Đồ Sơn – một vùng văn học

Tô Đức Chiêu

(Hội Nhà văn Việt Nam)

 

Tôi biết đến Đồ Sơn qua bài địa lý thuở còn ngồi lớp đồng ấu, những năm bốn mươi của thế kỷ trước. Nhưng phải tới năm 1960, mới lần đầu đặt chân tới bãi biển Đồ Sơn, khi đưa đoàn thiếu nhi Hải Dương đi cắm trại. Rồi bẵng gần ba mươi năm, tháng 10 năm 1987, khi tôi đã trở thành sĩ quan quân đội, nhà văn quân đội, cùng anh em khác, được phái tới tổ chức trại viết văn ở Đồ Sơn. Chẳng hiểu đây có phải là trại sáng tác văn học đầu tiên hay không, nhưng từ đó đến nay, rất nhiều trại viết văn, hay hội nghị văn học được tiến hành tại Đồ Sơn.

Từ trại viết văn quân đội 1987 tới nay cũng là một chặng đường dài. Thuở ấy đất nước còn nghèo, 34 nhà văn quân đội như Nguyễn Khắc Trường, Xuân Thiều, Đình Kinh, Đặng Văn Nhưng, Chu Lai, Triệu Huấn, Nguyễn Thị Hồng, Dương Duy Ngữ, Phùng Khắc Bắc, Lê Văn Vọng, Nguyễn Bảo, Đào Thắng... mải miết viết để tối đến, thường là khuya lắm, ra bãi cá đón thuyền về mua tôm, mua tép, mua cá, kho hoặc phơi, tranh thủ có dịp gửi về giúp đỡ gia đình. Ngày tháng qua đi, anh em vẫn còn nhắc nhau với cái tên đó là trai viết văn tôm tép! Lại bẵng đi, tới gần chục năm sau, tháng 3 năm 1996, khi đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 5 tiến hành hội nghị văn học lớn ở Đồ Sơn. Những cây bút sáng tác văn học tiêu biểu của đất nước, chủ yếu ở phía bắc đã về dự hội nghị. Nội dung bàn thảo khá phong phú và hứa hẹn nhiều điều. Đồng chí Bí thư Thành ủy Hải Phòng tới thăm và động viên. Các nhà văn dự hội nghị còn được tổ chức tham quan đền Bà Đế, bến  Nghiêng- nơi tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi vùng tập kết ba trăm ngày, cũng đồng thời rút khỏi miền Bắc Việt Nam – tham quan đảo Hòn Dáu, và vài khu công nghiệp ở ngoại vi thành phố Hải Phòng. Sau hội nghị văn học với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ấy, các trại viết liên tục được mở ra ở Đồ Sơn. Trại viết của ngành Công an, trại viết của Tổng cục Chính trị quân đội, của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, của tạp chí Văn nghệ quân đội, của Quân khu Ba... Chưa có điều kiện tổng kết xem bao nhiêu tác phẩm đã ra đời qua những ngày tháng nhà văn ngồi viết ở Đồ Sơn, nhưng chắc chắn là khá phong phú, trong đó có những tác phẩm đứng được lâu lâu với thời gian, góp phần vào việc hình thành tên tuổi tác giả. Có thể kể ra đây Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, Dòng sông mía của Đào Thắng, Núi Đợi của Bùi Thị Như Lan, Đời thường của Phùng Khắc Bắc, Sao đen của Triệu Huấn, Nhất tướng của Dương Duy Ngữ, Cỏ Lông Chông của Đình Kính, Miền cỏ hoang của Trần Thanh Hà... Không ít những tác phẩm nói trên, được khởi đầu hay hoàn thiện ở Đồ Sơn đã đạt giải cao của Hội Nhà văn Việt Nam, của tuần báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội hoặc giải 5 năm một lần của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an... Cũng không ít tác giả qua những sáng tác ở Đồ Sơn đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, mà đã sáng tác văn học của họ được khởi đầu từ đây, nay đang trên đà sung sức, phát triển tài năng.

Hội nghị văn học với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước qua đi chục năm, nhưng đã để lại dư âm lâu bền trong tâm thức sáng tác của rất nhiều cây bút. Một sự đổi mới tư duy hay mở rộng biên độ đề tài. Một câu hỏi đặt ra là liệu sáng tác văn học có theo kịp nhịp độ phát triển của nền kinh tế hay không? Thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhà văn là chiến sĩ, văn học đã theo sát bước chân người lính và phản ánh kịp thời những phẩm hạnh cao quý của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sự hy sinh quên mình của lớp lớp người con thân yêu, chính vì lẽ đó văn học được ghi nhận, được đánh giá cao. Nhưng đến hôm nay, trước sự vươn lên của dựng xây, trước bao mới mẻ có khi xô bồ, quy mô, tầm cỡ, trước những đổi thay từng tháng, từng ngày, tư duy văn học liệu có theo kịp hay cứ đủng đỉnh chậm chạp, xa dần với hơi thở thời đại? Câu hỏi đặt ra từ hội nghị tháng 3  năm 1996 tới tận hôm nay cũng chưa có đáp lời thỏa đáng. Phần vì người đọc hôm nay quá khắt khe, nhưng phần quan trọng dường như các nhà văn còn đang ở phía sau cuộc sống. Bạn đọc dường như đang đi tìm cái gì đó mới lạ, theo sở trường, sở đoản của riêng mình, tung hô đôi khi quá đáng những trang viết hợp với riêng mình, một bộ phận không nhỏ phủ định những giá trị truyền thống hay những giá trị hôm nay, nhưng thuộc khuynh hướng khác. Họ coi hướng ngoại mới là văn học đích thực.

Một hội nghị lý luận phê bình khả quan trọng vừa được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ở Đồ Sơn, tháng 10 năm 2006. Có người bảo hội nghị đó khá thành công. Có người bảo hội nghị đó thất bại. Tôi cho rằng hai ý kiến trái chiều ấy đều có cơ sở vì nó đại diện cho cách nhìn khác nhau đối với hội nghị. Bãi biển Đồ Sơn lại chứng kiến một hội nghị lớn của sinh hoạt văn học. Dư âm tranh cãi của hội nghị lý luận phê bình tháng 10 năm 2006 vẫn còn, và tôi cho rắng, dù có sự đánh giá chưa thống nhất, thì hội nghị đều có tác dụng tốt tới sáng tác văn học. Các nhà phê bình cứ tranh luận kịch liệt và các cây bút sáng tác lắng nghe để vận vào mình, suy nghĩ về đúng, sai, cân nhắc tới cả cách thể hiện  mà đẩy trang viết đi tới. Nhìn theo góc độ này thì hội nghị lý luận phê bình lần thứ hai (hội nghị lý luận phê bình lần thứ nhất tổ chức ở Tam Đảo năm 2003), do Hội Nhà văn Việt Nam vừa tổ chức đã thành công là điều không thể chối cãi.

Kể từ ngày có hội nghị văn học với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tháng 3 nâm 1996 tới nay, mười năm trôi qua, dưới góc nhìn của người sáng tác, tôi cho rằng Đồ Sơn là một vùng văn học.