Doanh nghiệp hàng hải sau cổ phần- Niềm vui và những băn khoăn

Đến nay, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) hoàn thành cổ phần hóa 29 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, thành lập thêm 2 công ty cổ phần, sáp nhập 3 công ty cổ phần thành một doanh nghiệp có quy mô, thị trường lớn hơn (Công ty cổ phần Viconship). Có thể nói, Vinalines là một trong số ít các Tập đoàn, Tổng công ty ở nước ta hoàn thành cổ phần hóa theo đúng kế hoạch.

Cái được

 

Tổng Giám đốc Vinalines Mai Văn Phúc cho biết, cái được lớn nhất khi thực hiện cổ phần (CPH) ở Vinalines là đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp, thu hút thêm nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư, góp vốn nhất là những nhà đầu tư, góp vốn nhất là những nhà đầu tư chiến lược có tiềm năng về tài chính, thị trường, công nghệ. Cổ phần hóa cũng mang lại cho Vinalines cơ hội đa dạng hóa nguồn vốn huy động, phục vụ tốt hơn việc đầu tư sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, khi cổ phần hóa, phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được định giá lại khách quan hơn.

 

Tính riêng 9 doanh nghiệp của Vinalines đã cổ phần hóa trong giai đoạn 2005 – 2007, giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp tăng thêm 1.186 tỷ đồng so với giá trị sổ sách; cụ thể mang về cho Tổng công ty số tiền 2.063 tỷ đồng từ việc bán đấu giá hơn 88 triệu cổ phần vốn nhà nước kết quả SXKD của các doanh nghiệp tăng rõ rệt. Tại thời điểm cuối năm 2007, 26 công ty đã cổ phần hóa có doanh thu  5.162 tỷ đồng, lợi nhuận 413,5 tỷ đồng, tăng 30% doanh thu và 54,8% lợi nhuận so với thực hiện năm 2006, thu nhập bình quân của người lao động 3,6 triệu đồng/người/một tháng. Hầu hết các doanh nghiệp hàng hải sau cổ phần hóa không ngừng phát triển cả về sản xuất và doanh thu, lợi nhuận, cũng như thu nhập của người lao động. 8 tháng năm 2008, nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao.

 

Doanh nghiệp hàng hải sau cổ phần- Niềm vui và những băn khoăn

Bốc xếp công-ten-nơ tại bãi Đông Hải (Công ty cổ phần vận tải biển VINASHIP)

 

Công  ty cổ phần Công-ten-nơ Việt Nam đạt doanh thu hơn 140 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 50 tỷ đồng, Công ty Vận tải Việt-Nhật VIJACO doanh thu 70 ty đồng, lợi nhuận 5 tỷ đồng; Công ty Vinabridge doanh thu 64 tỷ đồng, lợi nhuận 8 tỷ đồng, Công ty cổ phần Đại lý vận tải SAFI doanh thu 52 tỷ đồng, lợi nhận 8,2 tỷ đồng. Đáng chú ý 2 công ty cổ phần tại Hải Phòng là VOSCO và VINASHIP trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt mức tăng trưởng cao nhất, VOSCO doanh thu 1323 tỷ đồng, lãi trước thuế gần 200 tỷ đồng. VINASHIP doanh thu 416,3 tỷ đồng, lãi 50 tỷ đồng.

 

Và một số vấn đề cần quan tâm

 

Trước hết, việc xác định giá trị doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ sở hữu cổ phần của người lao động thấp, hiện tượng bỏ giá đấu thầu mua cổ phiếu một cách tiêu cực chính là những vướng mắc lớn mà Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) gặp phải trong quá trình cổ phần hoá. Đây cũng là những vướng mắc chung của nhiều doanh nghiệp, nếu không nhanh chóng khắc phục thì thiệt thòi đầu tiên sẽ thuộc về người lao động. Thực tế cho thấy, ngoại trừ Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (Gemadept) cổ phần hoá từ năm 1993, trước khi Vinalines thành lập và đến cuối năm nay, Công ty Thương mại và dịch vụ cảng Sài Gòn - công ty nhà nước duy nhất còn lại trong Vinalines sẽ hoàn tất cổ phần hoá, hầu hết đều gặp khó khăn trên. Tại Hải Phòng, Công ty Vận tải biển 3 (VINASHIP) và Công ty Vận tải biển Việt Nam (VOSCO) tiến hành cổ phần hoá cũng gặp không ít khó khăn khi trào lưu những người “chơi” cổ phiếu OTC săn lùng các thương hiệu mạnh như VOSCO, VINASHIP…Điều này khiến cho việc đấu giá cổ phiếu ở 2  doanh nghiệp vất vả hơn, và rất mây, VOSCO thực hiện thành công chuyển đổi mô hình hoạt động sang doanh nghiệp cổ phần vào cuối năm 2007, khi thị trường chứng khoán, cổ phiếu bắt đầu đi xuống. Việc xác định giá trị doanh nghiệp cũng vậy. Bất cập lớn nhất trong xác định giá trị doanh nghiệp ở Vinalines chính là định giá thương hiệu và xác định lợi thế kinh doanh. Theo Nghị định 109 của Chính phủ thì thương hiệu hay lợi thế kinh doanh được lượng hoá bằng chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế và lãi trái phiếu Chính phủ. Cách tính này chưa tính tới giá trị vô hình của thương hiệu doanh nghiệp được hình thành qua nhiều giai đoạn phát triển. Một số doanh nghiệp đã dựa vào đây mà thực hiện khấu hao nhanh, giảm lợi nhuận do đẩy lợi thế kinh doanh (thương hiệu) bằng không. Bên cạnh đó, việc định giá doanh nghiệp cũng gặp lúng túng trong một số trường hợp định giá lại tài sản cố định. Đặc biệt, những tài sản đặc thù như tàu biển, chưa có phương pháp định giá rõ ràng, cụ thể. Tỷ lệ sở hữu cổ phần của người lao động trong doanh nghiệp rất thấp cũng là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm hiện nay. Nguyên nhân chính, theo nhiều chuyên gia là do tình trạng nhà đầu tư bên ngoài bỏ giá rất cao trong lần đấu giá ra công chúng, khiến giá mua cổ phần bình quân bị đẩy lên, người lao động buộc phải bán “non” do không đủ tiền nộp mua cổ phần ưu đãi.

 

Để tạo điều kiện hơn cho người lao động mua cổ phần ưu đãi, qua đó tăng sự gắn kết lâu dài giữa người lao động và doanh nghiệp, Bộ Tài chính cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ người lao động về giá mua cổ phần, đồng thời mở rộng số lượng cổ phần ưu đãi dành cho người lao động trong doanh nghiệp CPH.

Anh Tú