Điện mặt trời mái nhà mở rộng dư địa sử dụng năng lượng hiệu quả - Bài 1: Điện mặt trời mái nhà tăng tốc ở miền Bắc
Một xu hướng đã thành hình. Từ Hải Phòng đến Quảng Ninh và rộng hơn là địa bàn của miền Bắc, điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) đang hiện diện trong nhiều không gian khác nhau: nhà dân, cơ sở sản xuất, nhà máy, khu công nghiệp và quan trọng hơn, các hệ thống đã vận hành đang chứng minh được giá trị thực tế…
Từ những hệ thống nhỏ trên mái nhà dân đến hàng chục MW tại các khu công nghiệp, điện mặt trời mái nhà đang có bước phát triển nhanh tại miền Bắc. “Cú hích” từ chính sách tiết kiệm điện, cùng nhu cầu giảm chi phí năng lượng và yêu cầu xanh hóa sản xuất đang khiến những mái nhà ngày càng trở thành một phần trong bài toán sử dụng năng lượng hiệu quả của doanh nghiệp.
Khi chính sách gặp đúng nhu cầu thực tế
Trong câu chuyện phát triển ĐMTMN tại miền Bắc, Chỉ thị 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiết kiệm điện và phát triển ĐMTMN (Chỉ thị 10) xuất hiện trong một thời điểm khá đặc biệt. Đó là lúc nhu cầu điện tại khu vực miền Bắc tăng nhanh cùng quá trình công nghiệp hóa, trong khi doanh nghiệp (DN) ngày càng phải tính toán kỹ hơn về chi phí năng lượng và yêu cầu giảm phát thải. Vì vậy, việc sử dụng điện hiệu quả không còn chỉ là giảm lượng điện tiêu thụ, mà còn mở rộng sang khả năng tự tạo ra một phần nguồn điện phục vụ chính hoạt động sản xuất.
Những gì đang diễn ra tại Hải Phòng cho thấy khá rõ sự cộng hưởng này. Theo đại diện Công ty Điện lực Hải Phòng, đến hết 30/6/2026, Hải Phòng có 968 đơn vị lắp đặt ĐMTMN với tổng công suất gần 60MW. Đáng chú ý, khoảng 70% lượng công suất này được đưa vào nhiều trong các tháng 4, 5 và 6, sau khi có tác động từ Chỉ thị 10. Con số trên cho thấy chính sách xuất hiện gặp đúng lúc nhu cầu đã hình thành ở phía người sử dụng điện và đã có hiệu quả rất rõ rệt. Trong đó, các khu công nghiệp (KCN) đang trở thành một trong những không gian cho thấy rõ nhất tốc độ phát triển của ĐMTMN.
Ví dụ, ở KCN DEEP C, tổng công suất ĐMTMN đã được đưa vào vận hành trong toàn khu ước khoảng 21MW, bao gồm hệ thống của chủ đầu tư (CĐT) và các DN. Riêng hệ thống của CĐT đã có hơn 5MW, được lắp đặt tại ba khu vực. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số 21MW. Quan trọng hơn, nguồn điện mặt trời đang được hình thành từ nhiều chủ thể khác nhau. Và theo kế hoạch, dự kiến đến hết năm 2027, tổng công suất lắp đặt ĐMTMN tại đây có thể đạt đến 64 MW với các mức công suất cụ thể đã được các DN tại KCN đăng ký.
Các KCN ở Quảng Ninh cũng đang cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ĐMTMN. Đại diện CĐT KCN Texhong Hải Hà cho biết, KCN này có 32 nhà đầu tư thứ cấp, tiêu thụ khoảng 2,2 triệu kWh điện mỗi ngày. Trong KCN, một DN đã lắp đặt ĐMTMN với tổng công suất 20,47MW. Hiện CĐT và 4 DN khác cũng đã đạt được thỏa thuận sẽ lắp ĐMTMN. Vấn đề còn lại chủ yếu vướng mắc ở chỗ các điều kiện có thể lắp đặt được các tấm pin nên CĐT đang làm việc với các DN lớn với mục tiêu khuyến khích các DN tự dùng, không lên lưới điện chung. KCN Hải Yên cũng đã có nhiều DN lắp đặt, trong đó, lớn nhất là một DN lắp đặt với tổng công suất khoảng 24MW.
Nếu nhìn vào những mái nhà xưởng ở Hải Phòng hay Quảng Ninh, có thể thấy một thay đổi khá rõ trong cách DN tiếp cận năng lượng. Đáng chú ý, sự phát triển này diễn ra trong bối cảnh yêu cầu tiết kiệm điện và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng ngày càng được nhấn mạnh trong chính sách. Chỉ thị 10 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo thêm một bối cảnh chính sách thuận lợi để các địa phương, DN quan tâm mạnh hơn tới sử dụng năng lượng hiệu quả và nguồn điện sản xuất tại chỗ.
Tiết kiệm hàng tỷ đồng tiền điện mỗi tháng
Ông Phan Văn Dương - quản lý điện của Công ty TNHH FLAT (Việt Nam), DN nằm trong KCN DEEP C cho biết, FLAT đã lắp đặt hệ thống ĐMTMN với công suất khoảng 11,5MW và gần như toàn bộ đã được đưa vào vận hành. Nhà máy vẫn còn quỹ mái có thể lắp thêm khoảng 1,5MW. Theo tính toán, vào những ngày nắng nóng, hệ thống có thể phát công suất đỉnh hơn 9MW, tương đương 80 - 85% công suất thiết kế và đáp ứng khoảng 30% nhu cầu điện của nhà máy, vốn dao động 30 - 35MW. Trung bình trong ngày, công suất phát khoảng 6,5 - 7MW tùy điều kiện thời tiết.
Ngoài hệ thống ĐMTMN, DN này còn triển khai nhiều giải pháp tiết kiệm năng lượng khác. Ví dụ, toàn bộ hệ thống chiếu sáng xung quanh nhà máy sử dụng đèn tích hợp pin năng lượng mặt trời. Đáng chú ý, ngay từ khi thành lập, nhà máy đã đầu tư hệ thống thu hồi nhiệt dư từ lò sản xuất để phát điện, cung cấp hơi nước và phục vụ hệ thống làm lạnh nội bộ.
Theo ông Phan Văn Dương, hệ thống thu hồi nhiệt dư hoạt động liên tục 24/24 giờ với công suất khoảng 5MW, tạo ra trung bình khoảng 90.000kWh điện mỗi ngày. Nhờ kết hợp ĐMTMN và phát điện từ nhiệt dư, lượng điện phải lấy từ lưới giảm đáng kể so với nhu cầu thực tế của nhà máy, đồng thời đưa FLAT trở thành một đơn vị điển hình về sử dụng năng lượng hiệu quả ở Hải Phòng.
Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Ngân Long (Quảng Ninh) có tổng công suất ĐMTMN gần 20MW, tổng vốn đầu tư khoảng 150 tỷ đồng, đã phủ kín mái của 5 nhà xưởng. Trước khi đầu tư, chi phí tiền điện mỗi tháng dao động khoảng 40 - 60 tỷ đồng. Khi hệ thống vận hành, ĐMTMN đáp ứng khoảng 8 - 10% tổng nhu cầu điện của nhà máy, giúp tiết kiệm bình quân khoảng 5 - 6 tỷ đồng mỗi tháng; vào những tháng thời tiết thuận lợi, khoản tiết kiệm có thể đạt 6 - 7 tỷ đồng.
Ở KCN Texhong Hải Hà (Quảng Ninh), hệ thống ĐMTMN của Công ty TNHH Công nghệ kỹ thuật Ngân Hà có tổng công suất 20,47MW đã đi vào hoạt động được hơn 1 năm trên mái của 4 nhà xưởng và 2 nhà kho, cho sản lượng điện lên đến 2,9 triệu kWh/tháng. Hiện Ngân Hà vẫn tiếp tục xin phép để lắp đặt ĐMTMN ở toàn bộ các nhà xưởng còn lại.
Ông Cà Văn Cường - quản lý điện của Công ty Ngân Hà cho biết, khoản chi phí cho sử dụng điện tại Ngân Hà khá lớn khi hiện nay DN chi khoảng 25 - 28 tỷ đồng cho mỗi kỳ thanh toán 10 ngày (trước khi có ĐMTMN khoản này đều trên 30 tỷ đồng). Sau khi đầu tư hệ thống ĐMTMN, công ty đã tiết kiệm được khoảng 5 - 6 tỷ đồng tiền điện mỗi tháng.
Từ tiết kiệm điện đến yêu cầu của chuỗi cung ứng
ĐMTMN giúp Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Ngân Long - một DN chuyên sản xuất dệt sợi, xuất khẩu đi châu Âu, giảm đáng kể chi phí sử dụng điện. Nhưng theo ông Phạm Xuân Giỏi - chủ quản điện của DN, các khách hàng lớn còn quan tâm đến nguồn năng lượng sử dụng, mức độ tiết kiệm điện và những giải pháp giảm phát thải tại nhà máy. Điện mặt trời vì vậy đang mang một ý nghĩa khác đối với DN xuất khẩu.

cho Công ty FLAT.
Nếu trước đây năng lượng chủ yếu được nhìn dưới góc độ chi phí đầu vào, thì hiện nay nguồn năng lượng sử dụng còn liên quan đến yêu cầu của khách hàng và thị trường. Đại diện KCN Texhong Hải Hà cũng cho biết nhu cầu sử dụng điện xanh đang được thúc đẩy bởi chính các DN và đối tác quốc tế, đặc biệt là các đối tác đến từ châu Âu.
Tại KCN Texhong Hải Hà, phần lớn DN là nhà cung ứng cho đối tác châu Âu và Bắc Mỹ - những thị trường ngày càng đặt yêu cầu cao hơn về phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm phát thải trong chuỗi cung ứng. Động lực này khiến ĐMTMN không còn là câu chuyện riêng của ngành điện mà đã trở thành một phần trong chiến lược sản xuất của DN. Bởi với DN, việc tự sản xuất, tự tiêu thụ một phần điện năng từ mái nhà tạo thêm một phương án để giảm lượng điện phải mua từ lưới và cũng góp phần thực hiện sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh - Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) cho biết, phát triển ĐMTMN là điểm sáng nổi bật trong 6 tháng đầu năm của Tổng Công ty. Đặc biệt, từ tháng 4 trở đi (sau khi Chỉ thị 10 được ban hành), tốc độ phát triển tăng mạnh nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Công ty, sự vào cuộc của các công ty điện lực thành viên và sự đồng hành của chính quyền địa phương trong tuyên truyền, hướng dẫn khách hàng triển khai theo quy định mới.

Theo đó, trong 6 tháng đầu năm EVNNPC có thêm 8.500 khách hàng lắp đặt ĐMTMN tự sản xuất, tự tiêu thụ với tổng công suất 394,5MW, đạt 167% kế hoạch về số lượng khách hàng và 116% kế hoạch về công suất. Trong đó, các tháng của quý II, lượng khách hàng phát triển đột biến, đưa EVNNPC vượt đáng kể kế hoạch được giao.
Điều này cho thấy, một xu hướng đã thành hình. Từ Hải Phòng đến Quảng Ninh và rộng hơn là địa bàn của EVNNPC, ĐMTMN đang hiện diện trong nhiều không gian khác nhau: nhà dân, cơ sở sản xuất, nhà máy, khu công nghiệp. Quy mô cũng đã thay đổi từ những hệ thống nhỏ đến những dự án hàng chục MW. Quan trọng hơn, các hệ thống đã vận hành đang chứng minh được giá trị thực tế khi các DN có thể giảm chi phí điện; nhà máy có thể sử dụng trực tiếp nguồn điện sạch cho sản xuất, để thuận lợi vào các thị trường khó tính; đồng thời khẳng định hiệu quả của việc sử dụng nguồn năng lượng.
Điều này có thể lý giải cho câu chuyện ĐMTMN ở miền Bắc hiện nay không còn chỉ là câu chuyện “có bao nhiêu tấm pin được lắp” mà còn là câu chuyện về một cách thức sản xuất và sử dụng điện đang thay đổi. Và Chỉ thị 10 đã và đang tạo thêm lực đẩy để những yêu cầu đã được đặt ra từ nhiều năm nay như tiết kiệm điện, giảm chi phí, sử dụng năng lượng sạch, hiệu quả và chủ động nguồn điện cùng hội tụ…
(Còn tiếp)