Đình Lưu Khê - Điểm tựa tinh thần hơn 200 năm tại đảo Hà Nam

Đình Lưu Khê - Điểm tựa tinh thần hơn 200 năm tại đảo Hà Nam
Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đình Lưu Khê là nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và phối thờ nhị vị Tiên Công (cụ Đỗ Độ và Đào Bá Lệ) tiêu biểu cho truyền thống quai đê, lấn biển và nghị lực vượt khó vươn lên của người dân đảo Hà Nam (Quảng Ninh).

(PLVN) – Đình làng Lưu Khê là ngôi đình linh thiêng tại phường Liên Hòa (tỉnh Quảng Ninh). Theo tài liệu, đình được cất nóc khoảng vào năm 1822. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, ngôi đình vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây.

Không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, lễ nghinh rước còn là dịp để các dòng họ và cộng đồng dân cư nơi đây cùng thể hiện lòng biết ơn và trách nhiệm gìn giữ phong tục, nề nếp làng quê, bồi đắp, dung dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, lễ nghinh rước còn là dịp để các dòng họ và cộng đồng dân cư nơi đây cùng thể hiện lòng biết ơn và trách nhiệm gìn giữ phong tục, nề nếp làng quê, bồi đắp, dung dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Đình làng là di sản văn hóa gắn liền với tiến trình lịch sử của dân tộc, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân địa phương. Những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã làm tốt công tác bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị của đình làng trong đời sống Nhân dân, nên nhiều ngôi đình hàng trăm năm tuổi vẫn lưu giữ được nét kiến trúc xưa độc đáo.

Ông Vũ Khắc Hoàn - Phó Chủ tịch UBND phường Liên Hòa cho biết, tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt chủ trương đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích đình Lưu Khê với trị giá trên 40 tỷ đồng và sẽ khởi công trong năm nay, nhằm phục dựng, tôn tạo, giữ gìn, quảng bá, tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử. Đặc biệt, giúp các thế hệ trẻ hiểu được lịch sử để giữ gìn bản sắc văn hóa, đồng thời phục vụ đời sống Nhân dân về tín ngưỡng, tâm linh.

Trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, đình làng không chỉ là nơi thờ cúng linh thiêng của cộng đồng cư dân bản địa, mà nơi đó còn là không gian sinh hoạt văn hóa, tâm linh, là sợi dây gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Hơn 200 năm nay, đình Lưu Khê vẫn lặng lẽ hiện diện như một điểm tựa tinh thần, chở che và gắn kết bao thế hệ người dân nơi đây. Để mỗi dịp Tết đến, xuân về, những người con xa xứ lại tìm về, thắp nén tâm hương, lắng lòng trước cội nguồn, qua đó tiếp thêm năng lượng cho hành trình tiến về tương lai.

Lễ hội đình Lưu Khê diễn ra trong không khí vui tươi, đầm ấm. Ngoài những nghi thức về phần Lễ, phần Hội cũng được tổ chức phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc, được thể hiện qua những tiết mục văn nghệ với các làn điệu dân ca đặc sắc và một số trò chơi dân gian: như tổ tôm điếm, kéo co. ...

Các tư liệu còn lưu giữ tại đình Lưu Khê cho thấy dòng chữ: “Tuế thứ Nhâm Ngọ niên tứ nguyệt, cát nhật, lương thời trụ trụ thượng lương” cho biết thời điểm dựng cất nóc được tiến hành vào một ngày lành, giờ tốt năm 1822.

Theo các bậc cao niên trong làng cho biết, đình Lưu Khê là một trong những ngôi đình cổ có quy mô lớn với kiến trúc độc đáo, tiêu biểu cho phong cách đình làng Việt Nam vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ XIX. Ngôi đình do chính người dân địa phương xây dựng để thờ đức thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và phối thờ cụ Đỗ Độ, cụ Đào Bá Lệ – hai vị Tiên Công có công chiêu mộ dân cư về vùng bãi bồi sông Bạch Đằng, quai đê lấn biển, lập nên xã Lương Quy xưa, gồm hai thôn Quỳnh Biểu và Lưu Khê ngày nay.

Cụ Vũ Ngọc Hồng (85 tuổi), Trưởng ban Khánh Tiết đình làng Lưu Khê cho biết, trải qua nhiều lần tu sửa, đặc biệt cuộc đại trùng tu vào năm 2006, nhưng ngôi đình vẫn còn giữ gần như nguyên vẹn những nét kiên trúc và các mảng chạm khắc ban đầu.

Đình Lưu Khê được xây dựng theo kiểu chữ Đinh, gồm bái đường và hậu cung, quay hướng Tây Bắc, trên khu đất bằng phẳng rộng hơn 1.000m². Bái đường có 7 gian, 2 trái, mái lợp ngói mũi hài, hệ thống cửa bức bàn truyền thống;

Các cấu kiện chủ yếu làm bằng gỗ lim, hệ vì kèo theo lối thượng thu hạ thách, kẻ chuyền, đầu bẩy. Trên câu đầu và các bức cốn, những đường chạm kênh bong tinh xảo với hình rồng, tôm, cá, hoa sen, mây tản… vẫn còn rõ nét, thể hiện trình độ mỹ thuật và tư duy thẩm mỹ của cha ông xưa;

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc, đình Lưu Khê đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1995.

Không gian Đình Lưu Khê từng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các cuộc hội họp, bàn bạc và giải quyết công việc chung của dân làng suốt nhiều năm. Phía sau là chợ Đình, nơi người dân trong vùng trao đổi, buôn bán sản vật địa phương. Trước mặt đình là bến Đình, xưa kia thuyền bè tấp nập cập bến mỗi độ họp chợ, tạo nên một không gian sinh hoạt văn hóa, kinh tế sôi động, đậm nét làng quê Bắc Bộ.

Gia đình ông Đỗ Văn Mùi và bà Nguyễn Thị Sánh chia sẻ, đình Lưu Khê vẫn gắn liền với ký ức tuổi thơ qua những trò chơi như: đánh đáo, bắn bi, nhảy dây, chơi khăng… và không khí trang nghiêm của lễ tế đình làng. Dù đã đi làm ăn xa quê nhiều năm nhưng mỗi độ Tết đến xuân về gia đình tôi đều trở về, cùng ra đình thắp hương để nhớ về cội nguồn.

Không khí Tết năm nay tại đình Lưu Khê trang nghiêm, thành kính hơn, bởi theo hương ước truyền thống - 5 năm rước thánh một lần. So với những năm trước, lễ hội năm nay được tổ chức quy mô hơn, rộn ràng hơn với sự tham gia tế lễ của ba dòng họ gồm: họ Đỗ, họ Đào, họ Lê theo đúng nghi thức cổ truyền. Lễ hội diễn ra từ ngày 22 - 26/2 (mùng 6 - 10 tháng Giêng).

Không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, lễ nghinh rước còn là dịp để các dòng họ và cộng đồng dân cư nơi đây cùng thể hiện lòng biết ơn và trách nhiệm gìn giữ phong tục, nề nếp làng quê, bồi đắp, dung dưỡng đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Anh Đỗ Văn Thủy – người tham gia lễ rước thánh chia sẻ, từ nhiều tháng trước Tết, các dòng họ đã chuẩn bị tuyển những thanh niên trai tráng để tham gia lễ rước thánh; chuẩn bị quần áo, lễ tế… Đội rước sẽ mặc quần áo truyền thống, khăn vấn màu xanh và màu đen. Người dân rất hào hứng, phấn khởi và mong mỏi vì 5 năm mới được rước thánh một lần. Cung đường rước dài khoảng 3 km, bắt đầu từ đền thờ thần Phạm Tử Nghi ngoài cống Lưu Khê về đình Lưu Khê.

Năm 1434, vua Lê có chủ trương di dân ra các vùng hẻo lánh để khai hoang. Vì vậy, 17 vị Tiên Công từ vùng đất Thăng Long (Hà Nội) và Nam Định đã xuôi thuyền theo sông Hồng, ra cửa sông Bạch Đằng, về sông Chanh và đặt chân lên vùng đất Hà Nam (tỉnh Quảng Ninh) hoang sơ khai canh mở đất, lập làng ở đây.

Đức Dương