Diệt dốt ở Thành Lập

Bảy năm trước, đến Thành Lập, người ta sẽ nhìn thấy đây là một ngôi làng khốn khổ vả vất vả. Hầu hết trẻ em phải tham gia vào những việc làm của người lớn như gánh vác, tưới tắm, chợ búa… Làng Thành Lập, thuộc xã Minh Tân, huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Bảy năm trước, đến Thành Lập, người ta sẽ nhìn thấy đây là một ngôi làng khốn khổ vả vất vả. Hầu hết trẻ em phải tham gia vào những việc làm của người lớn như gánh vác, tưới tắm, chợ búa… Làng Thành Lập, thuộc xã Minh Tân, huyện Phú Xuyên, Hà Nội
   
Những người diệt dốt    
   
Những người dân quanh năm đầu tắt mặt tối
Những người dân quanh năm đầu tắt mặt tối
Đầu tiên chúng tôi phải kể đến tư tưởng tiến bộ của một số phụ huynh như gia đình ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Văn Cừ…Những phụ huynh này đã thoát khỏi tư tưởng: “Văn hay chữ tốt không bằng học dốt lắm tiền”; “có học cao rồi cũng về đi cày”.

Họ để dành thời gian cho con cái học, vận động để chúng không bỏ học giữa chừng, phân tích sự yếu kém của việc thất học, đồng thời mở ra những hướng đi trong tương lai khi học thành tài. Từ những học sinh tốt nghiệp  PTTH khá, giỏi, các em đã vươn lên, thi đỗ vào các trường ĐH, tốt nghiệp, ra trường, kiếm được công ăn việc làm. Từ đó, thúc đẩy các lớp học sinh sau, lấy đó làm gương để vươn lên, tạo thành phong trào học tập nô nức toàn Thành Lập.
   
Năm 2005, hai Linh Mục trưởng thành từ làng là Nguyễn Văn Hy, Nguyễn Văn Độ đã thành lập Quỹ khuyến học, khuyến khích học tập trong toàn dân, từ mẫu giáo đến đại học. Ngay năm đầu tiên ra quân, làng đã có 4 em đỗ vào Đại học, năm 2007 có 3 em đỗ. Khí thế của tất cả học sinh của các cấp được nâng lên nhiều. Đặc biệt, học sinh từ cấp II trở nên, đã có ý thức đua nhau học, theo đuổi một ước mơ cho tương lai.

Ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng thôn Thành Lập có con là Nguyễn Văn Dương, năm nay đỗ vào trường ĐH Công nghiệp n ăm 2007 nói: “Con tôi đỗ đại học, điều đó là rất mừng. Không chỉ riêng gì gia đình tôi, mà cả làng này. Bởi chúng nó góp phần thúc đẩy phong trào học tập của con em trong làng đi lên. Chúng tôi có quyền hy vọng vào lớp trẻ, bởi vì cha ông chúng đã quá khổ. Hy vọng chúng sẽ sướng hơn”

Ông Nguyễn Văn  Còi, có con đỗ vào ĐH Mỏ địa chất không khỏi xúc động: “Tính ra, bọn trẻ làng tôi so với làng khác không dốt hơn. Chúng thông minh lanh lợi lắm. Chỉ tại phụ huynh không chú ý đến con cái thôi. Chú ý rồi thì chúng sẽ khác. Con tôi đỗ, tôi rất mừng. Mong có nhiều em đỗ đạt vào các trường ĐH nữa…”
   
Trong lễ khuyến học của hai năm vừa rồi, em Nguyễn Thị Yếu, sinh năm 1994 được nhận danh hiệu học sinh giỏi toàn diện. Em là con gái cả của ông Nguyễn Văn Khỏe. Em Yến chẳng những học giỏi mà còn rất ngoan đạo, từng đạt giải nhất tòan Giáo phận Việt Nam về cuộc thi Giáo lý vừa rồi. Yến mơ ước trở thành một cô giáo giỏi để dạy cho học trò. Nói chuyện với em, chúng tôi nhận ra rằng em chẳng những thông minh, lanh lợi, mà còn có lòng thương người.

 Khi được hỏi em nghĩ sao về chuyện học hành của em, em nói:
Gia đình em khó khăn, nhưng nhiều bạn khác còn khó khăn hơn. Em thấy mình vẫn phải cố gắng nhiều”

Chúng tôi về Thành Lập vào đúng dịp các linh mục tổ lễ trọng thể ở nhà thờ để động viên và trao phần thưởng cho các em. Tất cả những em được học sinh tiên tiến, giỏi từ cấp mẫu giáo đến đại học. Những người lớn nhẩm tính, cứ đà này, mười năm sau, làng có khoảng 20-30 em đỗ đạt. Con ma dốt và lạc hậu sẽ bị trừ khử. Những người trẻ tuổi này sẽ làm việc, cống hiến, giúp cho Thành Lập chẳng những thoát nghèo mà kéo theo đời sống tinh thần cũng được cải thiện.
   
Các em học sinh nghèo học giỏi
Các em học sinh nghèo học giỏi
Canh cánh thoát giặc nghèo.

   
Thành Lập bao nhiêu năm qua làm nghề trồng rau. Đến mùa, nhà nào cũng phải 4-6 sào ruộng trồng rau, có nhà hơn. Gia đình không đủ ruộng thì đi thuê ruộng của những làng xung quanh. Nên cả ngày đòn gánh vắt vai, trĩu trịt gánh nước tưới rau trong cái nắng hanh heo khô khốc. Có người mệt mỏi quá, tức mình quở: “Chẳng biết cái ông cụ nào mang cái nghề này về làng, để cháu con vất vả quá. Mình bỏ mẹ cái nghề này đi thôi”.

Nhưng bỏ nghề rau thì biết làm nghề gì cho cam. Ngòai mỗi năm hai vụ lúa đồng trũng, đồng màu chỉ có thể trồng được rau, quả để bán cho những vùng xung quanh. Bỏ nghề rau thì chỉ còn nước đi…ăn mày. Lực lượng tham gia vào nghề trồng rau, chăm bón, tưới tắm hầu như tất cả dân số trong làng, kể cả người già và trẻ em.

Có những ông bà già đến tuổi 70 lẽ ra, chỉ an dưỡng, nghỉ ngơi, chăm lo, là chỗ dựa tinh thần cho con cháu thì vẫn phải quần quật ngòai đồng, thậm chí còn phải thồ rau đi chợ bán. Những em bé ở tuổi đi học, hoặc bỏ học ở nhà giúp đỡ gia đình, hoặc vừa học, thời gian rỗi thì gánh đồng, tưới tắm.
   
Minh Tân là một xã nằm ở cuối huyện Phú Xuyên, giáp Hà Nam và Hưng Yên, nên không thuận lợi về đường giao thông, những chính sách đến đây cũng chậm chạp. Thời gian nông nhàn, những người có sức khỏe đi làm gạch, gánh gạch thuê, đi phu hồ, xây dựng. Còn trẻ em, thường học xong cấp I đã phải tham gia vào đội quân làm đồng, chăn nuôi những chú gà chú vịt. Nói chuyện với những người già, chúng tôi thấy trên khuôn mặt họ những nét khắc khổ vừa của tuổi già, vừa của nỗi lo toan vất vả.

Những vất vả và gánh lo, chắc chắn không thể giảm bớt đi được. Bởi khi đã lo cho con học hành tử tế thì sẽ thêm phần tốn kém. Người Thành Lập quyết tâm “hy sinh đời bố củng cố đời con”. Khi “tuyên chiến” với cái dốt thì có nghĩa là họ đã sẵn sàng chấp nhận vất vả rồi. Nhiều thanh niên sớm bỏ học giờ thấy ân hận. Việc mà họ có thể làm lúc này là lấy vợ và tu chí làm ăn.

Không nghề phụ, họ vẫn chấp nhận đi làm thuê khi rảnh rỗi. Người sinh ra đông đúc mà ruộng đất thì chật hẹp. Những thanh niên của làng xây dựng gia đình và rủ nhau đi làm kinh tế mới, thành một làng nhỏ ở miền đồi Cao Bằng. Ở nhà giờ chủ yếu là người già, trẻ em và trung niên. Nghề trồng lúa và làm rau màu vẫn đeo đẳng họ, vì chẳng một thứ cây trồng nào thích hợp để họ chuyển đổi.
   
Dù đã thoát được dốt, nhưng để thoát nghèo là một bài toán khó. Điều này nằm trong ý nghĩ trăn trở của hầu hết những người nông dân. Họ canh cánh một nỗi lo là con người cứ sinh sôi nảy nở, mà đất thì ngày càng bị thu hẹp.

Nguyễn Văn Học