Dịch di chuyển lao động nông nghiệp- Chủ động đón nhận xu hướng tất yếu

Cùng với đô thị hoá, di chuyển lao động trong sản xuất nông nghiệp diễn ra phổ biến. Việc dịch chuyển lao động góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ đất đai, hình thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên, nếu không có sự chủ động “đón nhận”,  vấn đề  này có thể sẽ phát sinh phức tạp, khó khăn nhất định cho từng địa phương.  

Ly nông bất ly hương

 

Tại nhiều vùng nông thôn có tốc độ đô thị hoá nhanh đang xuất hiện ngày càng nhiều nông dân chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và làm dịch vụ quanh khu công nghiệp. Nông dân trở thành công nhân, người kinh doanh, dịch vụ, không sản xuất nông nghiệp nhưng không phải rời xa quê hương. Huyện Kiến Thụy có khoảng hơn 10 nghìn lao động nông nghiệp chuyển sang làm công nhân tại một số nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn. Tại thị trấn Trường Sơn (An Lão) nơi hình thành cụm công nghiệp An Tràng, hoạt động kinh doanh dịch vụ của xã phát triển mạnh. Hiện nay, trên địa bàn xã có gần 200 hộ kinh doanh dịch vụ quanh khu công nghiệp. Bên cạnh đó, các công ty, xí nghiệp trên địa bàn xã giải quyết việc làm cho khoảng 600 lao động của địa phương. Từ một vùng quê thuần nông 3 năm trở lại đây, nhiều xã nhộn nhịp phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Việc một phần nông dân chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ giúp nhiều địa phương giảm gánh nặng giải quyết lao động dôi dư, thiếu nhỡ việc làm. Tỷ trọng lao động phổ thông thoát ly nông nghiệp chuyển sang hoạt động sản xuất công nghiệp tăng nhanh, từng bước bù đắp số lao động nông nghiệp thuần tuý bị mất việc làm, hoặc trở thành bán thất nghiệp; nhờ đó, thu nhập chung của địa phương được cải thiện tương đối so với trước.

 

Tại nhiều vùng quê, với sự hình thành mạnh mẽ của các trang trại, xưởng sản xuất, làng nghề mới, các doanh nghiệp nông nghiệp thu hút khá nhiều lao động địa phương vào làm việc. Nông dân vừa có việc làm thêm ngoài nông nghiệp, vừa không phải ly hương. Tại làng nghề đúc Mỹ Đồng (Thuỷ Nguyên) hiện có hơn 50 doanh nghiệp tư nhân mở xưởng sản xuất đúc đồng truyền thống, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động ở địa phương. Nhiều hộ dân ở đây sống được bằng nghề truyền thống nên tỷ lệ làm nông nghiệp của xã giảm, thu nhập tăng. Việc số lao động nông nghiệp giảm cũng giúp cho việc tích tụ đất đai, quy vùng sản xuất nông sản hàng hoá của địa phương thuận lợi hơn. Đây chính là xu thế dịch chuyển lao động nông nghiệp bền vững. 

 

Bình quân từ năm 1996 đến 2005, lao động nông nghiệp Hải Phòng giảm 5,92%/ năm; lao động công nghiệp- xây dựng tăng 2,43%/ năm, lao động dịch vụ tăng 3,57%/ năm. (Theo Bộ Lao động- TBXH)

 

Gánh nặng từ làng… ra phố

 

Ngược lại, tại nhiều địa phương thuần nông, khó phát triển nghề phụ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, lại xảy ra tình trạng nông dân dần rời bỏ ruộng đất vì thu nhập từ sản xuất nông nghiệp quá thấp để đi vào thành phố tìm việc làm…Nhiều vụ nay, gia đình ông Thành ở xã Trường Thành, An Lão không còn lao động sản xuất nông nghiệp. Hơn 5 sào ruộng của gia đình chỉ còn một mình ông đảm nhiệm. Đến khi vào vụ sản xuất, từ khâu cày lật đất đến gieo mạ, cấy lúa ông đều thuê người làm với giá 10.000 đồng/ngày.Ông bà đã yếu chỉ đủ sức chăm bón, làm cỏ, phun thuốc trừ sâu cho lúa, đến lúc thu hoạch cũng lại thuê người gặt hộ. Nhà ông có 3 con trai thì cả 3 đều vào nội thành làm phụ hồ, lương tháng bằng cả một vụ cấy lúa. ở xã ông gia đình nào cũng có lực lượng lao động trẻ đi vào thành phố tìm việc, chỉ còn người già, phụ nữ trung tuổi chăm lo việc đồng áng. Đây cũng là hình ảnh chung của nhiều địa phương, khiến gia tăng tình trạng “già hoá” và “nữ hoá” lao động nông nghiệp, ảnh hưởng đến đầu tư sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản. Trong khi đó, những người nông dân “từ làng ra phố” nhưng vẫn giữ nguyên mức ruộng khoán ở nhà. Nên dù lao động nông nghiệp giảm nhưng quá trình tích tụ đất đai vẫn khó thực hiện. Mặt khác, sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị đang là vấn đề khiến nhiều địa phương lo lắng. Nguyên do là những lao động từ làng ra phố tìm việc làm mới sẽ gặp khó khăn với môi trường sinh hoạt nơi đô thị. Lao động nhập cư với mức độ lớn, chất lượng lao động thấp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng nhu cầu nhà ở, điện nước, giao thông, dẫn đến tình trạng quá tải, tăng thêm gánh nặng cho bộ máy hành chính quản lý xã hội, xây dựng lối sống đô thị hiện đại. Sự dịch chuyển lao động theo hướng này, không bền vừng, còn mang gánh nặng cho cả nông thôn và thành thị.

 

Sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành

 

Để tìm lời giải cho bài toán tạo việc làm cho nông dân trong cơn lốc hội nhập rất cần sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành. Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ để tự do hoá thị trường lao động, khuyến khích, tạo điều kiện dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp. Các địa phương chủ động đón nhận xu hướng dịch chuyển lao động, chủ động cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc y tế, sức khoẻ cho cư dân nông thôn để giúp giảm rủi ro đói nghèo và giúp họ hoà nhập được vào lực lượng lao động công nghiệp; cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn để tăng cường liên kết nông thôn- thành thị. Thành phố và các địa phương mở những lớp dạy nghề, đào tạo nghề mới cho lao động nông nghiệp, trang bị kiến thức cho nông dân; xây dựng cơ chế ưu tiên đầu tư nghề, dạy nghề cho nông dân tại những nơi thực hiện dự án mới. ở những vùng ven đô không còn nhiều đất, các xã có thể tạo thêm nghề thủ công mỹ nghệ, cơ khí, dịch vụ, hàng tiêu dùng cho người trung tuổi; chủ động đào tạo nghề cho lao động trẻ để họ có tay nghề, trình độ, đáp ứng yêu cầu của các nhà máy, xí nghiệp. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nông thôn, HTX kiểu mới, trang trại, làng nghề mới để tạo việc làm cho nông dân, giúp dịch chuyển lao động bền vững trong khu vực nông thôn...

 

Hoàng Yên