Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
UBND TP Hà Nội vừa có báo cáo về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
1 trong 9 động lực phát triển của Thủ đô
Báo cáo cho biết, việc thực hiện nội dung trên được triển khai trên các cơ sở pháp lý và nội dung chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ như Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và các kết luận làm việc của Tổng Bí thư với Thành ủy Hà Nội; Nghị quyết số 258/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô.
Văn bản số 6223/VPCP-QHĐP ngày 04/7/2025 của Văn phòng Chính phủ về việc thực hiện kết luận của Tổng Bí thư tại buổi làm việc với Thành ủy Hà Nội. Thông báo số 626/TB-VP-CP ngày 17/11/2025 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thường trực Chính phủ về việc triển khai Dự án đầu tư xây dựng trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn TP Hà Nội…
Về phía TP Hà Nội, trên cơ sở các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ, TP đã tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các thủ tục, báo cáo cấp có thẩm quyền và từng bước triển khai Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.
UBND TP cũng đã tổ chức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án, kết quả ngày 03/6/2026 đã ban hành Quyết định số 2789/QĐ-UBND về việc lựa chọn Nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt thực hiện dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
Theo UBND TP Hà Nội, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm xác định quan điểm xây dựng và phát triển Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; đặt văn hóa ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; phát triển nhanh, bền vững, thông minh, hiện đại, bao trùm, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Quy hoạch tổng thể định hình cấu trúc không gian gồm 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực; trong đó các trục động lực và hệ thống vành đai, hướng tâm đóng vai trò “xương sống” kỹ thuật, kết nối các cực tăng trưởng với khu vực trung tâm và mạng lưới liên kết Vùng Thủ đô.
Trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, Trục Đại lộ cảnh quan Sông Hồng được xác định là một trong 9 động lực phát triển của Thủ đô, là trục chiến lược, trục không gian xanh trung tâm, đồng thời là trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị gắn với văn hóa sáng tạo, khoa học công nghệ dọc hai bên sông Hồng.
Đây cũng là không gian biểu trưng cho hình ảnh Hà Nội “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo”, hướng tới trở thành biểu tượng mới của Thủ đô văn minh, hiện đại; kết nối với các tỉnh dọc sông Hồng và các khu vực sông thuộc hệ thống sông Hồng trở thành vùng cảnh quan kinh tế - sinh thái đặc trưng của khu vực phía Bắc.
Về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5000, UBND TP Hà Nội cho biết, phạm vi nghiên cứu quy hoạch trải dài 40km theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, đi qua giữa đô thị trung tâm; từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, thuộc địa giới hành chính của 16 xã, phường của TP Hà Nội.
Về hiện trạng khu vực quy hoạch, mặt nước khoảng 3.626 ha, chiếm tỷ lệ 30% tổng diện tích khu vực nghiên cứu (trong đó mặt nước sông khoảng 3.378ha). Đất sản xuất nông nghiệp là khoảng 5.741ha, chiếm tỉ lệ khoảng 50% tổng diện tích khu vực nghiên cứu.
Đất ở có quy mô khoảng 1.102 ha, chiếm tỷ lệ khoảng 10% tổng diện tích khu vực nghiên cứu. Tổng dân số khoảng 279.525 người. Phân bố không đồng đều, gồm cả dân cư đô thị và ngoại thành.
Các chức năng khác gồm khoảng 949 ha, chiếm tỷ lệ khoảng 8%, tổng diện tích khu vực nghiên cứu
“Kỳ tích sông Hồng”, góp phần phát triển Thủ đô
Về định hướng tổ chức không gian, theo UBND TP Hà Nội, Trục cảnh quan ven Sông Hồng được xác định là không gian chiến lược về cảnh quan, giao thông và phát triển đô thị.
Trong đó, về thay đổi tư duy phát triển, Dự án là bước đột phá nhằm chuyển đổi từ đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”, tạo diện mạo đô thị hiện đại, văn minh.
Đồng thời, giải pháp “Thích ứng lũ” hiện đại được đề xuất trong dự án tập trung vào việc đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê điều và duy trì khả năng thoát lũ của sông Hồng. Nguyên tắc cốt lõi là không thu hẹp không gian thoát lũ và không đề xuất giải pháp xây đê mới nằm trong đê cũ.
Các công trình cảnh quan sử dụng module kiến trúc có thể tháo dỡ, đê lũ sinh thái dạng bậc thang và vườn mưa giữ phù sa, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê điều. Phương án hướng tuyến đường bộ được lựa chọn bám sát hệ thống đê hiện hữu để tận dụng hạ tầng sẵn có và đảm bảo an toàn phòng chống lũ theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt.
Không gian hai bên sông Hồng được xác định là trục không gian đặc trưng hành lang xanh với cây xanh mặt nước, văn hóa lịch sử, cảnh quan chủ đạo của đô thị trung tâm, với các chức năng chính là công trình công cộng, các công viên cây xanh, văn hóa, dịch vụ du lịch, giải trí biểu tượng của Thủ đô, phục vụ các hoạt động lễ hội, du lịch tạo nên “kỳ tích sông Hồng”, góp phần phát triển du lịch, kinh tế, văn hóa, xã hội Thủ đô.
Hình thành các vùng không gian thoát lũ đặc biệt, đặc trưng, tích hợp các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, thiên tai đảm bảo an toàn hệ thống thoát lũ, tiêu thoát nước tự nhiên, phù hợp với đặc điểm cảnh quan bãi sông.
Ưu tiên 3 định hướng An toàn - Sinh thái - Giao thông. Đảm bảo môi trường sống an toàn cho người dân; môi trường sống xanh, sạch, đẹp, văn minh cho người dân; hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng đô thị phục vụ người dân dễ dàng tiếp cận, thuận tiện sử dụng phục vụ đời sống, sinh hoạt.
Phát triển hệ thống giao thông và đầu mối hạ tầng kỹ thuật theo hướng hiện đại, an toàn, đảm bảo tính hệ thống, liên hoàn trong kết nối hạ tầng. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật kết nối với hệ thống đường trục và hệ thống mạng lưới đường ven sông; cầu nối kết đô thị hai bên sông, kết nối giao thông đường bộ và đường thủy, đường sắt đô thị tạo điều kiện và động lực phát triển cho khu vực và TP, đảm bảo thích ứng sinh thái và phù hợp với định hướng an toàn phòng chống lũ.
Xây dựng trục không gian xanh, với cây xanh mặt nước, văn hóa lịch sử, cảnh quan chủ đạo của đô thị trung tâm, với các chức năng chính là công trình công cộng, các công viên cây xanh, văn hóa dịch vụ du lịch, giải trí biểu tượng của Thủ đô, phục vụ các hoạt động lễ hội, du lịch.
Đặc biệt là việc đưa sông Hồng từ một không gian còn bị chia cắt bởi hệ thống đê, hạ tầng thiếu đồng bộ và khả năng tiếp cận hạn chế trở thành một trục đô thị có kết nối tốt hơn, nhiều không gian xanh và công cộng hơn, đồng thời tạo thêm điều kiện cho hoạt động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ và sinh hoạt cộng đồng.
Người dân có thêm khả năng tiếp cận các công viên, đường dạo, không gian cộng đồng, thể dục thể thao, văn hóa, lễ hội và cảnh quan ven sông theo các khu vực được quy hoạch phù hợp.
Hệ thống giao thông ven sông, cầu vượt sông, đường bộ, đường thủy được định hướng kết nối thành hệ thống liên hoàn, qua đó mở rộng khả năng đi lại và liên kết giữa hai bờ sông, giữa khu vực ven sông với các khu vực phát triển khác.
Các khu định cư, khu đô thị đa mục tiêu được định hướng đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ để phục vụ tái định cư và tổ chức lại không gian dân cư.
Về nội dung quy hoạch, theo UBND TP Hà Nội, quy mô tổng diện tích nghiên cứu là khoảng 11.418 ha; quy mô dân số dự báo từ 800.000 đến 1.200.000 người; chỉ tiêu sử dụng đất dân dụng là khoảng 55 m²/người và chỉ tiêu sử dụng đất đơn vị ở khoảng 15 m²/người.
Mật độ xây dựng gộp khu dịch vụ - công cộng là 60%; nhóm nhà ở từ 35% – 40%; khu công viên chuyên đề 25%; khu công viên công cộng 5%.
Tầng cao phổ biến từ 30 đến 45 tầng; công trình điểm nhấn và biểu tượng đô thị là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng; làng xóm truyền thống dự kiến cao 3 tầng (sẽ được đánh giá theo tiêu chí cụ thể của từng dự án trong quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500). Diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông khoảng 3.900 ha.
Phân đoạn không gian:
- Phân đoạn 1 (từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long): Diện tích khoảng 3.436 ha, dân số khoảng 160.000 người. Định hướng là khu vực tái thiết đô thị, cải tạo chỉnh trang làng xóm truyền thống, phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và thể dục thể thao.
- Phân đoạn 2 (từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì): Diện tích khoảng 4.548 ha, dân số khoảng 541.000 người. Đây là khu vực trọng tâm – "Phòng khách đô thị", khu vực tái thiết đô thị, trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo, công trình điểm nhấn liên kết Hồ Tây – Cổ Loa.
- Phân đoạn 3 (từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở): Diện tích khoảng 3.435 ha, dân số khoảng 499.000 người. Khu vực tập trung các cụm công viên, phát triển đô thị (khu đô thị định cư và đa mục tiêu phường Lĩnh Nam), khu dịch vụ - thương mại và các không gian nông nghiệp sinh thái.
Dự án gồm 18 dự án thành phần, trong đó có 2 dự án giao thông Trục đại lộ cảnh quan bờ tả và hữu sông Hồng; 11 dự án công viên, 2 dự án kè và chỉnh trị lòng sông, bờ sông, và 3 dự án đô thị định cư và đa mục tiêu.
12 cụm làng thuộc diện di dời, tái thiết, cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc
Về quy hoạch các cụm làng xóm cũ, TP Hà Nội nêu rõ nguyên tắc di dời, tái thiết làng xóm gồm các làng không đảm bảo an toàn phòng, chống, thoát lũ; phần diện tích các làng nằm trong phạm vi mở đường giao thông (trục đại lộ cảnh quan, nút giao thông…); các làng xóm, khu dân cư nằm trong khu vực quy hoạch ‘phòng khách đô thị’ (phía ngoài đê Hữu sông Hồng, bên trong đường vành đai II, đoạn từ cầu Nhật Tân đến cầu Vĩnh Tuy); các làng nằm trong các khu vực xây dựng các khu đô thị định cư, đô thị đa mục tiêu đã được UBND TP chấp thuận chủ trương đầu tư.
Về nguyên tắc bảo tồn, giữ lại, cải tạo chỉnh trang các làng xóm lâu đời, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và địa điểm lưu niệm, sự kiện cách mạng kháng chiến (123 công trình di tích, bao gồm cả xếp hạng và chưa xếp hạng) gắn với cộng đồng dân cư.
Bảo tồn khu vực lõi (khu vực có các thành tố cấu thành các làng xóm gắn với quá trình hình thành và phát triển) của các làng nghề truyền thống, các làng có giá trị về kiến trúc, lịch sử, văn hóa vật thể và phi vật thể đã được công nhận, xếp hạng.
Giữ lại và cải tạo chỉnh trang khu vực lõi của các làng xóm lâu đời tại các khu vực ngoài phòng khách đô thị (ngoài vành đai II).
Theo các nguyên tắc đó, sẽ có 2 cụm làng thuộc diện di dời theo quy định tại Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.
Trong đó, cụm làng Võng La - Hải Bối thuộc xã Thiên Lộc, Vĩnh Thanh, thực hiện di dời một phần diện tích khu dân cư làng xóm nằm trong phạm vi không đảm bảo điều kiện an toàn phòng chống lũ và khu vực nằm trong phạm vi xây dựng Trục đại lộ cảnh quan thuộc các thôn Võng La, Yên Hà, Hải Bối (tổng diện tích khoảng 27 ha) và làng Bắc Cầu thuộc phường Bồ Đề (khoảng 35,5 ha).
2 cụm làng thuộc diện tái thiết để phục vụ thực hiện mục tiêu quy hoạch kiến tạo khu vực ‘phòng khách đô thị" của Thủ đô gồm cụm làng Nhật Tân – Tứ Liên thuộc phường Hồng Hà (khoảng 96 ha); cụm làng Thống Nhất (Hạ Trại, Trung Thôn) thuộc phường Long Biên (khoảng 12 ha).
8 cụm làng thuộc diện cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc (không bao gồm diện tích khu vực nằm trong phạm vi di dời theo quy hoạch phòng chống lũ; khu vực giải phóng mặt bằng để xây dựng 2 tuyến trục đại lộ cảnh quan, các nút giao thông) gồm (1) Văn Quán – Đông Cao - Tráng Việt thuộc xã Mê Linh; (2) cụm làng Ngọc Giang – Lực Canh - Văn Tinh thuộc xã Vĩnh Thanh, Đông Anh; (3) Bát Tràng - Giang Cao - Kim Lan thuộc xã Bát Tràng (di dời 1 phần khoảng 4,5ha theo quy hoạch phòng chống lũ); (4) Văn Đức thuộc xã Bát Tràng; (5) Thúy Lĩnh thuộc phường Lĩnh Nam; (6) Yên Mỹ thuộc xã Thanh Trì; (7) Đại Lan thuộc xã Nam Phù; (8) Cụm làng Tranh Khúc - Vạn Phúc thuộc xã Nam Phù.
Nêu giải pháp tổ chức không gian chung các làng xóm bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang, TP Hà Nội khẳng định đảm bảo không làm tăng quy mô diện tích, dân số cơ học, có các giải pháp kiểm soát mật độ xây dựng và tầng cao công trình thấp (phục vụ cho bảo tồn không gian làng xã).
Lựa chọn hình thức kiến trúc cảnh quan phù hợp với không gian làng xã, các di tích lịch sử, đảm bảo vùng bảo vệ di tích theo quy định của Luật Di sản văn hóa.