Diễn biến vụ hơn 4.000 chai thuốc trừ cỏ chứa chất cấm tại Gia Lai: VKSND tỉnh thông tin về quá trình giải quyết vụ án
(PLVN) - Liên quan sự việc hơn 4.000 chai thuốc trừ cỏ chứa chất cấm, VKSND tỉnh Gia Lai vừa có Văn bản 362/VKS-P1 thông tin về quá trình giải quyết vụ án, trả lời theo Công văn chuyển đơn số 482/CV-PL-VNBBĐ ngày 16/4 của Báo PLVN.
Theo hồ sơ vụ án, bà Hồ Thị Phụng (SN 1968, ngụ xã Phú Thiện, Gia Lai) phản ánh đặt mua 300 thùng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) từ bà Trần Thị Nhung. Ngày 11/11/2021, bà Nhung giao 218 thùng, bà Phụng chuyển 740 triệu đồng vào tài khoản bà Lâm Thị Hồng Thắm, là người nhà bà Nhung. Do nghi ngờ số thuốc trên có hoạt chất bị cấm sử dụng nên bên mua trình báo cơ quan chức năng. Sau đó, VKSND huyện Phú Thiện (cũ) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT, Công an Gia Lai điều tra theo thẩm quyền.
VKSND Gia Lai cho biết, qua kiểm tra đơn và kiểm tra hồ sơ vụ án của Cơ quan CSĐT, Công an Gia Lai, thấy rằng: Ngoài lời khai và việc cung cấp chứng từ đã chuyển tiền qua tài khoản thì bà Phụng chưa cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến việc mua bán như: Hợp đồng mua bán, hóa đơn, thông tin người lái xe, biển số xe... để phục vụ công tác điều tra, xác minh có hay không hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thông qua việc mua bán thuốc trừ cỏ.

Khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan CSĐT căn cứ quy định pháp luật, đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự với vụ án nêu trên. Quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan CSĐT đã gửi thông báo cho bà Phụng theo đúng quy định.
Liên quan sự việc, ngày 16/4/2026, UBND tỉnh Gia Lai cũng đã có Văn bản 4610/UBND-NNMT về xử lý đơn kiến nghị của bà Phụng. Đơn có nội dung kiến nghị xem xét, xử lý vụ việc liên quan đến việc mua bán thuốc BVTV có dấu hiệu hàng cấm, hàng giả và đề nghị khởi tố hành vi vi phạm pháp luật. Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai có ý kiến đề nghị Công an tỉnh, VKSND tỉnh xem xét xử lý, giải quyết đơn kiến nghị của công dân theo đúng quy định pháp luật.
Trước đó, như PLVN đã phản ánh, tháng 11/2021, bà Phụng là chủ một cơ sở kinh doanh thuốc BVTV tại tổ dân phố 11, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện cũ (nay là xã Phú Thiện), đặt hàng ông Đặng Duy Nam (SN 1979, ngụ Đắk Lắk) số lượng lớn thuốc BVTV. Ông Nam cung cấp số tài khoản của bà Thắm để bên mua chuyển tiền mua hàng. Bên mua chuyển 740 triệu đồng và được giao trước 218 thùng thuốc diệt cỏ tổng cộng 4.360 chai (mỗi thùng 20 chai, mỗi chai 900ml), gồm 84 thùng Kanup 480SL, 88 thùng Piup 480SL, 45 thùng Bravo 480SL, 1 thùng Lyphoxim 41SL. Sau đó, khi kiểm tra 218 thùng thuốc đã giao, bên mua phát hiện thùng không nhãn mác, các chai thuốc có dấu hiệu chứa chất cấm Glyphosate nên yêu cầu ngưng giao số hàng còn lại.
Một xe tải đến, tài xế nói lấy lại số hàng trên cho người có tên Trần Thị Nhung, nhưng không trả lại tiền, nên bên mua không đồng ý cho bốc hàng đi. Các bên gọi điện mà không thỏa thuận được việc trả tiền, trả hàng như thế nào, nên trình báo công an.
Tháng 1/2023, Công an huyện tạm giữ toàn bộ số hàng. Tháng 6/2024, Công an huyện ra thông báo kết luận giám định cho biết chất lỏng chứa trong tất cả các chai đều tìm thấy hoạt chất Glyphosate. Tháng 8/2024, VKSND huyện Phú Thiện (nay là VKSND Khu vực 12 - Gia Lai) ra văn bản chỉ ra một số lưu ý như cần lấy lời khai các bên về giao dịch; làm rõ vấn đề trong thuốc có chứa chất không được phép sử dụng, một số lọ không ghi ngày sản xuất, một số lọ trên nhãn mác có ghi nhà sản xuất nhưng qua xác minh thực tế không có tên Cty này. Tháng 2/2025, VKSND huyện ra Quyết định 01/QĐ-VKS khởi tố vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Gia Lai để điều tra. Đến đầu tháng 3/2026, CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ vì hết thời hạn điều tra.
Nhận định về sự việc, Luật sư (LS) Bùi Thị Lương (Đoàn LS TP Hà Nội) nêu quan điểm, sự việc có dấu hiệu “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo Điều 190 BLHS và “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc BVTV” theo Điều 195 BLHS khi một số loại thuốc BVTV không ghi ngày sản xuất, hoặc có ghi tên nhà sản xuất nhưng qua xác minh không có tên Cty này.
Cũng theo LS Lương, việc mua bán hàng hóa không nhất thiết phải lập thành văn bản, mà chỉ cần hai bên giao kết qua điện thoại hoặc hợp đồng miệng. “Trường hợp này, cần làm rõ nguồn hàng ông Nam mua hoặc môi giới từ đâu, có khớp với thông tin chuyển tiền hay không để xác định ai là người bán, ai là người chịu trách nhiệm”, LS Lương nêu quan điểm.
Trả lời PV, ông Nam cho rằng mình chỉ là người môi giới, không nắm được việc thuốc trừ cỏ bán cho bà Phụng có chứa chất cấm. Ông Nam nói số hàng trên là mua của bà Nhung. Sau khi sự việc xảy ra, ông đã tìm và điện thoại cho bà Nhung nhưng không được.
Về phía bà Phụng, cho rằng: “Quá trình mua bán, tôi chỉ biết ông Nam. Ông Nam là người xác nhận có hàng bán, giá mua bán, thời gian vận chuyển, yêu cầu tôi chuyển tiền vào tài khoản của bà Thắm. Còn ông Nam mua bán hay làm trung gian cho ai thì tôi không biết”. Bà Phụng cho biết đã cung cấp các chứng cứ, tin nhắn đến CQĐT.