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập và đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia.

Nhà hát Lớn Hà Nội và Quảng trường Nhà hát là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử trọng đại gắn liền với cuộc Cách mạng Tháng Tám và những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ít người biết rằng trước khi có Hội trường Ba Đình, Nhà hát Lớn Hà Nội là nơi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành các kỳ họp quan trọng. Ngày 5/3/1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp khóa đầu tiên ở Nhà hát Lớn. Cũng trong năm 1946, ngày 28/10, Quốc hội khóa 2 họp thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại đây. Cho đến nay Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn là nơi phù hợp để tổ chức các chương trình nghệ thuật sân khấu và âm nhạc đẳng cấp cao, đáp ứng trình độ biểu diễn quốc tế…

Theo dự kiến, từ đầu năm 2026, Nhà hát Lớn Hà Nội tạm đóng cửa để bước vào giai đoạn trùng tu. Trước khi bước vào đợt trùng tu, trong tháng 12/2025, Nhà hát Lớn Hà Nội đã tổ chức Triển lãm “115 năm Nhà hát kể chuyện”. Đây được xem như lời tạm biệt công chúng trước khi công trình này đóng cửa trùng tu, dự kiến kéo dài trong 2 năm.

“115 năm Nhà hát kể chuyện” là hành trình trải nghiệm âm thanh và ánh sáng kéo dài khoảng một giờ. Tại tầng một, bên cạnh mô hình 3D nhà hát rất tinh xảo (theo người thuyết minh chương trình thì tác giả mô hình là Nguyễn Thiện Chương dù chưa một lần đến Nhà hát Lớn, nhưng với tình yêu dành cho Nhà hát đã làm nên mô hình rất chuẩn về mặt kích thước thu nhỏ và đẹp về mặt thẩm mỹ này từ các tư liệu, bản ảnh lưu trữ), du khách theo dõi hành trình hình thành của Nhà hát Lớn Hà Nội qua 4 giai đoạn được trình chiếu trên vách tường từ: giai đoạn thiết kế từ năm 1899 - 1900, đến giai đoạn khởi công vào năm 1901, quá trình xây dựng Nhà hát kéo dài 10 năm từ năm 1901 - 1911 và Lễ khánh thành diễn ra năm 1911.

Mô hình 3D Nhà hát Lớn rất tinh xảo được trưng bày trong triển lãm “115 năm Nhà hát kể chuyện”.
Mô hình 3D Nhà hát Lớn rất tinh xảo được trưng bày trong triển lãm “115 năm Nhà hát kể chuyện”.

Tại tầng hai, khách tham quan được đặt chân đến các không gian mà thông thường khi đến xem biểu diễn tại Nhà hát sẽ không được ghé. Đó là phòng gương nơi tổ chức các nghi lễ ký kết, đón tiếp khách cấp cao và họp báo. Không gian này từng đón tiếp nhiều nguyên thủ quốc tế, là ban công Nhà hát Lớn Hà Nội hướng ra Quảng trường Cách mạng Tháng Tám từng diễn ra các sự kiện lịch sử trong tháng 8/1945 như lễ ra mắt Mặt trận Việt Minh và buổi duyệt binh đầu tiên của Việt Nam Giải phóng quân. Tại vị trí ban công này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tuần lễ Vàng quyên góp ủng hộ Chính phủ… Độc đáo hơn cả, khách tham quan được trải nghiệm cảm giác của nghệ sĩ biểu diễn khi chứng kiến cánh màn nhung Nhà hát Lớn Hà Nội từ từ kéo ra, nhường chỗ cho sân khấu sáng lòa và âm thanh tiếng vỗ tay vang dội. Rồi ánh đèn khán phòng vụt tắt nhường chỗ cho màn trình diễn âm thanh và ánh sáng nhấn mạnh vẻ đẹp tinh tế của đường nét kiến trúc, hoa văn Nhà hát bắt đầu…

Bước ra từ “115 năm Nhà hát kể chuyện” trong cảm xúc vẫn còn lâng lâng và choáng ngợp, trao đổi với phóng viên, nhiều khách tham quan cho biết, đây là một điểm nhấn văn hóa thú vị. Hy vọng rằng, sau 2 năm trùng tu, khi hoạt động trở lại thì bên cạnh việc tổ chức các chương trình nghệ thuật sân khấu và âm nhạc đẳng cấp cao, đáp ứng trình độ biểu diễn quốc tế, Nhà hát Lớn Hà Nội sẽ tiếp tục tổ chức những chương trình như thế này để “kể” câu chuyện văn hóa, lịch sử của riêng mình.

Thật vậy, lịch sử của Nhà hát Lớn Hà Nội có rất nhiều lát cắt thú vị. Từ sự khéo tay của các công nhân Việt Nam khi xây dựng Nhà hát vào những năm đầu của thế kỷ 20, đến những sáng kiến của kỹ sư Việt khi trùng tu Nhà hát lần thứ nhất vào thập kỷ 90 thế kỷ 20. Từ vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam “Chén thuốc độc” của tác giả Vũ Đình Long được công diễn lần đầu tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào ngày 22/10/1921, đánh dấu sự ra đời chính thức của kịch nói Việt Nam cho đến dấu ấn lịch sử đất nước gắn với lịch sử Nhà hát khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp khóa đầu tiên tại đây và cũng là nơi Quốc hội khóa 2 họp thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Cánh gà Nhà hát đã chứng kiến sự có mặt, những giọt mồ hôi lao động nghệ thuật hết mình, niềm xúc cảm thăng hoa của biết bao nghệ sĩ thành danh trong nước và quốc tế…

Để mỗi người Việt Nam đều thấy mình trong những di sản đang gìn giữ

Miên man nói về câu chuyện Nhà hát Lớn Hà Nội để thấy bảo tồn di sản đòi hỏi những tâm huyết không ngừng nghỉ, bởi sức sống của di sản luôn nằm trong trái tim những người yêu di sản. Từ góc nhìn trùng tu của Nhà hát Lớn Hà Nội, có thể nhìn rộng ra về vấn đề bảo tồn di sản hiện nay.

Việt Nam là quốc gia có bề dày lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm với hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đa dạng, độc đáo, giàu giá trị. Ở góc độ pháp luật, trong những năm qua, công tác pháp lý về di sản văn hóa tiếp tục được củng cố. Năm 2001, Luật Di sản Văn hóa ra đời, là căn cứ pháp lý để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày 23/11/2024, Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Di sản văn hóa (sửa đổi). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, đánh dấu bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên đưa vào các khái niệm, như: nghệ nhân di sản văn hóa phi vật thể, đưa ra trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, phát huy di sản.

Phòng gương của Nhà hát Lớn nơi ít người có dịp được chiêm ngưỡng. (Ảnh trong bài: PV)
Phòng gương của Nhà hát Lớn nơi ít người có dịp được chiêm ngưỡng. (Ảnh trong bài: PV)

Cạnh đó, Nghị định 215/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định 109/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các danh sách của UNESCO và danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể cũng đã có hiệu lực từ ngày 17/9/2025. Thay vì có nhiều văn bản quy phạm pháp luật rời rạc điều chỉnh “từng mảnh” của bảo tồn di sản như là bảo tồn di sản thế giới, bảo tồn di sản dưới nước, chính sách nghệ nhân…, Nghị định 215 đã bao trùm để giúp giảm chồng chéo, giảm mâu thuẫn và hình thành một bộ khung pháp lý, thống nhất cho việc bảo tồn toàn bộ hệ thống di sản, qua đó siết chặt quản lý hoạt động du lịch, khai thác dịch vụ tại di sản thiên nhiên, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, không ảnh hưởng đến giá trị gốc của di sản.

Trao đổi với truyền thông về công tác bảo tồn di sản của Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức và những kỳ vọng về hệ thống pháp luật hiện hành sẽ phát huy giá trị di sản, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Nghị định 215/2025/NĐ-CP là một văn bản có ý nghĩa bản lề. Bởi Nghị định 215 ra đời trong bối cảnh Việt Nam ta vừa có Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) cũng như đang triển khai nhiều chiến lược những chương trình lớn về văn hóa, công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển xanh. Bản thân Nghị định 215 với phạm vi điều chỉnh bao trùm được kỳ vọng sẽ giúp khắc phục những “điểm nghẽn” kéo dài trong quản lý di sản cũng như giúp chuyên nghiệp hóa nội vụ công tác bảo tồn di sản từ khâu cán bộ quản lý nhà nước đến các ban quản lý, các nghệ nhân, các hướng dẫn viên doanh nghiệp du lịch… khi chúng ta coi di sản là một lĩnh vực kinh tế - văn hóa đặc thù và kéo theo là một cơ chế tài chính đào tạo nhân lực ứng dụng khoa học công nghệ tương xứng.

“Tôi mong rằng cùng với Nghị định 215 sẽ có thêm các chương trình, đề án cụ thể về nâng cao năng lực quản lý di sản trong thời đại số và cuối cùng về tầm nhìn dài hạn thì tôi kỳ vọng Nghị định 215 sẽ góp phần thay đổi cách nhìn của toàn xã hội về di sản. Di sản không chỉ là trách nhiệm của ngành Văn hóa cũng không chỉ là tài sản của địa phương sở hữu di sản mà là trách nhiệm chung của Nhà nước và của từng người dân. Khi mỗi người Việt Nam, mỗi doanh nghiệp thấy mình trong những di sản đang gìn giữ và coi việc đồng hành với di sản là đầu tư cho tương lai của chính mình thì Nghị định 215 thực sự đã đi vào cuộc sống”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh. 

Theo thống kê của Bộ VH,TT&DL, cả nước hiện có hơn 10.000 di tích đã được xếp hạng, trong đó có trên 3.600 di tích quốc gia và khoảng gần 150 di tích quốc gia đặc biệt, trải rộng khắp các vùng miền. Song song với đó, hệ thống di sản văn hóa phi vật thể cũng được xác lập một cách bài bản; đến nay đã có hơn 7.000 di sản phi vật thể được kiểm kê và trên 500 di sản được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trên phạm vi quốc tế, Việt Nam đã được UNESCO ghi danh 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 11 di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới. Những con số này không chỉ phản ánh bề dày lịch sử mà còn khẳng định vị thế văn hóa của Việt Nam trong không gian văn hóa khu vực và toàn cầu.
Hồng Minh