Diễn biến vụ kiện dự án đã hoàn thành 6 năm vẫn chưa được trả hết tiền: Quan điểm khác biệt về lợi nhuận, lãi vay giữa các bên
(PLVN) - Như PLVN đã phản ánh, dự án đầu tư xây dựng công trình nâng cấp tuyến đường bộ nối tỉnh Phú Yên cũ và Gia Lai (đoạn trên địa phận tỉnh Phú Yên) đã được Cty TNHH Đầu tư BT Phú Yên - Gia Lai hoàn thành nhiều năm; nhưng doanh nghiệp (DN) vẫn chưa được trả hết số tiền đã bỏ ra để thực hiện dự án.
Tỉnh muốn xem xét lại vấn đề lợi nhuận, lãi vay
Dự án đã nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng từ 11/4/2020, nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng từ 10/6/2020. Ngày 18/11/2021, DN đã hoàn thành công tác bảo hành công trình, đã được Sở GTVT (cũ, nay là Sở Xây dựng) và đơn vị bảo trì đường bộ xác nhận.
Theo hợp đồng BT và phụ lục giữa các bên, quy định lợi nhuận của nhà đầu tư (NĐT) bằng 14% trên tổng mức đầu tư, chi phí lãi vay trong thời gian thi công theo lãi suất ngân hàng cho vay và lãi chậm trả sau khi đưa công trình sử dụng 18 tháng do ngân hàng công bố.
Các biên bản làm việc đều thể hiện UBND tỉnh sẽ chi trả toàn bộ chi phí cho DN theo các mốc thời gian (lần lượt thay đổi) là 30/9/2020, 31/12/2020, 30/6/2021. Tuy nhiên, sau đó, tỉnh Phú Yên (cũ) cho rằng việc quyết toán, thanh toán lần cuối phải tuân thủ hướng dẫn chuyên ngành là Công văn 4093/BTC-QLN ngày 6/4/2020 của Bộ Tài chính.
Theo Công văn 4093, nếu hợp đồng BT được thanh toán nhiều lần thì báo cáo quyết toán (BCQT) hợp đồng dự án phải được phê duyệt trước lần thanh toán cuối cùng. Từ đó, tỉnh phủ nhận giá trị của biên bản làm việc ngày 29/12/2020 (với cam kết thanh toán lần cuối trước 30/6/2021) vì “BCQT tổng thể vẫn chưa được phê duyệt và không có cơ sở thực hiện giải ngân trước 30/6/2021”. Trong khi đó, DN cho rằng đã nhiều lần gửi BCQT.
UBND tỉnh Phú Yên (cũ) cũng đặt lại vấn đề về lãi vay, lợi nhuận NĐT tại hợp đồng BT và phụ lục đã ký; cho rằng “có vướng mắc” và xin ý kiến hướng dẫn; nên đến nay vẫn chưa quyết toán cho DN.
Cụ thể, UBND tỉnh cho rằng các nội dung của hợp đồng gồm: “Lãi suất vốn vay trong thời gian xây dựng; thời gian tính toán chi phí lãi vay trong thời gian xây dựng; lãi vay sau thời gian xây dựng và mức lợi nhuận của NĐT” là còn vướng mắc và cần phải sửa đổi, bố sung hợp đồng cho phù hợp quy định pháp luật. DN phản ánh, trong quá trình đàm phán, tỉnh Phú Yên muốn tính lợi nhuận NĐT bằng 10,8% trên vốn chủ sở hữu và chỉ tính toán 1 lần; trong khi vốn chủ sở hữu của NĐT là hơn 152 tỷ đồng nhưng tổng mức đầu tư cho dự án lên đến hơn 1.498 tỷ đồng.
UBND tỉnh viện dẫn ý kiến của Bộ Tài chính, lãi vay huy động vốn đầu tư của NĐT trong thời gian xây dựng công trình được tính trong tổng mức đầu tư dự án với thời gian tính lãi vay tối đa không vượt quá thời gian xây dựng; chưa có quy định về việc tính lãi vay trả chậm phần vốn NĐT huy động do Nhà nước chậm thanh toán; mức lãi suất vốn vay quy định tại hợp đồng BT là chưa phù hợp quy định tại thời điểm ký kết hợp đồng; việc thanh quyết toán các khoản chi phí, vốn đầu tư của dự án phải nằm trong tổng mức đầu tư đã được phê duyệt…
DN cho rằng đã nhiều lần giải trình cụ thể
Trước các ý kiến trên của UBND Phú Yên (nay là Đắk Lắk), DN cho rằng đã nhiều lần giải trình cụ thể với tỉnh. Theo đó, mức lãi suất vốn vay đã được Kiểm toán Nhà nước xác nhận “thấp hơn mức lãi suất vốn vay trung bình của 3 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước và mức lãi suất này là tiết kiệm chi phí cho dự án”.
Bộ Xây dựng cũng từng có văn bản trả lời UBND tỉnh Phú Yên về vấn đề lãi vay, theo đó: “Trường hợp cơ quan nhà nước thẩm quyền chậm thanh toán theo hợp đồng BT thì việc thanh toán chi phí lãi vay phát sinh thực hiện theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng BT đã ký và pháp luật liên quan áp dụng cho hợp đồng”.
Trong khi đó, hợp đồng BT giữa hai bên đã quy định: “Giá trị còn lại của Hợp đồng BT sẽ được bên A thanh toán cho bên B trong 18 tháng kể từ ngày bàn giao công trình. Trong thời gian này phần giá trị hợp đồng chưa được thanh toán vẫn được tính lãi như trong thời gian xây dựng. Nếu sau 18 tháng từ ngày công trình được chuyển giao mà bên A vẫn chưa thanh toán giá trị hợp đồng thì khoản chậm trả này được tính bằng lãi suất quá hạn của ngân hàng mà bên B huy động vốn thực hiện dự án”.
DN cũng cho rằng mức lợi nhuận NĐT trong hợp đồng BT là phù hợp pháp luật tại thời điểm ký hợp đồng. Theo đó, cơ quan nhà nước thẩm quyền có trách nhiệm tham khảo mức lợi nhuận bình quân của các DN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tương ứng, lợi nhuận của các dự án tương tự so với mặt bằng thị trường khu vực dự án và lợi nhuận của các ngành, lĩnh vực khác để xem xét tính toán mức lợi nhuận hợp lý đề xuất.
DN đưa ra mức lợi nhuận của các dự án có tính chất tương tự gồm: Dự án cải tạo, nâng cấp đường 39B đoạn tuyến tránh thị trấn Thanh Nê (huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cũ); đầu tư xây dựng tuyến đường bộ mới Phủ Lý - Mỹ Lộc và xây dựng tuyến đường bộ nổi 2 tỉnh Thái Bình (cũ) - Hà Nam (cũ) với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình... Các dự án trên đều xác định lợi nhuận NĐT được tính bằng 14% trên tổng mức đầu tư.
Mặc dù DN đã giải trình như trên, nhưng UBND tỉnh vẫn đề nghị DN đàm phán, ký kết phụ lục hợp đồng điều chỉnh để làm cơ sở thanh toán lần cuối cùng. DN dự án không đồng ý, đề nghị giữ nguyên theo hợp đồng BT và các phụ lục đã ký trước đó. Do đó, việc thanh quyết toán nốt cho DN vẫn rơi vào bế tắc.