Đi tìm lời giải góp phần phát huy giá trị văn tự ở các di tích - Bài 2: Ứng dụng công nghệ để những con chữ không còn xa lạ
Mong muốn tìm hiểu, biết được ý nghĩa của các di văn Hán Nôm (hoành phi, câu đối…) ở các di tích là một nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đông đảo du khách thập phương khi đến với các di tích. Sử dụng thêm chú giải bằng tiếng Việt, đặc biệt, việc số hóa và ứng dụng khoa học công nghệ được xem là giải pháp hữu hiệu trong bối cảnh hiện nay.
Cần bảo tồn nguyên vẹn các di văn gốc
Việt Nam sở hữu một hệ thống di tích vô cùng phong phú, với vài chục nghìn di tích trong danh mục kiểm kê, hơn 150 di tích quốc gia đặc biệt, hàng nghìn di tích cấp quốc gia, hàng chục nghìn di tích do địa phương quản lý và bảo tồn. Trong số đó, nhiều di tích tập trung hệ thống di văn Hán Nôm (hoành phi, câu đối, bia đá, sắc phong…) đa dạng.
Trao đổi với PV, các nhà nghiên cứu, thư pháp đều cho rằng, việc bảo tồn nguyên vẹn các di văn Hán Nôm, đặc biệt tại các di tích cổ, di tích đã được xếp hạng là quan trọng và cần thiết.
“Bảo tồn không chỉ là giữ lại hình thức bên ngoài mà còn phải giữ được tinh thần của di sản. Chính vì thế, những công trình còn bảo tồn được nguyên trạng thì càng phải tôn trọng hệ thống văn tự, di văn gốc. Trong trường hợp thật cần thiết, nếu bổ sung hoặc phục dựng thì cần kế thừa phong cách của đúng giai đoạn lịch sử, không nên đưa vào những yếu tố hiện đại chỉ vì sự tiện lợi”, nhà thư pháp Xuân Như Vũ Thanh Tùng nêu quan điểm.
Trải qua thời gian, di sản Hán Nôm đã trở thành một phần “hồn cốt”, là “vốn văn hóa” của dân tộc. Chúng vẫn đang kể câu chuyện về lịch sử dân tộc, về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, về triết lý nhân sinh và mỹ học phương Đông được hun đúc qua hàng nghìn năm.
“Với những di tích đã được xếp hạng, đã có chiều dài thời gian, hệ thống di văn Hán Nôm (như hoành phi, câu đối…) cần được bảo tồn nguyên gốc, việc thay thế là điều không nên làm. Bởi mỗi bức hoành phi không chỉ chứa nội dung mà còn là một hiện vật lịch sử, phản ánh trình độ thư pháp, mỹ thuật và tư duy thẩm mỹ của từng thời kỳ. Nếu vì sự tiện lợi trước mắt mà thay thế toàn bộ những giá trị ấy bằng những giải pháp dễ dãi, chúng ta có thể khiến di tích trở nên gần gũi hơn trong chốc lát, nhưng lại vô tình làm nghèo đi chiều sâu văn hóa mà cha ông đã dày công vun đắp”, thư pháp gia Kiều Quốc Khánh chia sẻ.
Bên cạnh đó, việc thay thế hoàn toàn các di văn gốc bằng các hiện vật mới, trong đó phiên âm chữ Hán - Nôm sang Hán Việt được cho là chưa phải lời giải cho bài toán phát huy giá trị di sản. “Ngay cả khi chuyển toàn bộ câu đối sang chữ quốc ngữ, chưa chắc người đọc đã hiểu được ý nghĩa. Bởi bản thân nhiều câu đối cổ sử dụng điển tích, lối văn biền ngẫu, từ Hán Việt cô đọng và hàm súc. Người đọc có thể đọc thành tiếng nhưng vẫn không hiểu nội dung, giá trị lịch sử hay triết lý ẩn chứa phía sau”, ông Vũ Thanh Tùng cho biết.
Đưa di sản vượt ra ngoài phạm vi truyền thống
Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để công chúng có thể tiếp cận được một cách rộng rãi, dễ dàng với vốn di sản Hán Nôm phong phú của cha ông. Giải pháp được các nhà nghiên cứu, thư pháp đưa ra đó là, cần nhanh chóng số hóa, ứng dụng khoa học công nghệ trong việc phát huy giá trị của di tích nói chung, di văn Hán Nôm trong di tích nói riêng.
Theo nhà thư pháp Xuân Như Vũ Thanh Tùng, tại mỗi di tích có thể xây dựng hệ thống bảng chú giải, tích hợp với mã QR giới thiệu nội dung từng bức hoành phi, từng đôi câu đối, giải thích xuất xứ, ý nghĩa lịch sử, hoàn cảnh ra đời và giá trị tư tưởng của chúng. Khi hiểu được câu chuyện phía sau mỗi con chữ, người xem sẽ cảm nhận di tích bằng một tâm thế khác, thay vì chỉ dừng lại ở việc ngắm nhìn kiến trúc. Đó cũng là cách nhiều quốc gia châu Á đã thực hiện trong nhiều thập niên qua. Họ không thay đổi văn tự truyền thống để phù hợp với người hiện đại, mà đầu tư cho công tác diễn giải, giáo dục và truyền thông để người hiện đại từng bước hiểu được di sản của chính mình.
Theo thư pháp gia Ngẫu Thư Nguyễn Thanh Tùng, thay vì lựa chọn giải pháp dễ nhất là thay toàn bộ bằng chữ quốc ngữ, các di tích nên đầu tư nhiều hơn cho công tác diễn giải. Mỗi ngôi đình, ngôi đền hay ngôi chùa đều có thể xây dựng một sơ đồ số hóa giới thiệu toàn bộ hệ thống hoành phi, câu đối, bia ký; ghi rõ vị trí từng bức, phiên âm, dịch nghĩa và giải thích ngắn gọn về ý nghĩa lịch sử, văn hóa.
Ông hình dung, khi bước qua cổng một di tích, du khách có thể cầm trên tay một tờ giới thiệu hoặc quét mã QR, hoặc các công cụ thực tế ảo để biết ngay bức đại tự trước mặt mang ý nghĩa gì, câu đối hai bên cột ca ngợi ai, được sáng tác trong hoàn cảnh nào và vì sao lại được đặt ở vị trí ấy. Khi hiểu được nội dung, người xem sẽ không còn coi những dòng chữ chỉ là những ký tự khó đọc, mà sẽ cảm nhận được tinh thần của cả không gian văn hóa.
Bảo tồn không phải chỉ là giữ cho di sản không bị mai một, mất mát theo thời gian mà còn cần phát huy giá trị, đưa di sản bước ra khỏi không gian khép kín, không gian địa lý thuần túy để trở thành một phần của đời sống đương đại. Với các di văn Hán Nôm trong các di tích, điều đó càng trở nên cấp thiết khi khoảng cách giữa người trẻ và văn tự truyền thống ngày càng lớn.
Thực tế, nhiều bảo tàng, di tích trên thế giới đã chuyển từ cách trưng bày hiện vật đơn thuần sang kể câu chuyện của di tích, của hiện vật. Với các di tích cũng vậy, điều công chúng cần không chỉ là bản phiên âm vỏn vẹn vài dòng chữ, mà còn là câu chuyện phía sau từng bức hoành phi, từng đôi câu đối, từng tấm bia đá đã tồn tại hàng trăm năm. Nếu như trước đây, việc dịch nghĩa, phổ biến bằng các hiện vật vật chất đặt tại các di tích là khó khả thi thì hiện nay, với các ứng dụng công nghệ, việc công chúng có thể tiếp cận với các di tích là hoàn toàn có khả năng.
Trong xu thế đó, việc ra đời của những hệ thống số hóa di sản (đơn cử như: https://tracuudi.vn), hay ngân hàng dữ liệu về bảo tồn di tích, việc số hóa các di tích của các địa phương, đặc biệt việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) dịch tự động Hán Nôm (đề tài của PGS.TS Đinh Điền và các cộng sự ở Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia TP HCM) đã và đang mở ra những hướng tiếp cận mới, giúp công chúng có thể tiếp cận gần với khối di sản Hán Nôm đồ sộ và đa dạng của cha ông.
Để mỗi thế hệ khi bước qua cánh cửa di tích không chỉ nhìn thấy một công trình kiến trúc với những cột kèo rêu phong, mà còn cảm nhận được chiều sâu của một nền văn hiến cần đến sự chung tay, hợp lực, hợp sức của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, cá nhân. Nhưng rõ ràng, nếu nặng lòng với vốn văn hóa của dân tộc, cùng sự tiến bộ của khoa học công nghệ sẽ mở ra nhiều giải pháp đột phá.
Một thực tế đáng lo ngại hiện nay là nhiều công trình sau khi được đầu tư hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng để phục dựng kiến trúc truyền thống lại sử dụng hoành phi, câu đối được viết lại bằng phông chữ vi tính hoặc những kiểu chữ cách điệu hiện đại làm mất hẳn kết cấu của thư pháp truyền thống, thậm chí sử dụng sai chữ. Đó là những sai sót tưởng như nhỏ nhưng lại phản ánh “khoảng trống” về chuyên môn trong quá trình tu bổ, tôn tạo di tích.