Định hình 4 cực tăng trưởng, Bắc Ninh đề xuất mở rộng không gian phát triển
(PLVN) - Ngày 2/4, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương tổ chức hội nghị sơ kết việc thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh tại 6 vùng kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các tỉnh, thành phố trên cả nước.
Ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì. Tại điểm cầu Bắc Ninh, ông Nguyễn Hồng Thái Bí thư tỉnh dự và chủ trì.
Triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, năm 2022, Bộ Chính trị đã ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với 6 vùng kinh tế - xã hội. Sau hơn 3 năm thực hiện, các nghị quyết đã tạo chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện. Nhận thức về vai trò phát triển vùng được nâng lên rõ rệt; công tác lãnh đạo, chỉ đạo có nhiều đổi mới; cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, gắn kết giữa quy hoạch quốc gia với quy hoạch vùng và quy hoạch địa phương.
Kinh tế các vùng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, nhiều cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, trung tâm công nghiệp, dịch vụ được hình thành. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững.
Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế như liên kết vùng chưa chặt chẽ, cơ chế điều phối còn thiếu hiệu lực, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; một số “điểm nghẽn” về thể chế, chính sách chậm được tháo gỡ. Các vấn đề môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí, nguồn nước, cùng yêu cầu phát triển bền vững tiếp tục đặt ra cấp thiết.

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Hồng Thái, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh cho biết, Dự thảo kết luận của Bộ Chính trị xác định Bắc Ninh cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh là 4 cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng. Đây là cơ sở quan trọng khẳng định vai trò, vị thế của tỉnh trong tổng thể phát triển vùng.
Theo đó, Bắc Ninh tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững với nhiều chỉ tiêu nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 10,27%, thuộc nhóm địa phương tăng trưởng hai con số; quy mô kinh tế đạt hơn 522.000 tỷ đồng; thu hút FDI và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục nằm trong tốp đầu.
Định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bắc Ninh xác định trở thành cực đô thị động lực của vùng Thủ đô mở rộng; trung tâm công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo; đồng thời phát triển mạnh các lĩnh vực logistics, thương mại, giáo dục - đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hóa - du lịch vùng Kinh Bắc.
Từ thực tiễn phát triển, Bắc Ninh đề xuất bổ sung định hướng xây dựng tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mang bản sắc văn hóa Kinh Bắc, là trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics đa phương thức của cả nước và khu vực.
Đáng chú ý, tỉnh kiến nghị điều chỉnh cách tiếp cận từ “tam giác động lực” Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh sang mô hình “4 động lực” gồm Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Phòng - Quảng Ninh, hướng tới hình thành trung tâm chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và logistics thông minh của khu vực Đông Nam Á.
Cùng với đó, Bắc Ninh đề xuất nghiên cứu xây dựng khu thương mại tự do không chỉ tại Hải Phòng mà mở rộng sang địa bàn tỉnh, gắn với khu kinh tế Cảng hàng không quốc tế Gia Bình theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính. Đây được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng.
Kết luận hội nghị, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đánh giá, sau hơn 3 năm triển khai, các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng đã tạo ra những tác động tích cực toàn diện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách; nhận diện rõ các “điểm nghẽn” để có giải pháp tháo gỡ hiệu quả. Đồng thời, đổi mới tư duy phát triển trong bối cảnh không gian phát triển mới đang hình thành; xây dựng mô hình phù hợp với từng vùng, từng địa phương.
Liên kết vùng được xác định là yêu cầu tất yếu, cần được thúc đẩy mạnh mẽ cả về hạ tầng, dữ liệu, thị trường và nguồn nhân lực. Cùng với đó là việc xây dựng cơ chế điều phối vùng đủ mạnh, bảo đảm phát triển đồng bộ, khắc phục tình trạng cục bộ, phân tán; đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch vùng, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.