Đồng chiêm

 

Truyện ngắn của Nguyễn Tiến Hóa

(Hà Nội)

Nghe tiếng gà gáy, Nam vùng dậy chuẩn bị đi kéo vó te. Mẹ Nam lấy khăn gói cho con mấy củ khoai lang, luộc từ chập tối. Vai vác vó, tay xách rổ, nó rảo bước nhằm hướng đồng Dong thẳng tiến.

      Hôm nay là rằm, trăng vằng vặc sáng. Gió nồm thổi mát rượi, sóng lúa rì rào, cả cánh đồng ngập tràn một màu sáng bạc. Phía xa là những ngọn núi nhấp nhô, ẩn chìm trong mây trắng. Theo kinh nghiệm, tôm thường đi ăn vào buối sớm, khi có ánh nắng mặt trời chúng tìm nơi râm mát để ẩn nấp. Dân gian có câu: Cá chiều hôm, tôm rạng sáng, vì thế đi kéo vó te, tốt nhất là đi vào lúc gà gáy. Ơ quê nó có nhiều loại vó: Vó bè, vó xúc, vó kéo, vó te. Mỗi loại vó đều có công cụng khác nhau. Vó bè thả cố định trên những triền sông, mương lớn, những ngã ba sông, nơi cá hay qua lại. Vó xúc to bằng cả mấy gian nhà. Vó kéo rộng chừng 6 mét vuông. Chỉ có vó te là loại vó nhỏ nhất và đơn giản nhất. Nam mất cả ngày hôm qua vót giọng, khâu lưới để sáng nay đi sớm. Rất may Nam được các anh bộ đội đi B cho nó một tấm màn cũ, nhờ nó mà Nam cắt ra, làm được 40 chiếc vó. Đi chừng nửa giờ thì đến đồng Dong. Đây là vùng có nhiều tôm cá. Nam hạ vó thả te rắc thính. Một số te nhỏ, nó đặt vào ruộng lúa, loại te to nó thả xuống mương. Chỉ sau mười phút nó thả xong toàn bộ 40 chiếc vó te. Nó lên bờ ngồi chờ. Nó lấy khoai ra ăn lót dạ. Vùng nó là vùng khoai, khoai nhiều hơn lúa. Đất vùng này xấu lắm, nửa núi, nửa đòng, là vùng “bán sơn địa”. Đất cao là đất gan gà, nhiều sỏi, nhiều cát. Đất thấp thì ngập chua, hễ động mưa là úng, vì thế mà người ta còn gọi nơi này là vùng “chiêm khê mùa thối”. Dân làng phải vào núi, lấy củi, vỡ hoang trồng thêm hoa màu cứu đói. Dân vùng này ăn một bữa, thậm chí nửa bữa, phần còn lại là phải độn ngô khoai. Khoai nhiều lắm. Nó là “củ sâm nam”, loại lương thực chính ở vùng này. Bây giờ rau lang là đặc sản. Hồi ấy rau lang nấu canh suông, luộc cả rổ bối, chấm với mẻ để ăn trừ bữa. Còn khoai củ thì chất thành đống trong nhà. Khoai phơi ngoài sân, ngoài đường, trên tiếp. Khoai lót tro bếp để dưới gầm giường, khoai treo trên rui, trên suốt, trên đòn tay. Khoai để trong chum, trong vại, trong cót, trong bồ. Thôi thì đủ loại, tùy theo thời gian, tùy theo gia cảnh từng người mà sử dụng nó.

        Ăn xong mấy củ khoai, cũng vừa lúc đến thời gian cất vó. Nó lấy cần nâng chiếc vó thứ nhất. Tôm tép nhảy tứ tung, chiếc vó bị thũng xuỗng. Nó không tin ở mắt mình nưa. Cả mớ tép tôm dễ đến một vốc tay đầy, cứ đà này thì chả mấy chốc tôm sẽ tràn miệng rổ. Nó liên tục kéo, liên tục đổ tôm và quăng mồi. Hết mấy lượt đầu, tôm dã phủ dày đáy rổ. Có cả những chú tôm càng ngọ nguậy, những chú rô don nô giỡn nhảy lách tách. Nó lấy mấy cọng tre phủ  lên miệng rổ.

     Đang đi trên bờ ruộng lúa nó nghe tiếng cá tỷ tách, tiếng cá đập đuôi như mắc cạn. Nó lội nhào xuống, đi sâu vào phía trong, phát hiện ra một vũng nước sắp khô. Nước chỉ còn nửa gang, bùn nước sột sệt. Cá tôm nhiều vô kể. Chỉ một loáng cả một giỏ cua đã lèn chặt cá. Hôm nay gặp may rồi. Mệt quá lên bờ, nó nằm lăn trên cỏ. Trăng vẫn sáng vằng vặc. Sao đã mấy mẻ rồi mà trời chưa sáng nhỉ. Thường thường vào các ngày chủ nhật, nó tranh  thủ chuẩn bị bài vở vào ban ngày vì nhà không có tiền để mua dầu hỏa. Chập tối nó đi ngủ sớm để gà gáy tranh thủ mượn vó đi te. Mọi khi vào giờ này mặt trời sắp lên rồi. Nó sắp phải về để kịp đi học. Có thể con gà nhà nó hôm nay ngứa cổ, nên nửa đêm đã gáy. Nó miên man suy nghĩ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Nó thấy mình bị lạc vào ổ cá, cá nhiều quá, bắt mãi mà không hết. Rồi lại thấy, cá chết, cá ngáp trắng đồng. Đồng vắng không một bóng người. Nóng quá cá còn chết huống chi là người. Người ta tránh nóng, sợ nóng, nên cá ngáp mà không ai dám bắt. Chỉ có mình nó bắt. Nó không sợ nóng, tha hồ nó bắt, không ai tranh cả. Nó chỉ sợ đói thôi. Đây là cơ hội để nó đuổi cái đói đi. Nó thấy mẹ nó đang tíu tít bán cá. Hôm nay chắc cả nhà nó sẽ có gạo ăn, nó không phải mượn bút, xin mực của bạn nữa. Nhưng sao cá lại nhiều thế, bắt mãi mà không hết. Sao con cá gì mà mình dài đuồn đuộn như cá chuối, da nó lại trơn. Nó nắm lấy đuôi cá kéo ra, bị trượt, nó chộp lấy đầu cá kéo mạnh. Hóa ra là con rắn. Nó buông tay, nhảy vội lên bờ kêu thất thanh. Tưởng nó vẫn bên mình, lật tìm nhưng không thấy, người nó vã mồ hôi. May quá, đây chỉ là giấc mơ. Nó quyết định không ngủ tiếp nữa sợ lại gặp rắn. Nó lấy cần tre đi cất vó. Mẻ cất này gần sáng nên tôm vào nhiều. Nó lật cọng tre lắc mạnh, tôm đã gần miệng rổ rồi. Nó xuống ruộng cày tìm chỗ nước trong, lấy nón múc lên, uống ừng ực nước.

    Nó gánh tôm, gánh vó rảo bước về nhà. Mẹ nó mang tôm, mang cá ra chợ bán. Hôm nay thứ hai đầu tuần có chào cờ, nó xuống sông tắm rửa và lấy túi dết rảo bước đến trường. Trời đã rạng Đông, ở phía đó có một vùng sáng đang hắt lên le lói.

     Viết xong truyện này, Nam liền đem đến khoe với người anh là nhà văn  lớn tuổi có lối viết truyện không giống ai. Liếc xéo qua hai trang bản thảo, anh nở nụ cười lạ: “Truyện trẻ con à?” Nam đỏ mặt như trẻ con và trả lời lý nhí. Đọc xong một lần nữa anh tiếp tục:”Nhưng là truyện người lớn, trên cả người lớn. Nó là bài ca cuộc sống, như những trang văn của Giắc Lơn-đơn, Giắc Lơn-đơn đồng chiêm trũng Việt Nam: Nó xuống ruộng cày tìm chỗ nước trong, lấy nón múc lên, uống ừng ực nước”. Nam không dám nhận lời nhận xét của anh, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì có khi truyện lại đột nhiên quành lại trẻ con. Để cho thật người lớn thì phải chốt lại hình ảnh cô bạn lớp Nam, đẹp xinh như mộng, như vầng trăng đồng chiêm, mùa lúa trổ đòng đòng. Cô gái nắm chặt bàn tay Nam chai sạn. Nàng nói trong hơi thở lúc chia tay: “Đến khi công thành danh toại, anh có trở về mảnh đất đồng chiêm này nữa không?” ./.